Đề Xuất 1/2023 # Trẻ Em Nhật Đã Học Ngôn Ngữ “Mẹ Đẻ” Như Thế Nào? # Top 6 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 1/2023 # Trẻ Em Nhật Đã Học Ngôn Ngữ “Mẹ Đẻ” Như Thế Nào? # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Trẻ Em Nhật Đã Học Ngôn Ngữ “Mẹ Đẻ” Như Thế Nào? mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khởi đầu như những đứa trẻ

Trẻ em Nhật Bản cũng bắt đầu từ con số không về ngôn ngữ như bao đứa trẻ khác trên thế giới. Điều khác nhau cơ bản chính là ở việc chúng được tiếp xúc với môi trường bản xứ, xung quanh đều là tiếng Nhật. Đó là điều tiên quyết quyết định cho ngôn ngữ của một đứa trẻ khi mới sinh, không phải ở dòng máu chúng mang, mà là ở môi trường chúng lớn lên trong giai đoạn học nói. Dù là bất cứ đứa trẻ của quốc gia nào, khi được nuôi lớn lên tại Nhật Bản sẽ đều nói tiếng Nhật là ngôn ngữ mẹ đẻ.

Tự tin như cách trẻ đón nhận cuộc sống

Một đặc điểm nữa ở cách để các mẹ thấy rằng con mình hoàn toàn có thể giỏi ngôn ngữ Nhật, vì chúng đều có xuất phát điểm giống nhau. Dù là trẻ em Nhật Bản hay trẻ em ở bất cứ nơi nào trên Trái Đất này thì chúng đều có một tâm hồn trong sáng, tò mò với mọi thứ xung quanh và đặc biệt tự tin. Chúng là những đứa trẻ sẵn sàng bày tỏ quan điểm, sẵn sàng nói mà không sợ sai, không sợ bị cười chê. Đây là một điều cực kỳ quan trọng trong việc luyện kỹ năng nói của một ngôn ngữ.

Sách gắn liền với tuổi thơ của trẻ em Nhật

Trẻ em Nhật được đọc rất nhiều loại sách tiếng Nhật kèm theo tranh ảnh từ rất nhỏ kể cả khi chúng không biết chữ. Việc cho con làm quen mặt chữ, nhớ chữ thông qua hình ảnh là một phương pháp phổ biến, vừa không khô khan, vừa mang lại niềm vui, hứng khởi cho trẻ nhỏ.

Giáo dục Nhật Bản không quên trải nghiệm cho con em họ

Mọi người ắt hẳn nghĩ rằng để học giỏi như trẻ em Nhật Bản ắt hẳn sẽ phải học rất nhiều. Đúng, trẻ em Nhật học rất nhiều, nhưng chúng học rất nhiều qua trải nghiệm thực tiễn. Trẻ em Nhật Bản không bị gánh nắng từ bài vở, chúng không phải tiếp xúc nhiều với giáo trình khô khan, mà thay vào đó là các hoạt động ngoại khóa. Đây chính là thời gian không chỉ cho trẻ học tập thế giới xung quanh mà còn là lúc chúng học tập cách giao tiếp, nói chuyện, thực hành những gì được học trên lớp vào thực tiễn.

Nagomi thấu hiểu tất cả

1/ Vừa học vừa chơi

Thông qua các hoạt động trò chơi giúp các bé tiếp thu tiếng Nhật dễ dàng hơn. Việc tạo sân chơi cho bé vừa học vừa chơi còn mang lại sự yêu thích cho ngôn ngữ thứ hai này, tránh để bé căng thẳng, lo sợ khi tiếp cận một ngôn ngữ khác.

2/ Chú ý thực hành hơn lý thuyết

Giảng viên sẽ dạy bé học qua các hình ảnh, bài hát, trò chơi, các em sẽ được học tiếng Nhật theo phương pháp của người Nhật và giáo án được tinh chỉnh để phù hợp với các bé Việt Nam.

3/ Tập trung nghe – nói trước tiên

Để biết thêm về các khóa học tiếng Nhật trẻ em của trung tâm Nagomi, vui lòng liên hệ qua hotline (84) 0243.834.6336

Cách Dạy Trẻ Em Học Tiếng Anh Như Một Ngôn Ngữ Mới

GIỚI THIỆU

Trẻ em chính là những người tiếp nhận ngôn ngữ tự nhiên nhất; các em tự thôi thúc bản thân cóp nhặt ngôn ngữ; mà không cần chú tâm học như thanh thiếu niên và người lớn. Trẻ em có khả năng bắt chước phát âm và tự tạo ra những nguyên tắc riêng cho mình. Ý kiến cho rằng học tiếng Anh thì khó sẽ không xảy ra ở trẻ em. Trừ khi điều đó được đề xuất bởi những người lớn hơn. Những người học tiếng Anh một cách hàn lâm. Qua những quyển sách giáo khoa chỉ tập trung vào ngữ pháp.

NHỮNG LỢI ÍCH KHI BẮT ĐẦU SỚM

Trẻ có khả năng học ngôn ngữ bẩm sinh để tiếp thu tiếng mẹ đẻ. Và ta có thể tận dụng khả năng này giúp các bé tiếp cận với tiếng Anh.

Trẻ em có thời gian học hỏi thông qua các hoạt động vừa học vừa chơi. Các em học tiếng Anh bằng cách tham gia vào các hoạt động chung với người lớn.

Trẻ em có nhiều thời gian hơn để học tiếng Anh hằng ngày. Các bé hầu như không có bài tập về nhà và ít khi bị áp lực học tập.

Những đứa trẻ có cơ hội học ngôn ngữ thứ hai khi còn nhỏ dường như sẽ sử dụng cùng cách tiếp cận ngôn ngữ bẩm sinh đó khi học các ngôn ngữ khác. Học ngôn ngữ thứ ba, tư, và thậm chí nhiều loại hơn nữa lại dễ hơn học ngôn ngữ hai.

Trẻ em tiếp thu ngôn ngữ thay vì chú tâm học như người lớn thường có phát âm tốt hơn. Và chúng có sự nhạy cảm nhất định với ngôn ngữ và văn hóa. Khi những đứa trẻ nói một ngôn ngữ trải qua tuổi dậy thì và bắt đầu tự ý thức; khả năng học ngôn ngữ của các em sẽ mất dần; và các em cảm thấy phải chú tâm học tiếng Anh bằng chương trình nặng ngữ pháp. Độ tuổi xảy ra những thay đổi này phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển của trẻ nhỏ; cũng như sự kỳ vọng của xã hội.

Ngôn ngữ nói sẽ đến một cách tự nhiên trước ngôn ngữ đọc và viết.

Khi những đứa bé học ngôn ngữ mẹ đẻ, sẽ có một ‘giai đoạn im lặng’. Là khi chúng nhìn, nghe, giao tiếp qua biểu cảm khuôn mặt – cử chỉ trước khi bắt đầu học nói.

Xuyên suốt quá trình này, phụ huynh không nên ép trẻ tham gia vào các cuộc đối thoại; bằng cách buộc trẻ phải lặp lại từ vựng. Người lớn nên đối thoại một chiều; và cho trẻ em cơ hội học ngôn ngữ qua việc nói chuyện với người lớn.

Trẻ em dần dần xây dựng các cụm từ gồm một từ đơn kết hợp với vốn từ vựng của chúng (‘a dog’, ‘a brown dog’, ‘a brown and black dog’); hoặc một từ đơn kết hợp với kiến thức đã có của chúng (‘That’s my chair’, ‘Time to play’). Phù thuộc vào tần suất tiếp cận với tiếng Anh và chất lượng của những trải nghiệm ngôn ngữ; trẻ nhỏ sẽ bắt đầu tự tạo ra một câu hoàn chỉnh.

SỰ HIỂU BIẾT

Việc hiểu luôn quan trọng hơn việc nói và ta không nên coi thường khả năng lĩnh hội của trẻ; vì chúng đã quen với việc hiểu tiếng mẹ đẻ thông qua rất nhiều ngữ cảnh đa dạng. Mặc dù trẻ em có thể không hiểu toàn bộ tiếng mẹ đẻ mà các em nghe được; các em vẫn có thể nắm được ý chính và hiểu được một số từ quan trọng; sau đó giải mã phần còn lại bằng cách sử dụng những gợi ý có trong ngữ cảnh. Nếu được khích lệ, trẻ sẽ nhanh chóng chuyển từ hiểu ‘ý chính’ sang hiểu nghĩa trong tiếng Anh.

SỰ NẢN LÒNG

Sau giai đoạn học tiếng Anh mới lạ lúc đầu, vài trẻ nản lòng. Đó là khi không thể biểu đạt được suy nghĩ của mình bằng tiếng Anh. Một số khác thì muốn nói tiếng Anh thật nhanh như nói tiếng mẹ đẻ.

MẮC LỖI

Không nên nói với trẻ em rằng các bé đã mắc lỗi; vì bất kỳ sự sửa lỗi nào cũng có thể làm các em nản chí. Các sai sót có thể là một phần trong quá trình tìm ra những quy tắc ngữ pháp tiếng Anh. Như lúc học tiếng mẹ đẻ, nếu trẻ có cơ hội nghe người lớn lặp đi lặp lại ngôn ngữ chính xác; thì trẻ em sẽ có khả năng tự sửa lỗi.

SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TÍNH

Não bộ của bé trai phát triển khác so với bé gái và điều này ảnh hưởng đến việc bé trai học và sử dụng ngôn ngữ. Thỉnh thoảng, các lớp học có cả nam lẫn nữ ít tạo điều kiện cho các bé trai – những người hay bị khả năng sử dụng ngôn ngữ của các bé gái làm lu mờ. Nếu các bé trai muốn phát huy tiềm năng, các bé cần có những trải nghiệm ngôn ngữ khác so với các bé gái và cũng không nên so sánh thành tích của bé trai với các bạn nữ đồng trang lứa.

MÔI TRƯỜNG HỌC NGÔN NGỮ

Trẻ nhỏ sẽ cảm thấy khó khăn khi học tiếng Anh nếu chúng không có được những trải nghiệm đúng đắn và được chỉ dẫn bởi những người lớn dạy bằng kỹ thuật “parentese” (phương pháp mà cha mẹ sử dụng những từ đơn giản dưới các hình thức diễn đạt khác nhau, có nhịp điệu giống như đang hát để bé dễ tiếp thu).

Trẻ em cần được cảm thấy an toàn và nhận thức được rằng có những lý do rõ ràng để sử dụng tiếng Anh,

Những hoạt động dạy học cần được liên kết với các hoạt động hằng ngày mà trẻ em đã nắm rõ. Ví dụ như chia sẻ một cuốn sách ảnh bằng tiếng Anh, đọc một đoạn thơ bằng tiếng Anh, ăn một món ăn vặt ‘tiếng Anh’.

Những buổi học tiếng Anh vui nhộn và thú vị thường tập trung vào khái niệm mà các bé đã hiểu rõ bằng tiếng mẹ đẻ. Bằng cách này, trẻ sẽ không phải học cả khái niệm mới lẫn ngôn ngữ mới, mà chỉ học tiếng Anh để nói về những điều các em đã biết. Những hoạt động này được bổ trợ bằng những học cụ thú vị để tăng sự hiểu biết và hứng thú.

Những đứa trẻ đã biết đọc tiếng mẹ đẻ thường muốn tìm hiểu cách đọc tiếng Anh. Trẻ đã biết cách đoán nghĩa của từ trong một đoạn văn viết bằng tiếng mẹ đẻ, và nếu không được ai giúp giải nghĩa từ vựng bằng tiếng Anh thì các em có thể sẽ nói tiếng Anh bằng ngữ điệu của ngôn ngữ mẹ đẻ.

Trước khi có thể giải nghĩa từ vựng tiếng Anh, trẻ em cần phải biết 26 chữ cái và âm của chúng. Tiếng Anh chuẩn có 26 chữ cái và trung bình 44 âm. Tuy nhiên việc giới thiệu những âm còn lại nên để đến khi trẻ em có nhiều kinh nghiệm sử dụng và đọc ngôn ngữ hơn.

Việc bắt đầu đọc tiếng Anh sẽ tiến triển một cách dễ dàng nếu trẻ em có hiểu biết về ngôn ngữ mà các bé đang cố gắng để đọc. Nếu được tiếp cận với những quyển sách ảnh và đoạn thơ, nhiều đứa trẻ tự tìm ra cách đọc tiếng Anh vì các bé có khả năng ghi nhớ ngôn ngữ. Đọc thuộc lòng những thứ trẻ đã biết cũng là một bước quan trọng vì nó cho trẻ em cơ hội để tự giải mã những từ tiếng Anh đơn giản. Một khi trẻ em đã xây dựng cho mình một ngân hàng từ vựng mà các em có thể đọc được, các em sẽ cảm thấy tự tin và sau đó sẵn sàng cho bước tiếp cận bài bản tiếp theo.

SỰ HỖ TRỢ TỪ PHỤ HUYNH

Trẻ em cần cảm thấy rằng bản thân đang tiến bộ. Các bé cần được khích lệ và tán dương liên tục khi có sự thể hiện tốt. Mặc dù phụ huynh chỉ có vốn kiến thức tiếng Anh cơ bản và thực chất cũng đang học hỏi theo con của mình, họ lại chính là những người lý tưởng để động viên và giúp đỡ trẻ.

Bằng cách chia sẻ, các bậc cha mẹ không những đưa ngôn ngữ vào cuộc sống gia đình thường ngày mà còn tác động đến thái độ học ngôn ngữ của trẻ. Người ta cho rằng thái độ lâu dài được hình thành ở độ tuổi 8 hoặc 9.

Lược dịch từ Learn English Kids bởi Ái Thi.

Ngành Ngôn Ngữ Nhật

Nền tảng

Định hướng + Rèn luyện tập trung

Phương pháp học Đại học hiệu quả

Vovinam

01-05 Level tiếng Anh

Học kỳ tiếng Anh tại nước ngoài

Sinh viên có phương pháp học Đại học hiệu quả như: tự học, làm việc nhóm, quản lý thời gian, tối ưu hoá năng lực não bộ cải thiện kết quả học tập.

Sinh viên đạt trình độ tiếng Anh tương đương IELTS 6.0 hoặc TOEFL iBT 80.

Sinh viên tự tin đọc hiểu giáo trình, học tập hoàn toàn bằng tiếng Anh, giao tiếp thông thạo với giảng viên và sinh viên quốc tế.

Sinh viên có tinh thần rèn luyện thể chất, phát triển cá nhân toàn diện.

Học kỳ 1

Kĩ năng học tập ở Đại học

Tiếng Nhật sơ cấp 1

Tiếng Nhật sơ cấp 2

Vovinam 2

Sinh viên được trang bị phương pháp học đại học hiệu quả.

Sinh viên làm quen với chữ cái (chữ cứng, chữ mềm), mẫu câu, chữ Hán cơ bản của tiếng Nhật. Sinh viên có thể đọc, viết những câu tiếng Nhật ở mức độ cơ bản; và có thể chào hỏi, giao tiếp trong một số tình huống hội thoại hàng ngày.

Sinh viên tăng lượng từ vựng để có thể đọc, viết, giao tiếp ở nhiều tình huống hơn trong cuộc sống hàng ngày. Sinh viên sẽ đạt trình độ tương đương trên N5.

Học kỳ 2

Tiếng Nhật sơ trung cấp 1

Tiếng Nhật sơ trung cấp 2

Kỹ năng giao tiếp và cộng tác

Vovinam 3

Sinh viên có thể viết những câu tương đối dài và phức tạp, thể hiện nhiều ý phong phú và màu sắc hơn đồng thời có thêm nhiều lựa chọn hơn trong hoạt động giao tiếp hàng ngày. Sinh viên sẽ đạt trình độ tương đương N4.

Sinh viên có biết cách diễn đạt đa dạng, dài và phức tạp tiếng Nhật hơn, có thể đọc, viết những câu khá dài và phức tạp, thể hiện một nội dung có chủ ý, diễn đạt suy nghĩ của bản thân ở mức độ phức tạp hơn nữa, đạt trình độ tương đương gần nửa N3.

Sinh viên được trang bị kỹ năng làm việc nhóm, bao gồm cả cách làm việc, triển khai, trao đổi các chiến lược và giao tiếp trong nhóm hiệu quả.

Học kỳ 3

Tiếng Nhật trung cấp 1

Tiếng Nhật trung cấp 2

Ngữ âm học

Sinh viên được học về cách thể hiện tiếng Nhật trong văn phong trang trọng, lịch sự. Sinh viên có thể đọc, viết, giao tiếp ở mức độ các câu nói dài và phức tạp hơn, đạt trình độ nửa N3.

Sinh viên hiểu được những đặc điểm về âm (nhịp, phách…) và những lưu ý khi phát âm để từ đó chỉnh sửa phát âm của bản thân.

Học kỳ 4

Tiếng Nhật trung cấp 3

Tiếng Nhật trung cấp 4

Dẫn luận ngôn ngữ

Sinh viên tiếp tục được cung cấp kiến thức nâng cao về tiếng Nhật – tiếng Nhật Trung cấp, đạt trình độ trên N3, gần nửa N2.

Sinh viên hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, giữa ngôn ngữ và tư duy; cung cấp những tri thức chung về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ dụng để hiểu một ngôn ngữ cụ thể và làm cơ sở để đối chiếu các ngôn ngữ khác nhau.

Học kỳ 5

Phiên dịch 1

Biên dịch 1

Ngữ pháp và từ vựng tiếng Nhật

Văn hóa – văn học Nhật Bản

Khởi sự doanh nghiệp

Sinh viên nắm vững kiến thức về hoạt động phiên dịch, những khái niệm, hình thức phiên dịch chính cũng như một số lưu ý về đạo đức, kỹ năng cần thiết khi tiến hành hoạt động phiên dịch tiếng Nhật (dịch xuôi, dịch ngược).

Sinh viên được học về các hình thức biên dịch cũng như một số lưu ý về đạo đức, kỹ năng cần thiết khi tiến hành hoạt động phiên dịch tiếng Nhật (dịch xuôi, dịch ngược).

Sinh viên hiểu sâu hơn về cấu trúc, đặc điểm ngữ pháp của tiếng Nhật, nắm được lượng từ chuyên môn về ngữ pháp. Đồng thời, sinh viên nắm được các kiến thức cơ bản về các loại từ, mối quan hệ của từ vựng với xã hội và sự thay đổi của nó … từ đó trang bị thêm được kiến thức để nâng cao vốn từ vựng.

Sinh viên có những kiến thức khái quát về đất nước Nhật Bản (địa lý, khí hậu, văn hóa, lễ hội…), lịch sử văn học thể hiện cụ thể ở các thời kỳ văn học Nhật Bản và các tác giả nổi tiếng để giúp sinh viên hiểu sâu hơn về đất nước này, một số kiến thức cần thiết để sinh viên có thể sang Nhật Bản du học và sinh sống.

Sinh viên thực hiện và sở hữu đồ án/ứng dụng/mô hình kinh doanh dịch vụ của riêng mình.

Học kỳ 6

Thực tập làm việc thực tế tại doanh nghiệp

Sinh viên làm việc thực tế từ 4 – 8 tháng tại các công ty thành viên thuộc tập đoàn FPT hoặc hơn 300 doanh nghiệp là đối tác của tập đoàn FPT trên toàn thế giới.

Học kỳ 7

Phiên dịch 2

Biên dịch 2

Môn chuyên ngành tự chọn 1

Môn chuyên ngành tự chọn 2

Luyện thi năng lực tiếng Nhật (JLPT)

Với nền tảng những kiến thức đã học, môn học sẽ vừa ôn luyện, củng cố lại kiến thức cũ (N3) vừa giới thiệu những kiến thức mới (N2), đồng thời cung cấp tới người học những chú ý, kỹ năng cần thiết để giúp người học đạt được thành tích cao trong kỳ thi JLPT N2.

Học kỳ 8

Kĩ năng viết bài nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Môn chuyên ngành tự chọn 3

Môn chuyên ngành tự chọn 4

Sinh viên được trang bị một số phương pháp nghiên cứu hữu ích, điểm mạnh và điểm yếu của các phương pháp luận, các thức thiết kế và thực hiện dự án nghiên cứu để sinh viên có thể tự thực hiện các dự án nghiên cứu sau này.

Học kỳ 9

Khóa luận tốt nghiệp

Môn chuyên ngành tự chọn 5

Sinh viên tự tin làm việc tại hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Sinh viên có trình độ Nhật ngữ N2, tự tin làm việc tại Nhật Bản và các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam

Tiếng Latin Đã Trở Thành Một Ngôn Ngữ “Chết” Như Thế Nào?

Khi đế chế La Mã trở nên thịnh vượng, tiếng Latin trở thành thứ ngôn ngữ phủ khắp mọi nẻo đường. Thời đó, nó được coi là vua của mọi thứ tiếng, là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong giao tiếp quốc tế, trong văn bản học thuật và nghiên cứu khoa học.

Với vị thế như vậy, có lẽ người xưa chẳng bao giờ nghĩ rằng có một ngày Latin lại trở thành thứ ngôn ngữ… đã chết như bây giờ. Vậy, chuyện gì đã xảy ra?

Thế nào là một ngôn ngữ “chết”?

Đầu tiên, chúng ta cần phải biết một chút về định nghĩa “ngôn ngữ chết”. Đó là loại ngôn ngữ vẫn còn được sử dụng trong một số ngữ cảnh đặc biệt, nhưng không còn người bản địa nào nói tiếng đó nữa.

Trên phương diện lịch sử, tiếng Latin không biến mất, mà trở thành nguồn gốc của tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ý và đương nhiên là tiếng Rumani. Tất cả những ngôn ngữ đó đều được gọi là nhóm tiếng Roman.

Ngoài ra, nhiều ngôn ngữ khác cũng được xây dựng trên ảnh hưởng của Latin – trong đó có tiếng Anh.

Cả 5 thứ tiếng trên đều có những điểm chung chặt chẽ về ngữ pháp, chia thì, cùng sự phức tạp giống với tiếng Latin. Lý do đơn giản là vì cả 5 đều phát triển từ lãnh thổ phía Tây của đế chế La Mã.

Khi đế chế này sụp đổ, tiếng Latin cũng “chết” theo, kèm theo là sự khai sinh của rất nhiều ngôn ngữ khác như chúng ta đã nói ở trên.

Có thể “vẫn sống”, nhưng… thoi thóp – đó là tiếng Latin

Một lý do khác mà ít ai còn sử dụng tiếng Latin là vì nó quá phức tạp. Gần như mỗi từ đều được xây dựng dựa trên tình huống, nhấn âm, phương diện, con người, con số, giới tính và tâm trạng.

Do không có sự hệ thống chính thức và sự khuyến khích sử dụng từ những người có quyền lực nên tiếng Latin dần phai mờ đi trong cuộc sống hằng ngày.

Bên cạnh tiếng Latin cổ điển, chúng ta còn có một phiên bản đơn giản hơn của nó gọi là Vulgar Latin. Phiên bản này tồn tại được một thời gian, nhưng sau đó cũng bị đa dạng hóa bởi ngày càng nhiều ngôn ngữ địa phương xuất hiện.

Vào khoảng cuối thế kỉ thứ 6, người dân đến từ những phần khác nhau của kinh đô cũ đã không còn có thể hiểu nhau nói gì nữa.

Và đó cũng là thời điểm người ta xem như tiếng Latin đã chết.

Nhưng không phải vì vậy mà tiếng Latin hoàn toàn “mất tích”. Do sự phổ biến và sức ảnh hưởng quá lớn của tiếng Latin trong văn học phương Tây, trong y học và khoa học, hiện nay nó vẫn thường được dùng trong các thuật ngữ phân loại loài động – thực vật, thuật ngữ y học và kĩ thuật.

Tóm lại, tuy là một ngôn ngữ “chết”, nhưng hẳn là Latin sẽ không bao giờ biến mất trên bản đồ ngôn ngữ thế giới.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Trẻ Em Nhật Đã Học Ngôn Ngữ “Mẹ Đẻ” Như Thế Nào? trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!