Top 11 # Xem Nhiều Nhất Xem Tiết Dạy Mẫu Tiếng Việt Lớp 1 Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

Tiết Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục Lớp 1

Ngày 17 tháng 10 năm 2018 dưới sự chỉ đạo của BGH trường tiểu học Đức Dũng, huyện Đức Thọ tổ chức dạy chuyên đề môn TV CNGD lớp 1.

Về dự tiết chuyên đề có thầy giáo Đào Hữu Tình hiệu trưởng nhà trường; cô giáo Trần Thị Thùy Lê phó HT nhà trường, cùng tất cả các thầy giáo, cô giáo trong trường về tham dự.

Trong buổi chuyên đề thay mặt cho giáo viên dạy lớp 1, cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hải đã thể hiện 2 việc của bài: Âm /ô/.

Thông qua bài dạy của cô giáo, các đồng nghiệp được nắm sâu hơn về quy trình 4 việc. Có thể nói, dạy học theo chương trình này giáo viên với vai trò là người hướng dẫn, còn học sinh là người kiến thiết tạo nên bài học. Các em vừa được học, vừa được hoạt động nên tạo được sự hứng thú trong giờ học. Qua các hoạt động, giúp học sinh nắm bắt quy luật nhanh, chất lượng học TV của các em tốt hơn so với phương pháp học trước đây.

Với quan điểm giúp học sinh được học và học thông qua hệ thống việc làm. Bằng cách này, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, HS tự tạo ra “sản phẩm” học tập của mình để chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện kĩ năng. Đây chính là nền tảng để khi các em lên lớp 2 có phương pháp học tập tốt hơn, có kĩ năng đọc thông, viết thạo.

Kết thúc buổi chuyên đề thầy HT đã ghi nhận, đánh giá cao về kết quả tiết dạy và biểu dương kết quả thực hiện môn TV1 CGD của trường. Trong những năm qua, với sự chỉ đạo quyết liệt của BGH nhà trường, sự quyết tâm cao của các đồng chí GV dạy lớp 1 nên trường luôn đạt được kết quả như mong muốn.

Một số hình ảnh của tiết dạy

Tác giả: Phan Thị Thắm

Dạy Học Mẫu Âm Trong Chương Trình Tiêng Việt Lớp 1

Trong những năm gần đây, Hà Tĩnh đã triển khai dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục ở tất cả các trường Tiểu học trên toàn tỉnh. Việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình công nghệ mới đã đem lại nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện chương trình đa số giáo viên cho rằng, vẫn còn một số khó khăn, bất cập. Việc trang bị cho sinh viên ngành Sư Phạm Tiểu học một phương pháp dạy học mới ngay trên ghế nhà trường, giúp các em vững vàng, tránh những bỡ ngỡ và giảng dạy tốt sau khi ra trường là việc làm có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Hà Tĩnh nói chung và Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non nói riêng.

(Từ khóa: Công nghệ giáo dục, chương trình, phương pháp dạy học, Tiếng Việt lớp 1, tiểu học).

Để thực hiên tốt chương trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD ở bậc Tiểu học trên toàn tỉnh. Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường lựa chọn giáo viên nhiệt tình, tâm huyết, có trách nhiệm để dạy lớp 1. Toàn bộ giáo viên trực tiếp đứng lớp đã được tập huấn nội dung và phương pháp dạy học theo tài liệu Tiếng Việt lớp 1 – CGD trước khi triển khai thực hiện chương trình. Việc dạy môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình công nghệ mới đã đem lại nhiều kết quả khả quan.

Theo đánh giá của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh, việc học tiếng Việt lớp 1 – CGD không chỉ giúp HS nắm chắc tri thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng nghe – nói – đọc – viết một cách vững chắc mà HS còn luôn được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin. Thông qua việc làm, các thao tác học, các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình. Đồng thời quá trình dạy học theo phương pháp Công nghệ giáo dục không chỉ giúp giáo viên nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm mà cách tổ chức dạy học theo quy trình công nghệ còn giúp giáo viên đổi mới phương pháp một cách triệt để. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện chương trình đa số giáo viên cho rằng, vẫn còn một số khó khăn, bất cập. Ví dụ: Chương trình chưa dành nhiều thời gian luyện kỹ năng nói cho học sinh. Sách thiết kế không soạn mục tiêu của tiết dạy nên khi giảng dạy giáo viên phải tự xác định mục tiêu của bài giảng. Bên cạnh đó, một số thông tin trong tài liệu không đồng nhất. Nội dung kiến thức ở một số bài còn nặng so với nhận thức của học sinh… Đối với học sinh có năng lực kém, các em rất vất vả, khó khăn trong việc theo kịp các bạn trong lớp cũng như bảo đảm nội dung bài học.

Việc nắm bắt được những nội dung cơ bản về dạy học CGD cũng như những ưu điểm và hạn chế trong việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD là việc làm cần thiết đối với giáo viên tiểu học và đặc biệt có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sinh viên đang theo học ngành Sư phạm tiểu học ở trường Đại học Hà Tĩnh. Từ ý nghĩa thiết thực đó, trong phạm vi bài viết này chúng tôi trình bày về cách dạy Mẫu Âm trong môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Về lí luận

CGD coi giáo dục là một quá trình sản xuất đặc biệt. Quá trình dạy học là quá trình làm ra sản phẩm là khái niệm khoa học. Người học – học sinh – là chủ thể của quá trình, tự làm nên sản phẩm do thầy giáo tổ chức hướng dẫn thông qua mối quan hệ phân công hiệp tác trong “dây chuyền công nghệ”: Thầy thiết kế – Trò thi công.

Bản chất của CGD là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằng một Quy trình kỹ thuật được xử lý bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm.Bản chất việc dạy Tiếng Việt lớp 1 – CGD cho học sinh là dạy cho học sinh hệ thống khái niệm của một môn khoa học nhằm giúp các em chiếm lĩnh được tri thức ngữ âm cơ bản và hình thành các kĩ năng Nghe- Nói- Đọc- Viết tương ứng. Lần đầu tiên học sinh biết tiếng là một khối âm thanh toàn vẹn như một “khối liền” được tách ra từ lời nói. Tiếp đó, bằng phát âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếng khác nhau hoàn toàn. Sau đó, các em phân biệt các tiếng khác nhau một phần. Đến đây, tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: phần đầu, phần vần, thanh. Trên cơ sở đó, các em biết đánh vần một tiếng theo cơ chế hai bước. Học sinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị (gọi tắt là âm). Qua phát âm, các em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ tự của bảng chữ cái TiếngViệt. Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng kí hiệu để ghi lại. Như vậy, con đường chiếm lĩnh đối tượng của CGD đi từ âm đến chữ.1.2. Nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt 1 – CGD

CGD được xây dựng từ 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối thiểu. Ba nguyên tắc này xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống Bài học Tiếng Việt1-CGD.

– Nguyên tắc phát triển: đòi hỏi mỗi sản phẩm của thời điểm trước(của một tiết học hay một bài học) đều có mặt trong sản phẩm tiếp sau. Vì thế mà các Bài học trong chương trình Tiếng Việt 1- CGD được xây dựng trên một trật tự tuyến tính lôgic, khoa học: Tiếng, Âm, Vần, Nguyên âm đôi.

– Nguyên tắc chuẩn mực: được thể hiện ở tính chính xác của các khái niệm khoa học, tính chuẩn mực trong cách lựa chọn thuật ngữ để định hướng và tổ chức quá trình phát triển của học sinh.

– Nguyên tắc tối thiểu: yêu cầu việc xác định và lựa chọn một số chất liệu tối thiểu và một số vật liệu tối thiểu cho chất liệu đó nhằm đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh lớp1.1.3. Phương pháp dạy học

Quy trình Công nghệ bao gồm hai công đoạn là công đoạn Lập mẫu và công đoạn Dùng mẫu. Lập mẫu là quá trình Thầy tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh khái niệm trên một vật liệu xác định. Dùng mẫu là luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với công đoạn Lập mẫu. Để thực hiện quy trình này, thầy phải sử dụng phương pháp Mẫu. Thầy phải xuất phát từ Mẫu, phân tích Mẫu và vận dụng Mẫu. Mỗi mẫu cơ bản trên tương ứng với quy trình của một tiết Lập mẫu. Dựa trên quy trình của tiết Lập mẫu đó có thể xây dưng nhiều tiết dùng mẫu.

Bên cạnh phương pháp Mẫu còn phải kể đến một phương pháp đặc trưng xuyên suốt quá trình dạy học theo quy trình công nghệ – phương pháp Việc Làm. Đây là phương pháp dạy học hoàn toàn mới, xây dựng trên cơ sở sự hợp tác mới giữa Thầy và Trò. Trong đó, Thầy tổ chức việc học của học sinh (Thầy không giảng, chỉ giao việc, hướng dẫn, theo dõi, điều chỉnh) thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy. Điều này thể hiện rất rõ qua toàn bộ thiết kế TV1-CGD.

Ngoài ra, công nghệ giáo dục cũng dung nạp một số phương pháp truyền thống như: Nêu vấn đề, trực quan, vấn đáp… coi đó như những hình thức, thủ pháp dạy học nằm trong hệ thống của mình.

1.4. Tổ chức nhận xét, đánh giá sản phẩm giáo dục

CGD nhấn mạnh vấn đề đánh giá sản phẩm giáo dục thông qua hoạt động của HS, đánh giá dựa trên quá trình chứ không phải đánh giá dựa vào kết quả tại một thời điểm. Việc dánh giá không chỉ dừng ở phương diện kiến thức, kĩ năng mà còn xem xét ở góc độ ý thức học tập và phương pháp học tập. Học môn Tiếng Việt 1 – CGD, học sinh không chỉ ý thức được các hoạt động của chủ thể mà còn tự kiểm soát được quá trình hình thành tri thức. Học sinh không chỉ có thói quen làm việc độc lập mà còn hình thành một phương pháp tự học, tự mình chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động của chính bản thân. Để đánh giá học sinh, CGD không chỉ nhìn nhận trong cả quá trình mà còn so sánh đối chiếu với chính cá thể đó ở các thời điểm khác nhau. Sự tiến bộ của một HS phải được so sánh với chính bản thân học sinh trong cùng một hoạt động.

Có 4 mức độ đánh giá đối với quá trình chiếm lĩnh đối tượng học sinh: 1. làm được; 2. làm đúng; 3. làm đẹp; 4. làm nhanh.

(Mức 1, 2 là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt cho 100% học sinh. Mức 3, 4 thể hiện sự phân hóa học sinh rõ nét trong quá trình dạy học).

2. DẠY MẪU ÂM TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1 -CGD

Để dạy tốt mẫu Âm trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD (gồm 40 bài), trước hết giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung, chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD nói chung cũng như mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học mẫu Âm của từng bài dạy nói riêng.

Biết được đối tượng chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD là cấu trúc ngữ âm của Tiếng Việt. Đông thời nắm được dạy Tiếng Việt lớp 1- CGD là dạy theo thiết kế bài học chuyển từ năm bước lên lớp truyền thống sang bốn việc. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự giác học tập, chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện kỹ năng.

Bên cạnh đó, giáo viên cần phải nắm chắc hai phương pháp dạy chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD.

2.1. Mục tiêu chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD

Học xong chương trình Tiếng Việt lớp 1 – CGD học sinh đạt được các mục đích sau:

– Học sinh đọc thông, viết thạo, không tái mù.

– Học sinh nắm chắc luật chính tả.

– Học sinh nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt.

2.2. Đối tượng chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD

Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp1 – CGD chính là cấu trúc ngữ âm của tiếng Việt bao gồm:

– Tiếng

– Âm và chữ

– Vần

2.3. Nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 – CGD

Gồm 4 bài: Bài 1: Tiếng; Bài 2: Âm; Bài 3: Vần; Bài 4: Nguyên âm đôi.

Trong đó, mẫu Âm có 40 bài (34 bài về âm, 06 bài về luật chính tả).

2.4. Phương pháp dạy chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD

– Phương pháp mẫu:

+ Lập mẫu, sử dụng mẫu.

Phương pháp lập mẫu rất quan trọng nó thể hiện sự thành công hay thất bại của cả bài, thể hiện cách làm giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới. Vì vậy, phải làm đúng quy trình bốn việc. Thực thi chuẩn xác từng thao tác, không bỏ qua thao tác, không bỏ qua việc làm nào. Dạy hết việc một sang việc hai, hết việc hai sang việc ba, hết việc ba mới sang việc bốn. Dạy đâu chắc đó rồi mới chuyển sang công đoạn dùng mẫu. Việc dùng mẫu củng cố vững chắc hơn chất liệu đã có.

+ Làm mẫu, tổ chức học sinh làm theo mẫu đã có.

– Phương pháp làm việc:

+ Tổ chức việc học của trẻ em thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy.

2.5. Mẫu Âm 1.5.1. Mục tiêu

– HS nắm chắc 38 âm vị của Tiếng Việt cũng như cách viết của các âm vị này.

– Biết phân biệt nguyên âm, phụ âm qua phát âm dựa vào luồng hơi bị cản hay luồng hơi đi ra tự do.

– Biết ghép phụ âm với nguyên âm tạo thành tiếng. Sau đó, thêm thanh để được tiếng mới.

– Biết phân tích tiếng thanh ngang thành 2 phần: phần đầu và phần vần, phân tích tiếng có dấu thanh thành tiếng thanh ngang và dấu thanh (cơ chế tách đôi).

– Đọc trơn, rõ ràng đoạn văn có độ dài 20 tiếng. Tốc độ đọc tối thiểu là 10 tiếng / phút.

– Nghe viết chính tả được tất cả các tiếng có vần chỉ có âm chính. Viết đúng kiểu chữ thường cỡ vừa. Tốc độ tối thiểu là 3 phút/ một tiếng.

– Nắm chắc cấu tạo của tiếng gồm 3 bộ phận cấu thành: Thanh, âm đầu, vần (vần chỉ có âm chính).

– Nắm chắc luật chính tả e,ê,i.

2.5.2. Quy trình

Bài: Âm (gồm hai công đoạn)

a) Công đoạn 1: Lập mẫu (Mẫu /ba/ – Phân biệt nguyên âm/ phụ âm)

Mục đích, yêu cầu: Làm theo đúng Quy trình 4 việc, thực thi chuẩn xác từng thao tác, làm ra sản phẩm chuẩn xác, xứng đáng là mẫu chuẩn mực cho tất cả các tiết học của bài.

b) Công đoạn 2: Dùng mẫu (Áp dụng cho tất cả các bài còn lại của mẫu Âm). Quy trình giống tiết lập mẫu, tuy nhiên cần chú ý:

Mục đích của tiết dùng mẫu là:

– Vận dụng quy trình từ tiết lập mẫu.

– Luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết lập mẫu.

Yêu cầu giáo viên trong tiết dùng mẫu:

– Nắm chắc quy trình từ tiết lập mẫu.

– Chủ động linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao cho phù hợp với học sinh lớp mình.

3. Minh hoạ tiết dùng mẫu: Tuần 3 (tiết7,8) ÂM /E/

Mục đích: HS phát âm tiếng chứa âm mới, nhận ra âm mới là nguyên âm hay phụ âm, vẽ được mô hình phân tích tiếng có âm mới.

1.1. Giới thiệu âm mới

– GV phát âm tiếng mẫu: /đe/

– Yêu cầu HS phát âm lại: /đe/ (đồng thanh, nhóm, cá nhân)

1.2. Phân tích tiếng

– GV yêu cầu HS phân tích tiếng /đe/ (kết hợp vỗ tay) để biết phần đầu là âm /đ/ và phần vần là âm / e/.

– GV hỏi: Tiếng / đe / có âm nào đã học? Âm nào chưa học?

– HS trả lời: Âm /đ/ đã học, âm /e/ chưa học.

– GV phát âm mẫu: /e/

– GV cho HS phát âm lại âm /e/, nhận xét khi phát âm âm /e/, luồng hơi bị cản hay luồng hơi đi ra tự do?

– HS nhận xét luồng hơi đi ra tự do.

– GV yêu cầu HS kết luận âm /e/ là nguyên âm hayphụ âm?

– Cho HS nhắc lại: /e/ là nguyên âm (Đồng thanh, nhóm, cá nhân)

1.3. Vẽ mô hình

– GV yêu cầu HS vẽ mô hình hai phần tiếng /đe/ trên bảng con. Chỉ tay vào mô hình đọc, phân tích.

– GV vẽ ở bảng lớp

– GV yêu cầu HS viết âm /đ/ vào phần đầu của mô hình và nhắc lại /đ/ là phụ âm.

– GV nói: Phần vần ở mô hình là âm /e/, ta chưa biết chữ, tạm thời để trống, ta vào việc 2.

Việc 2: Học viết chữ ghi âm /e/

Mục đích: HS nắm được cấu tạo chữ e in thường và chữ e viết thường. HS nắm được quy trình và viết được chữ e viết thường cỡ vừa, viết được các tiếng có âm /e/.

2.1. Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ in thường.

– GV giới thiệu chữ in thường. (Dùng chữ mẫu hoặc viết mẫu lên bảng, mô tả cấu tạo chữ để HS nhận biết khi đọc bài.)

2.2. Hướng dẫn viết chữ e viết thường.

– GV đưa chữa mẫu, mô tả về độ cao, độ rộng. Sau đó GV vừa viết mẫu vừa hướng dẫn điểm đặt bút, lia bút, chuyển hướng bút, điểm kết thúc.

– HS luyện viết vào bảng con chữ “e” viết thường.

2.3. Viết tiếng có âm vừa học

– GV yêu cầu HS đưa tiếng /đe/ vào mô hình, thay các phụ âm đầu d, ch, c, b để tạo tiếng mới mỗi lần thay đều phân tích kết hợp với tay. (HS ghi vào bảng con)

– GV yêu cầu HS thay dấu thanh vào tiếng /đe/ tạo tiếng mới mỗi lần thay đều phân tích kết hợp với tay. (HS ghi vào bảng con)

* GV hương dẫn học sinh các nét nối và vị trí đánh dấu thanh của tiếng.

2.4. Hướng dẫn HS viết vở “Em tập viết – CGD lớp 1”, tập một

Bước 1: Hướng dẫn HS viết bảng con chữ: bé, da dẻ.

Bước 2: HS visết vở ” Em tập viết – CGD lớp 1″, tập một

– GV hướng dẫn cách tô chữ và khoảng cách giữa các chữ theo điểm chấm tọa độ trong vở, nét nối giữa các con chữ b,e, khoảng cách giữa các tiếng trong một từ ” da dẻ”.

– GV kiểm soát quá trình viết của học sinh và chấm bài.

Mục đích: HS đọc trôi chảy từ mô hình tiếng đến âm, tiếng từ, câu trong bài.

3.1 Đọc chữ trên bảng lớp

– Phần này giáo viên linh động chọn âm, tiếng luyện tùy vào đối tượng trong lớp mình.

– Đọc từ dễ đến khó, từ tiếng có thanh ngang đến các tiếng có dấu thanh (đe,đè, đé, đẻ, đẽ, đẹ), rồi đến (bè, dẻ , chè).

3.2. Đọc trong sách giáo khoa “Tiếng Việt – CGD lớp 1”, tập 1.(Đọc từ trên xuống, từ trái sang phải).

* Chú ý: sử dụng nhiều hình thức đọc (nhóm, cá nhân, cả lớp), các mức độ đọc ( T- N- N- T)

HS viết đúng chính tả các chữ ghi tiếng chè,be bé, e dè …

4.1. Viết bảng con/ viết nháp

– GV đọc cho HS nghe viết từng tiếng vào bảng con hoặc nháp.

– HS phát âm lại, phân tích rồi viết trên bảng con, viết xong lại đọc lại.

4.2. Viết vào vở chính tả. GV thực hiên đúng theo quy trình mẫu:

+ Bước 1: Phát âm lại( đồng thanh).

+ Bước 2: Phân tích( bằng thao tác tay).

+ Bước 3: Viết.

+ Bước 4: Đọc lại.

3. KẾT LUẬN

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn tại các trường tiểu học trên địa bàn Hà Tĩnh, nắm bắt được những thuận lợi, khó khăn và kết quả đạt được của giáo viên khi dạy học môn Tiếng Việt lớp 1- CGD. Chúng tôi đã đi vào phân tích về cách dạy Mẫu Âm trong môn Tiếng Việt lớp 1 -CGD nhằm trang bị cho sinh viên ngành Sư Phạm Tiểu học một phương pháp dạy học mới ngay trên ghế nhà trường, giúp các em vững vàng, tránh những bỡ ngỡ và giảng dạy tốt sau khi ra trường. Thiết nghĩ, đây là việc làm cần thiết và ý nghĩa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Hà tĩnh nói chung và Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non nói riêng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Hồ Ngọc Đại (2015), SGK Tiếng Việt lớp 1 – CGD, tập 1,2,3, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

[2]. Hồ Ngọc Đại (2015), STK Tiếng Việt lớp 1 – CGD, tập 1,2,3, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

[3]. Tài liệu tập huấn “Chuyên đề Giáo dục công nghệ môn Tiếng Việt lớp 1”.

Tiết Thao Giảng Tiếng Việt 1

Thực hiện nghiêm túc kế hoạch chỉ đạo của chuyên môn trường, kế hoạch tổ 1, trường Tiểu học Xuân Viên đã xây dựng từ đầu năm, cá thành viên trong tổ thực hiện nghiêm túc mọi hoạt động chuyên môn theo kế hoạch cá nhân đã đăng kí. Sáng ngày 25/09/ 2019, đồng chí Nguyễn Thị Thúy Lan đã tiến hành thao giảng tiết TV1 – CGD, bài Âm/đ/ tại lớp 1C. Các giáo viên trong tổ đã đến dự giờ và đã trao đổi rút kinh nghiệm trong dạy học TV1-CGD.

Tuy mới vào đầu năm học nhưng đồng chí Lan đã tạo được nề nếp và không khí học tập của học sinh rất tốt. Vào dự giờ chúng tôi cứ ngỡ như là đang dự một tiết dạy học vào thời điểm giữa năm học. Học sinh ngồi học nghiêm túc, biết làm việc độc lập cũng như hợp tác trong nhóm. Các động hình, động lệnh học sinh sử dụng rất thành thạo. Đặc biệt không khí lớp học vui vẻ, sôi nổi nhưng không kém phần nghiêm túc. Những cánh tay giơ phát biểu đồng đều, những âm thanh vang vang đọc bài tạo cho chúng tôi cảm giác yên tâm. Sự ân cần, linh hoạt của đồng chí Lan giúp cho học sinh tự tin, mạnh dạn và học tập có chất lượng hơn.

Tiết dạy diễn ra theo việc như sau

– Chúng ta đang học Mẫu /ba/

– Hôm qua chúng ta đã thay /b/ bằng /d/. GV cho HS vẽ mô hình tiếng /da/

– HS đọc và phân tich stieengs /da/

– GV giơi thiệu: Hôm nay chúng ta thay âm /d/ bằng một âm mới

Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm

1. Giới thiệu âm mới

– GV đưa ra tiếng chứa âm mới /đa/ và yêu cầu HS phát âm lại theo 4 mức độ to, nhỏ, nhẩm, thầm.

2. Phân tích tiếng

– GV yêu cầu HS phân tích tiếng mới “đa” (kết hợp vỗ tay) để biết phần đầu là âm gì và phần vần là âm gì? Âm nào đã học, âm nào chưa học

– GV phát âm âm mới /đ/

– Cho HS phát âm lại âm mới, nhận xét luồng hơi đi ra như thế nào để phân biệt /đ/ nguyên âm hay phụ âm

– HS nhận xét luồng hơi đi ra bị cản lại (Là Phụ âm)

– Cho HS nhắc lại: âm “đ’ là phụ âm theo 4 mức độ độ to, nhỏ, nhẩm, thầm.

– GV tổ chức cho HS nhóm 2 hỏi- đáp để ôn lại

– GV vẽ và yêu cầu HS vẽ mô hình hai phần tiếng “đa”, y/c HS viết chữ a đã biết vào mô hình

– GV yêu cầu HS viết âm mới vào mô hình

– HS chỉ tay vào phần vần để trống đọc lại âm mới.

Việc 2: Học viết chữ ghi âm /đ/

1. Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ in thường.

GV giới thiệu chữ in thường (so sánh với chữ d, dùng chữ mẫu đính lên bảng, mô tả cấu tạo chữ, viết mẫu lên bảng để HS nhận biết khi đọc bài.)

2. Hướng dẫn viết chữ viết thường.

– GV đưa ra chữ mẫu, hướng dẫn điểm chấm điểm tọa độ và quy trình viết.

– GV cho HS sánh với chữ “d” đã học

– HS luyện viết vào bảng con chữ “đ” viết thường.

3. Viết tiếng có âm vừa học.

4. Hướng dẫn viết vở Em tập viết.

– GV hướng dẫn cách tô chữ đ và khoảng cách giữa các chữ theo điểm chấm tọa độ trong vở, nét nối giữa các con chữ, khoảng cách giữa các tiếng trong một từ

– GV kiểm soát quá trình viết của học sinh và đánh giá bài.

Kết thúc tiết học, trên nét mặt cô trò lộ rõ sự phấn khởi, rạng rỡ. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, vui vẻ, em nào cũng bi ba bi bô đọc lại bài vừa học, em nào cũng đọc to, rõ ràng, viết vào vở thật đẹp chữ mình vừa học.

Cuối cùng tổ chúng tôi đã đánh giá tiết dạy tốt, ngoài cung cấp cho các em kiến thức, cô Lan đã truyền cho các em sự hào hứng, sự say mê, làm việc tác phong công nghệ. Đó chính là hiệu quả cao nhất mà đồng chí Lan đã thành công! Tôi hy vọng, mỗi một giáo viên trong tổ luôn nổ lực, cố gắng để có nhiều tiết dạy hơn thế nữa!

Một số hình ảnh về tiết dạy

Bài và ảnh: Lê Thị Mai – GV trường TH Xuân Viên

Phan Thị Thu Hường @ 22:14 29/09/2019 Số lượt xem: 329

Ôn Tập Giữa Học Kì 1 Tiếng Việt Lớp 4: Tiết 2

Giải bài tập SGK Tiếng Việt 4 trang 96, 97

Tiếng Việt lớp 4 ôn tập giữa học kì 1

Ôn tập giữa học kì 1 Tiếng Việt lớp 4: Tiết 2 là lời giải SGK Tiếng Việt 4 trang 96, 97 giúp các em học sinh ôn tập, củng cố hệ thống lại kiến thức Tiếng Việt 4 chuẩn bị cho các bài thi giữa học kì 1 đạt kết quả cao. Mời thầy cô cùng các em học sinh tham khảo.

Câu 1 (trang 96 sgk Tiếng Việt 4)

Nghe – viết Lời hứa

Tôi rời công viên vào lúc phố đã lên đèn. Bỗng nghe sau bụi cây có tiếng một em bé khóc. Bước tới gần, tôi hỏi:

– Sao em chưa về nhà?

Em nhỏ ngẩng đầu nhìn tôi, đáp:

– Em không về được!

– Vì sao?

– Em là lính gác.

– Sao lại là lính gác?

– Có mấy bạn rủ em đánh trận giả. Một bạn lớn bả : “Cậu là trung sĩ” và giao cho em đứng gác kho đạn ở đây. Bạn ấy lại bảo: “Cậu hãy hứa là đứng gác cho đến khi có người tới thay” Em đã trả lời: “Xin hứa.”

Theo PAN-TÊ-LÊ-ÉP

Trung sĩ: một cấp bậc trong quân đội, thường chỉ huy một tiểu đội.

Dựa vào nội dung bài chính tả ” Lời hứa” trả lời câu hỏi đã cho (SGK TV4, tập 1 trang 97)

a) Em được giao nhiệm vụ gì trong trò chơi đánh trận giả?

b) Vì sao trời đã tối mà em không về?

c) Các dấu ngoặc kép trong bài được dùng để báo trước bộ phân sau:

d) Có thể đưa những bộ phận trong dấu ngoặc kép xuống dòng đặt sau dấu gạch ngang đầu dòng không? Vì sao?

Phương pháp giải:

a. Con đọc đoạn trò chuyện của em bé với nhân vật tôi.

b. Con đọc lời cậu bé nói phần cuối truyện.

c. Con suy nghĩ và trả lời.

d. Con suy nghĩ và trả lời.

a) Em được giao nhiệm vụ gì trong trò chơi đánh trận giả?

– Đứng gác kho đạn.

b) Vì sao trời đã tối mà em không về?

– Em không về vì em đã hứa đứng gác cho tới khi có người đến thay.

c) Các dấu ngoặc kép trong bài được dùng để báo trước bộ phân sau:

– Các dấu ngoặc kép trong bài được dùng để báo trước bộ phận sau nó là lời của bạn em bé hay của em bé đứng gác

d) Có thể đưa những bộ phận trong dấu ngoặc kép xuống dòng đặt sau dấu gạch ngang đầu dòng không? Vì sao?

Không đưa bộ phận trong dấu ngoặc kép xuống dòng đặt sau dấu gạch ngang đầu dòng được. Bởi vì những bộ phận ấy là lời em nhỏ thuật lại chứ không phải là lời đối thoại. Nhằm phân biệt với những lời đối thoại của em bé với vị khách.

Câu 3 (trang 97 sgk Tiếng Việt 4)

Lập bảng tổng kết quy tắc viết tên riêng theo mẫu sau

1- Tên người tên địa lí Việt Nam

– Viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng tạo thành tên đó

Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ

2- Tên người tên địa lí nước ngoài

– Viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó, giữa các tiếng trong cùng một bộ phận có dấu ngang nối

– Tên riêng phiên âm Hán Việt viết như tên riêng của Việt Nam.