Top 21 # Xem Nhiều Nhất Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

Nghịch Lý Trong Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam / 2023

(4450 chữ, 16 phút đọc)

1. Nghịch lý trong việc dạy và học tiếng Anh

Trước tiên phải nói đến cách dạy sai. Tiếng Anh là một ngôn ngữ tương đối dễ học so với những ngôn ngữ châu Âu khác vì tính logic của nó rất cao. Tuy nhiên, tính logic này không có nghĩa là chúng ta có thể công thức hóa được ngôn ngữ như đối với toán lý hóa. Việc công thức hóa tiếng Anh và học thuộc lòng thay vì dạy cho học sinh kỹ năng suy luận logic đã khiến cho biết bao nhiêu thế hệ học thuộc lòng và nhai lại như những con vẹt nhưng đến khi cần động não tư duy kết nối những kiến thức đã học thì không ai làm được. Chỉ cần hỏi một câu hỏi lệch ra bên ngoài một chút là coi như thua. Ngay cả các giáo viên dạy tiếng Anh cũng vậy, họ đơn giản là một cái máy học thuộc bài rồi phát lại trên lớp bắt học trò học thuộc theo và lặp lại.

Thứ hai, việc đặt mục tiêu học CẤP TỐC một ngoại ngữ là sai lầm nghiêm trọng. Trên đời này không có chuyện gì có thể học cấp tốc mà có thể sử dụng thành thạo. Tiếng Anh cũng vậy, đây là một ngôn ngữ có chiều sâu và tính khoa học cao. Những trung tâm hay trường học trong suốt bao nhiêu năm nay đánh vào tâm lý lười động não và muốn đạt được kết quả nhanh nhất của người học mà đưa ra chiêu bài học cấp tốc giao tiếp, cấp tốc để lấy bằng hoặc một phương pháp tốn công sức nhất. Tất cả đều là mánh khóe chiêu trò lừa gạt vì người nào học hành nghiêm túc đều hiểu rằng không có cách nào cấp tốc hoặc những mẹo vặt để thành công mà chỉ có KIÊN NHẪN và KHỔ LUYỆN. Hãy nghĩ tới lúc bé các bạn tập nói tiếng mẹ đẻ như thế nào. Phải mất vài năm nói đớt nói ngọng mới có thể phát âm đúng và 12 năm phổ thông vẫn có người viết một câu tiếng Việt cho ra hồn cũng không xong thì lấy đâu ra chuyện học CẤP TỐC mà THÔNG THẠO một ngôn ngữ mới. Nếu không nằm mơ thì cũng là hoang tưởng.

Thứ ba là tâm lý người học ngại khổ ngại cực, ỷ lại dựa dẫm vào giáo viên và sách giáo khoa, thích được học mẹo nhưng không thích động não suy nghĩ. Thích có bằng cấp nhưng không thích học thực lực để có thể sử dụng được và không có động lực tự học. Chính vì vậy học đâu lại quên đấy, tốn bao nhiêu tiền nhưng bản thân không tự nỗ lực thì cũng bằng thừa.

Những bạn nào không chịu học tiếng Anh cho đàng hoàng thì sau này đừng hối hận khi bị cưỡng bức học tiếng Trung Quốc như quốc ngữ!

2. Những sai lầm và ngụy biện thường gặp đối với những người thất bại trong việc học tiếng Anh

Những người thất bại trong việc học tiếng Anh sẽ mắc phải những sai lầm và ngụy biện đặc trưng khiến cho việc học của mình không có hiệu quả. Sở dĩ tôi gọi là sai lầm và ngụy biện vì nhiều người không biết cách học nên đổ nhiều công sức vẫn không có kết quả, còn ngụy biện là nhiều người biết cách học đó là sai nhưng vẫn dùng nó để chống chế cho việc thất bại của mình rằng tôi cũng học hành đàng hoàng lắm chứ, đừng trách tôi. Cho dù là ngụy biện hay là sai lầm thì kết quả cũng đều như nhau là thất bại. Chỉ có việc nhìn thẳng vào sự thật và thay đổi thì mới có sự tiến bộ và thành công.

1. Thời gian là quan trọng nhưng không phải là tất cả

Thứ nhất, học qua loa thì tất nhiên không có kết quả nhưng liệu việc bỏ quá nhiều thời gian để học thì sẽ thành công. Điều này không đúng vì còn tùy thuộc bạn học như thế nào. Nếu ngay từ đầu bạn đã sai nhưng mà bạn cứ nghĩ đó là đúng thì bạn càng tập nhiều bạn càng quen với lỗi sai đó tới khi nó nhập vào tâm thì bạn sẽ rất khó sửa lại.

Thứ hai, nếu bạn chỉ học thụ động là làm những bài tập trắc nghiệm thì có làm hết mấy chục cuốn trắc nghiệm trình độ tiếng Anh của bạn cũng chỉ dừng lại ở chỗ là làm đúng câu hỏi trắc nghiệm chứ không viết hay nói được.

Thứ ba, ai là người sẽ thẩm định sự tiến bộ của bạn, bằng cách nào và sẽ hướng dẫn bạn nâng cao trình độ như thế nào? Ai sẽ cho bạn biết là cách bạn đang học là đúng hay sai, và liệu người đó có sửa đúng cho bạn hay lại chỉ cho bạn một cách sai khác? Nếu không có người hướng dẫn và phương pháp hướng dẫn tốt thì bạn sẽ vẫn dậm chân tại chỗ.

Thứ tư, bạn phân bổ thời gian thế nào? Nếu bạn dồn 4 tiếng một ngày thì chắc chắn hiệu quả không có vì đầu óc chúng ta bị làm việc quá tải khả năng tiếp thu sẽ kém đi. Một tiếng đồng hồ nếu được sử dụng đúng cách sẽ mang lại hiệu quả cao hơn là 4 tiếng dùng sai.

2. Tự học tiếng Anh như thế nào cho tốt?

Những người hỏi tôi câu này đều có chung một đặc điểm, ngại đến trường, thiếu kiên nhẫn và không thích học bài bản. “Tự học” là một từ dùng sai về nghĩa vì bản thân bạn học bất cứ một điều gì, có thầy dạy hay không bạn vẫn là “tự học” vì không ai có thể học giùm bạn. Trong tiếng Anh, người ta không dùng cụm từ “tự học” mà gọi là “tự dạy cho mình”. Ví dụ: tiếng Việt chúng ta nói “tôi tự học tiếng Anh” hay “tự học đàn” thì tiếng Anh sẽ nói là “I taught myself English” và “I taught myself to play guitar”. Nếu bạn hiểu đúng nghĩa thì vấn đề sáng tỏ hơn rất nhiều. Khi bạn nói bạn tự học, bạn chỉ thấy rằng mình đổ rất nhiều công sức học nhưng không thấy kết quả chính vì thế bạn đâm nản. Khi bạn nói bạn tự dạy cho mình, bạn phải nhận định lại trình độ của mình như thế nào. Nếu trình độ bạn quá thấp và phương pháp sư phạm thích hợp không có thì bạn không thể tự dạy mình được. Đó là lý do tại sao bạn mua sách vở về đọc rồi mày mò nhưng không có kết quả.

3. Học bao lâu thì giỏi?

Nhiều bạn đến học hỏi với tôi với câu hỏi thường trực, học mấy tháng thì có thể nói được, viết được, nghe được hay thi lấy bằng nọ bằng kia được. Tôi thực sự rất dị ứng với những câu hỏi kiểu đó vì nó chứng tỏ tư duy của người học vô cùng ăn xổi ở thì, chỉ muốn chụp giật cho nhanh, bình thường khi có thời gian thì không chịu học hành cho đàng hoàng, đến khi cần thì cuống lên tìm một chỗ nào đó muốn học với thời gian ngắn nhất để đạt kết quả cao nhất. Đó là hoang tưởng.

Tôi học tiếng Anh từ 4 tuổi, từng làm phó chủ nhiệm câu lạc bộ Anh văn NVHTN từ năm lớp 12, sang Mỹ học 6 năm chuyên ngành sư phạm Anh, dạy tiếng Anh ở Mỹ. Tôi sử dụng tiếng Anh để nói và viết với thời lượng tương đương với tiếng Việt nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng thế nào gọi là giỏi vì càng học càng thấy mình còn quá nhiều cái chưa biết. Nếu bạn chỉ dựa vào thời gian 1 tiếng rưỡi một ngày trên lớp và học trong vòng vài tháng mà giỏi thì cũng giống như bạn cầm số tiền mua xe đạp đòi mua xe Mercedes vậy.

4. Học thuộc lòng công thức và rất chuộng mẹo vặt

Trên đời tôi rất ghét những cách học mẹo nhất là những cách học mẹo của người Việt Nam đối với một ngoại ngữ. Vì sao ư? Vì người Việt mình có tính khôn lỏi nhưng rất hời hợt chỉ nhìn bề mặt vấn đề một cách qua loa rồi chế ra những mẹo vặt linh tinh không có tính khoa học nhưng lại cho đó là quy tắc học bắt học sinh học thuộc lòng. Nên nhớ một quy luật chỉ được công nhận khi nó đúng với 100% các ví dụ cụ thể, chỉ cần 1 ví dụ sai thì quy luật đó cũng không được công nhận. Các mẹo vặt về bản chất là không dựa trên phương pháp suy luận khoa học mà chỉ là sự lắp ghép tùy tiện mà bỏ qua rất nhiều yếu tố quan trọng như sự khác biệt ngôn ngữ. Nhưng người học Việt Nam lại cực kì chuộng dạy và học những mánh khỏe kiểu này vì hai lý do: 1. Nó dễ nhớ chỉ cần thuộc lòng không cần động não. 2. Người học không có thói quen phản biện và suy luận logic và luôn nghe lời thầy cô một cách mù quáng nên những gì giáo viên nói mặc nhiên là đúng. Tôi đã từng vạch ra rất nhiều lỗi sai trong các mẹo học tiếng Anh khiến nhiều giáo viên lâu năm té ngửa vì trước giờ mình đã quá khinh suất trong vấn đề giảng dạy.

6. Lười áp dụng thực tế

Có một nghịch lý rất buồn cười là những bạn học giao tiếp đến khi có cơ hội giao tiếp thì lại kiếm hết cớ này cớ khác để thoái thác. Và khi buộc phải nói thì không hề áp dụng một tí gì những quy tắc phát âm ngữ điệu đã được học mà cứ đọc theo kiểu cũ trước khi đi học. Những bạn học viết thì khi giao cho bài viết về nhà làm thường xuất hiện với nụ cười cầu tài mà tôi thường nói thẳng là “nụ cười vô duyên nhất thế giới” bảo rằng em quên viết, em bận hoặc viết một bài hết sức cẩu thả sai những lỗi chính tả và ngữ pháp cơ bản nhất. Tôi hay nói với học trò rằng: “Các bạn có một tài năng mà tôi rất khâm phục là sai đi sai lại những điểm trọng tâm mà tôi đã dạy rất kỹ và nhấn mạnh hàng trăm lần là không được sai nữa.” Tủ sách tiếng Anh tôi chọn lọc với hàng trăm đầu sách đủ thể loại và đủ trình độ rất ít người quan tâm đụng vào nhưng miệng vẫn cứ xin thầy cho thêm bài tập về nhà làm. Tôi nói luôn là đừng mong tôi cho thêm bài tập về nhà làm vì tôi không muốn tạo cho các bạn tính ỷ lại vào giáo viên. Nếu giáo viên cho bài tập thì làm còn không thì tự mình không tìm được trong khi bây giờ các phương tiện học tiếng Anh phải nói là thừa mứa. Chỉ một kênh youtube thôi các bạn học cả đời còn không hết thì tại sao phải chờ tôi cho thêm bài tập về nhà. Tôi chỉ có thể hướng dẫn gợi ý những nguồn cần thiết còn bạn làm gì với nó là chuyện của các bạn.

Hi vọng các bạn học viên của tôi đọc kĩ bài này và suy nghĩ những gì tôi vẫn thường nói với các bạn trên lớp để học tốt hơn vì tương lai của bản thân mình. Mục đích dạy tiếng Anh lớn nhất của tôi là hướng dẫn cho các bạn cách học đúng để các bạn sau khi học tôi có thể tự học một mình chứ không quay lại học hoặc tốn tiền đi tìm một nơi khác học lại những kiến thức đã cũ lặp đi lặp lại một cái vòng lẩn quẩn không lối thoát.

3. Cách dạy tiếng Anh, sai ngay từ đầu!

Năm ngoái có ai đó gửi cho tôi một video clip các giáo viên tiếng Anh ở một trường trung học miền bắc đã dạy các học sinh phát âm tiếng Anh bằng cách kết hợp những tiếng Anh với quan họ Bắc Ninh, tôi thực sự quá sợ với sáng kiến đó.

Tôi có một người dì ruột trong suốt thập niên 80 dạy tiếng Nga ở trường cấp 2. Đùng một phát vào thập niên 90 tiếng Nga bị loại khỏi chương trình học chính quy do sự sụp đổ của Liên Xô cũ và tiếng Anh được đón chào trở lại sau mười mấy năm bị hắt hủi. Dì tôi được chỉ định đào tạo tiếng Anh cấp tốc để chuyển sang dạy tiếng Anh trong vòng sáu tháng. Không phải chỉ một mình dì tôi mà hầu hết các giáo viên tiếng Nga và tiếng Pháp khác cũng phải được đào tạo cấp tốc chuyển qua tiếng Anh nếu không muốn bị mất việc làm. Không cần phải giải thích nhiều các bạn cũng có thể hình dung ra rằng với sự đào tạo mì ăn liền như thế thì chất lượng đàng hoàng làm sao có được. Dì tôi lúc nhỏ học tiếng Pháp sau khi đi làm thì học tiếng Nga nên có thể nói là có năng khiếu về ngôn ngữ và cũng siêng năng nên việc học tiếng Anh cấp tốc để đi dạy cũng có thể gọi là ổn. Nhưng những vấn đề như phát âm thì không thể nào khắc phục được với nhiều lỗi sai trầm trọng. Ở Sài Gòn còn như vậy, thử hỏi các giáo viên ở tỉnh hoặc vùng sâu vùng xa thì trình độ còn như thế nào nữa. Và tất nhiên hậu quả thì học sinh lãnh đủ.

Không phải chỉ có những giáo viên thế hệ trước không được đào tạo bài bản. Thế hệ sinh viên sư phạm và chuyên ngành Anh ngữ sau này cũng hề khá hơn. Tôi đã từng dạy rất nhiều bạn sinh viên khoa sư phạm Anh nhưng tiếng Anh rất tệ và rất lười, những lỗi phát âm hoặc lỗi ngữ pháp cơ bản nhất cũng không buồn sửa mặc dù được nhắc rất nhiều lần. Các bạn không hề hứng thú với tiếng Anh và cũng không thích nghề đi dạy, chẳng qua điểm đủ xét tuyển vào ngành nào thì học ngành đó thôi. Có một bạn sinh viên năm 3 trường đại học khoa học xã hội và nhân văn chuyên khoa Anh khi tôi bảo giới thiệu về bản thân thì đọc như trả bài thuộc lòng và đến khi nói đến tên trường thì không biết nói như thế nào bằng tiếng Anh mặc dù suốt 3 năm trời ngày nào bạn ấy cũng dắt xe đi ra đi vào cái cổng trường to tổ bố có tên trường bằng hai thứ tiếng Anh-Việt. Và bạn ấy đổ lỗi là do cô chưa dạy nên không biết. Nghĩ đến những sinh viên không trình độ, không kiến thức, cả đam mê hay ý thức tự học cũng không chuẩn bị ra trường làm thầy làm cô, tôi không khỏi rùng mình sợ hãi vì đối với tôi làm thầy mà dạy sai dạy tồi là một tội ác khó có thể tha thứ. Bác sĩ tay nghề kém chỉ vài bệnh nhân chết nhưng giáo viên không có kiến thức thì hết thế hệ học sinh này đến thế hệ học sinh sẽ bị dạy sai. Và trong số những học sinh đó rồi sẽ có người sau này ra làm giáo viên tiếp tục gieo rắc cái sai đó cho những thế hệ tiếp theo. Đó không phải tội ác là gì?

Chất lượng kém trong việc giảng dạy tiếng Anh trong trường phổ thông cộng với đòi hỏi không tương xứng với chất lượng giảng dạy của chương trình học khiến cha mẹ tìm đủ mọi cách cho con học tăng cường tiếng Anh nếu có điều kiện. Nếu không tin tưởng vào năng lực của các thầy cô trong trường thì họ sẽ mang con đến các trung tâm Anh ngữ. Sinh viên sau một thời gian bỏ rơi tiếng Anh giật mình khi yêu cầu ra trường đòi hỏi bằng TOEIC hoặc IELTS cũng tìm đến cách trung tâm ngoại ngữ để học cấp tốc với hi vọng lấy được cái bằng nộp cho đủ thủ tục. Và những gia đình khá giả có con muốn cho đi du học cũng chọn một trung tâm ngoại ngữ nào đấy để gửi con vào học để thi lấy bằng làm hồ sơ. Nói chung là cấp tốc được thì càng tốt. Các trung tâm ngoại ngữ thường hút học viên bằng hai chiêu trò luôn hiệu quả là có giáo viên nước ngoài và các khóa học cấp tốc. Giáo viên nước ngoài cũng năm bảy loại nhưng bảo đảm những giáo viên bản ngữ Anh, Mỹ, Úc có trình độ sư phạm ở Việt Nam chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Có một thời gian các trung tâm ngoại ngữ không danh không tiếng thuê dân Nga, Pháp thậm chí Nam Tư ba lô sang dạy tiếng Anh bất chấp trình độ miễn sao mắt xanh tóc vàng được. Tôi đã làm việc với rất nhiều giáo viên nước ngoài vừa không có trình độ vừa rất kém về tư cách thậm chí có thể nói là biến thái bệnh hoạn. Một lão già người Mỹ có thói quen tiểu tiện vào bồn rửa mặt trong nhà vệ sinh của các giáo viên khác đến khi dùng camera ghi hình quay lại thì đập bàn văng tục hăm dọa đòi đánh. Một lão khác thì cứ đưa bài cho học viên làm còn mình thì ngồi đọc sách cho tới hết giờ, bài vở không bao giờ chịu chuẩn bị trước khi lên lớp. Còn các lớp luyện cấp tốc thì sao? Bất cứ ai hiểu chuyện cũng đều hiểu rằng không có cách gì để biến không thành có trong một thời gian cực ngắn nhất là kiến thức. Nhưng trên đời này có cầu thì ắt sẽ có cung. Ngày nào vẫn còn những kẻ lười biếng thích ăn xổi ở thì đến lớp để mong được chỉ mánh khóe thi đậu thì những chương trình cấp tốc như vậy vẫn ăn nên làm ra.

Đừng tưởng giáo viên Việt Nam dạy trung tâm sẽ khá hơn giáo viên dạy trường nhà nước. Tôi không vơ đũa cả nắm vì tôi biết có rất nhiều giáo viên lớn tuổi dạy trung tâm rất tận tâm và yêu nghề với kiến thức sư phạm tốt được học trò yêu thích. Nhưng phần lớn họ vẫn mắc phải hai lỗi chính là phát âm và cách giảng bài quá thiên về công thức. Còn các giáo viên trẻ thì chất lượng khó nói được. Rất nhiều bạn trẻ nghĩ đơn giản nếu mình không giỏi làm những chuyện khác nói thẳng ra là học xong đại học thất nghiệp thì đi học một khóa đào tạo giáo viên cấp tốc TESOL ra đi xin dạy tiếng Anh ở trung tâm là an toàn nhất, vừa có lương cao, vừa đỡ phải cạnh tranh còn mang cái mác giáo viên ngoại ngữ khá oai. Trong giai đoạn 2008-2011, tôi đào tạo hơn một nửa số giáo viên trẻ dạy ở các trường Không gian và dạy TESOL và được mệnh danh là sát thủ vì tôi đánh rớt không thương tiếc những bạn không đủ tiêu chuẩn và không đủ tư cách. Vì điều này mà tôi gặp khá nhiều rắc rối với bộ phận hành chính và marketing vì thử hỏi nếu rớt nhiều như thế ai dám đăng kí học. Nhưng tôi thà làm vậy còn hơn là kí bằng cho một người không đủ trình độ ra đi dạy biết chắc rằng họ không hề có ý thức tự học và lòng yêu nghề.

Tác giả: Vien Huynh

*Featured Image: sasint

📌 Ủng hộ tác giả và Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/donateTHDP 📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

Mô Hình Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam / 2023

Hoàng Hữu Phước, Nhà Ngữ Sử Học

13-10-2020

A – Dẫn nhập thực trạng Việt Nam

B – Phân biệt “Tiếng Mẹ Đẻ” và “Ngoại Ngữ”

C – Quy Trình Học “Tiếng Mẹ Đẻ” Của Nhân Loại

D – Quy Trình Học “Tiếng Mẹ Đẻ” Của Nhân Loại Theo Hoàng Hữu Phước

E – Mô Hình Hoàng Hữu Phước Về Học Tiếng Anh Của Việt Nam Cộng Hòa

F – Kết Luận

A- Dẫn Nhập Thực Trạng Việt Nam

Người Việt Nam từ thời nhận biết ra rằng hóa ra ngoài Tiếng Tàu ” hảo lớ hảo lớ” có thanh âm thuộc loại đứng đầu nhóm tệ hại nhất thế gian – tất nhiên là về mặt phát âm, trong đó có Tiếng Thái Lan và Tiếng Cambodia, v.v. – trên thế giới còn có một thứ ngôn ngữ mà họ gọi trang trọng theo kiểu Hán Việt là ” Anh Văn” và sau này gọi theo kiểu bình dân mà họ lầm tưởng là “thuần Việt” thành ” Tiếng Anh” (chứ không biết đó là kiểu gọi quê mùa nửa nạc nửa mỡ tức “ba rọi” vì “tiếng” có thể là “thuần Việt” nhưng “Anh” thì hết sức thuần Tàu từ kiểu gọi Hán Viêt xưa là “Anh-Cát-Lợi”), cho đến nay chưa hề có bất cứ ai trên cõi ta bà này – dù ở Việt Nam hay ở bất kỳ ngõ ngách nào trên thế giới đầy hoan lạc loạn lạc lầm lạc này – có bất kỳ nghiên cứu nào dù bằng mồm miệng hay bằng chữ viết về các ” mô hình dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam ” cả.

Chiến tranh khốc liệt đã làm Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chỉ có thể có một vài thông dịch viên tiếng Anh phục vụ yêu cầu ngoại giao, tình báo, và truyền thông radio, chứ không thể nào trong chiến tranh lại có đủ lực lượng giáo viên trung học giảng dạy trên toàn quốc cho tất cả các lớp trung học dù cấp trung học chỉ có từ lớp 6 đến lớp 9. Còn ý thức hệ tuyên giáo hoàn toàn tầm bậy tầm bạ phản khoa học rằng ” phải học tiếng nói của Lê Nin – tức Tiếng Nga – để hiểu được chủ nghĩa Mác-Lê” đã khiến sau 75 năm kể từ ngày lập quốc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho đến khi xóa hẳn tên Việt Nam Cộng Hòa trên bản đồ thế giới ngày 30-4-1975 lập nên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thống nhất cho đến nay là năm 2020 thì cái học ” tiếng nói của Lê Nin” đã không những ( a) chưa từng tạo nên một lực lượng học sinh/sinh viên “giỏi” Tiếng Nga, mà còn ( b) loại bỏ hẳn Tiếng Nga Tiếng Pháp ra khỏi các chương trình trung học chính quy cấp Nhà Nước để chỉ tập trung cho Tiếng Anh, đã vậy ( c) chưa hề có được một lực lượng lao động trẻ hùng hậu nào thuộc “cổ cồn trắng” hay “cổ cồn xanh” mà “giỏi” được Tiếng Anh cả, cũng như dẫn đến sự thật là ( d) chủ nghĩa Mác-Lê đã chưa từng được “hiểu” do đảng viên không học tiếng nói của Lê Nin nên ngày càng có đông hơn các đại quan đảng viên Cộng Sản chen nhau dành cuộc đời sau chấn song bền vững thay vì phục quốc – tức phục vụ quốc gia – và phụng quốc – tức phụng sự quốc gia – vững bền.

Với sự tổng hợp của hai thực tế sau 30-4-1975 rằng

1) Miền Bắc chưa hề có đủ lực lượng giáo viên Tiếng Anh cho cấp trung học (chỉ đến lớp 9) trước 30-4-1975 – chưa kể lực lượng giáo viên có thể có thì lại chỉ học đến lớp 9 là lên đại học nên không bao giờ có đủ trình độ đúng nghĩa về Tiếng Anh để mà giảng dạy để vừa có thành phẩm để chứng minh năng lực vừa có kinh nghiệm để có tư cách soạn sách giáo khoa Tiếng Anh và ngự ngôi cao trong Bộ Giáo Dục để cho ra các quyết sách về phương pháp dạy và học Tiếng Anh – nay lại phải gánh vác đại sự kéo dãn chương trình theo mô hình trung học đến lớp 12 như Miền Nam, còn

Bài này, do đó, thuộc chuyên ngành Ngữ Sử Học do Hoàng Hữu Phước khai sinh để lần đầu tiên tại Việt Nam và trên thế giới ghi nhận thực tế dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam để làm sử liệu các lối tư duy dựa trên thực tế thành công ở Việt Nam Cộng Hòa, từ đó hình thành cơ sở phản biện nghiêm túc hầu chấn chỉnh cách dạy và học Tiếng Anh ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để nhờ vậy sau 300 năm nữa ( tất tri tam bách dư niên hậu) Việt Nam chắc chắn sẽ có được lực lượng học sinh/sinh viên “giỏi” Tiếng Anh, trở thành lực lượng lao động có trình độ “giỏi” Tiếng Anh có phẩm giá cao trong nền kinh tế quốc dân ngay tại Việt Nam để các nữ nghị sĩ toàn chức sắc thạc sĩ/tiến sĩ Âu Mỹ không để Chủ Tịch Quốc Hội phải hạ mình xin nữ thủ tướng nước bạn rèn giúp Tiếng Anh.

B- Phân Biệt “Tiếng Mẹ Đẻ” Và “Ngoại Ngữ”

Như đã rất nhiều lần nêu lên trong nhiều bài viết cũng trên blog này, tôi hay nhấn mạnh yếu điểm của Tiếng Việt trong tương quan với Tiếng Anh là đối với các từ ngữ mang tính học thuật hàn lâm Âu Mỹ thì việc lệ thuộc quá lớn vào chữ Hán đã biến ý nghĩa chuyển sang Hán-Việt tức sau khi thông qua một ngôn ngữ trung gian là Tiếng Tàu đã không còn mang nội hàm của từ Tiếng Anh nguyên bản (chẳng hạn từ Hán-Việt “dân chủ” dẫn đến ý nghĩa thuần Việt của “dân làm chủ” trong suy nghĩ của 100% người Việt, mà “dân làm chủ” thì hoàn toàn không hề là ý nghĩa của “democracy”, khiến từ tư duy chủ đạo của “dân làm chủ” thuần Việt mà người Việt không thể hiểu nội hàm đúng của “democracy” của Âu Mỹ là gì, v.v.).

Tương tự, ” mother tongue” có ý nghĩa duy nhất đúng là “ngôn ngữ mà một người sử dụng từ thủa ấu thơ đến khi lớn lên” ( the language which a person has grown up speaking from early childhood) hoặc là “ngôn ngữ chính tức first language của người ấy từ lúc sinh ra” ( the language that a person has been exposed to from birth). Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa không dùng từ ” ngoại ngữ” mà dùng ” sinh ngữ 1” và ” sinh ngữ 2” vì học sinh trung học từ lớp 6 phải chọn Tiếng Anh hay Tiếng Pháp làm ” sinh ngữ 1” và từ lớp 10 phải chọn thêm một ” sinh ngữ 2” giữa Tiếng Anh và Tiếng Pháp khác với “ngoại ngữ” đã chọn trước đó (nếu chọn Tiếng Hoa hoặc Tiếng Nhật chẳng hạn thì phải tự học, chỉ khi thi Tú Tài mới sẽ có đề thi riêng của Bộ Giáo Dục chứ không nằm trong hệ thống giáo dục quốc gia). Như vậy, theo định nghĩa gọi ” mother tongue” là ” first language” thì ” ngoại ngữ” được Việt Nam Cộng Hòa gọi là ” second language” vốn hoàn toàn hợp lý và đúng với ngay cả cách gọi của người Anh Mỹ trong thực tế vì họ cũng gọi ” ngoại ngữ” là ” second language “.

Do ý nghĩa từng từ một của ” mother tongue” là ” mẹ+ngôn ngữ“, người Việt dịch thành ” tiếng mẹ đẻ ” và đây là nguồn cơn của mọi sai lầm tư duy.

” Tiếng Mẹ Đẻ” nếu được nghĩ đó là ” ngôn ngữ của người mẹ sinh ra mình” thì sai ở 5 điểm gồm

( a) mother là “chính/chủ lực” chứ không là “mẹ”,

( b) ” ngôn ngữ của người mẹ sinh ra mình” phải được viết thành ” mother’s language” hay ” mother’s tongue” chứ không phải ” mother tongue “,

( c) mother tongue phải qua quá trình học/sử dụng chính trong cả cuộc đời trong khi tiếng mẹ đẻ trong tư duy người Việt thì lại hàm ý ngôn ngữ đương nhiên mà một người Việt có được dựa vào việc mẹ người ấy nói Tiếng Việt kể cả khi người đó từ nhỏ đã được gởi ra nước khác (hoặc sinh ở nước khác do cha mẹ công tác tại Đại Sứ Quán Việt Nam ở nước khác) và học tập/lớn lên với việc sử dụng ngôn ngữ nước khác ấy,

( d) tại sao phải gọi là tiếng mẹ đẻ mà không là tiếng cha đẻ, và

( e) việc một người giỏi xuất sắc một “ngoại ngữ” và dùng “ngoại ngữ” ấy trong công việc hàng ngày hoàn toàn không có nghĩa đó là “ngôn ngữ chính” (tức “tiếng mẹ đẻ”) của người ấy mà muôn đời vẫn chỉ là “second language” (tức “ngoại ngữ”) của người ấy mà thôi.

Như vậy, quá trình đúng và thuận quy luật tự nhiên thích hợp cho sự phát triển tư duy để một người Việt Nam ở Việt Nam học Tiếng Anh thành công, do đó, là chỉ sau khi người ấy học xong cấp tiểu học ở Việt Nam để có thể yên tâm về “ngôn ngữ chính” ( mother tongue) tức Tiếng Việt của người ấy. “Ngôn ngữ chính” là để hình thành ý thức về ngữ nghĩa, ngữ cảnh, ngữ dụng, ngữ biểu, ngữ cảm, ngữ tạo, và ngữ biến, từ đó làm đà tiếp nhận ngôn ngữ để áp dụng một cách vô thức từ đó có cơ may “giỏi ngoại ngữ”.

Việc học ngoại ngữ, do đó,

– chỉ phát huy tác dụng tối ưu cho học sinh từ lớp 6 trung học;

– nếu học Tiếng Anh từ mẫu giáo đúng bài bản chất lượng cao theo chương trình đặc thù tuyệt đối triệt để trong-môi-trường-hoàn-toàn-không-có-Tiếng-Việt do toàn các chuyên gia thạc sĩ/tiến sĩ trực tiếp giảng dạy thì chỉ là công đoạn đào tạo sẵn lực lượng gián điệp tương lai có ” tiếng mẹ đẻ” khác, có hoạt động nói/viết/suy nghĩ/mớ ngủ/mê sảng/buộc miệng đều bằng ” tiếng mẹ đẻ ” khác ấy, nghĩa là Tiếng Việt trở thành “ngoại ngữ” không quen thuộc, nhằm cài cắm họ vào các quốc gia khác sống y như người bản xứ không thể bị phát hiện;

– nếu học Tiếng Anh từ mẫu giáo hay tiểu học được dạy bởi những giáo viên buộc– phải-dạy-Tiếng-Anh-mẫu-giáo-và-tiểu-học-chỉ-vì-học-kém-hơn-cấp-cử-nhân, trong môi trường sống có đến gần 90% thời gian sử dụng toàn Tiếng Việt, thì tất nhiên không bao giờ là bài bản đúng để có thể kỳ vọng những đứa bé ấy khi “già đầu” sẽ “giỏi ngoại ngữ”.

Trong công tác hàn lâm lĩnh vực ngôn ngữ mà không phân biệt được chính-phụ và “tiếng mẹ đẻ”-“ngoại ngữ” thì muôn đời thất bại.

Các đặc công thủy hoặc đặc công người nhái tinh nhuệ có kỹ năng tuyệt luân sinh tồn dưới sông sâu biển cả trong các nhiệm vụ đặc biệt tấn công/phá hoại/tiêu diệt đối phương. Nhưng họ đương nhiên không bao giờ là cá để ăn tôm cá sống hay xác trôi sông/ngủ say dưới nước/vệ sinh dưới nước/uống nước sông nước biển/sinh hoạt tình dục lưu truyền nòi giống dưới sông dưới biển, chưa kể dù có chiến đấu giỏi bơi nhanh như chớp và lặn sâu lâu không cần dưỡng khí thì họ chỉ được thu nạp vào đội ngũ chỉ khi chứng tỏ có sức khỏe tuyệt luân ở trên bờ. Từ đó suy ra người ta chỉ có thể “giỏi ngoại ngữ” sau khi đã nắm vững “tiếng mẹ đẻ” mother tongue, và vấn đề, do đó, tùy vào quyết định xem ngôn ngữ nào là “tiếng mẹ đẻ” và ngôn ngữ nào là “ngoại ngữ” để có phương pháp học tập phù hợp để trở thành “người Việt giỏi ngoại ngữ” (để phục vụ các ngành kinh tế quốc dân sau này) hoặc “người Việt có tiếng mẹ đẻ không phải Tiếng Việt” (để phục vụ công tác gián điệp sau này – nhưng người Việt ấy ắt phải tuyển chọn từ trẻ em tại các cô nhi viện). Chỉ có người khỏe trên bờ làm người nhái chứ không có chuyện con nhái làm người nhái. Chỉ có chuyện ” người Việt giỏi Tiếng Việt mẹ đẻ thành người giỏi kiệt xuất Tiếng Anh ngoại ngữ” chứ không có chuyện ” người Việt giỏi Tiếng Anh mẹ đẻ làm người giỏi kiệt xuất Tiếng Anh ngoại ngữ”. Đó là cái cơ sở lý luận đặt trên nền tảng của commonsensenesscủa Hoàng Hữu Phước.

Tất cả những người trưởng thành/thương nhân Âu Mỹ và các quan chức các tổ chức quốc tế hoặc cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam giỏi Tiếng Việt vì họ đã không bao giờ học “ngoại ngữ” Tiếng Việt từ mẫu giáo hay tiểu học, mà chỉ học Tiếng Việt ngoại ngữ sau khi họ đã nắm vững ngôn ngữ chính mother tongue của họ và đặc biệt khi họ đã trưởng thành trong tư duy để làm chủ phương pháp học ngoại ngữ nhanh nhất, bài bản nhất, hiệu quả nhất. Đó là cái cơ sở lý luận đặt trên nền tảng của commonsenseness của Hoàng Hữu Phước.

Cái commonsenseness mà Hoàng Hữu Phước (và các danh nhân nước ngoài – kể cả gã Khổng Khâu tức Trọng Ni – từ thời thượng cổ đến nay) luôn cổ súy/khoe khoang/dạy đời/áp dụng ở đây sẽ phải là:

học sinh Việt Nam ở Việt Nam chỉ có cơ hội giỏi ngoại ngữ Tiếng Anh nếu không bao giờ học ngoại ngữ Tiếng Anh từ cấp mẫu giáo hay cấp tiểu học nghĩa là chỉ học ngoại ngữ Tiếng Anh sau khi đã nắm vững ngôn ngữ chính mother tongue của họ nếu đó là Tiếng Việt hoặc tiếng nào khác không phải Tiếng Anh.

C- Quy Trình Học Tiếng Mẹ Đẻ Của Nhân Loại

Có lần trên báo Tuổi Trẻ (hay Người Lao Động – rất tiếc tôi chưa tìm ra tờ báo cũ để chụp hình bài viết) có đăng bài biện luận của tôi về học ngôn ngữ theo nhà ngôn ngữ học Mỹ giáo sư tiến sĩ Noam Chomsky, người đã từng đến Hà Nôi trong thời gian chiến tranh chống Mỹ còn học thuyết về văn phạm phái sinh của ông đã được lớp tôi nghiên cứu tại Đại Học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, và ngay lập tức có vị độc giả nọ viết thư phản ảnh trên báo rằng chính Noam Chomsky có bảo đó là ” học Tiếng Anh từ năm đầu đời“. Tôi vội viết thêm một bài cho Tuổi Trẻ (hay Người Lao Động?) giải thích rằng vị độc giả ấy hoàn toàn sai vì Noam Chomsky người Mỹ nên đã tiến hành nghiên cứu với hàng ngàn gia đình Mỹ và đương nhiên người Mỹ nói Tiếng Anh nên mô hình sau hoàn toàn đúng khi nói về trẻ em Mỹ học Tiếng Anh (tức “tiếng mẹ đẻ” của các bé ấy) và mô hình đó cũng hoàn toàn trùng lặp vơi quy trình học “tiếng mẹ đẻ” của toàn nhân loại:

nghĩa là trẻ em sơ sinh Việt tại gia đình Việt trên đất Việt có “tiếng mẹ đẻ” là Tiếng Việt sẽ phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cũng tuần tự qua các quy trình trước-sau của Nghe-Nói-Đọc-Viết.

Đó là quy trình tự nhiên về “tiếng mẹ đẻ” của hài nhi. Tiếc là ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận ra đó là quy trình học tiếng mẹ đẻ của trẻ thơ ở bất kỳ quốc gia nào chứ hoàn toàn không phải quy trình học ngoại ngữ của trẻ thơ và người lớn ở bất kỳ quốc gia nào.

D- Quy Trình Học Tiếng Mẹ Đẻ Của Nhân Loại Theo Hoàng Hữu Phước

Cũng vì tất cả người Việt nào đọc Noam Chomsky theo kiểu vị độc giả ba-chớp-ba-nháng trên cũng cứ hễ thấy chữ “Tiếng Anh” là vội quy chụp ngay đó là “ngoại ngữ” rồi quy kết ngay đó là “quy trình học Tiếng Anh”, từ đó dẫn đến tư duy sai rằng tại trường lớp dạy Tiếng Anh tất phải theo quy trình Nghe-Nói-Đọc-Viết ấy của hài nhi Tây, khiến liên tục phạm sai lầm khi xem Viết Tiếng Anh English Writing là công đoạn cuối cùng của tiến trình học Tiếng Anh, nên dành thời gian chủ yếu tập trung cho Luyện Nghe Listening và Luyện Nói Speaking, xem nhẹ Viết Tiếng Anh khiến không bao giờ giỏi Viết Tiếng Anh mà một khi đã kém Viết Tiếng Anh thì không bao giờ giỏi hùng biện Tiếng Anh tức Nói Tiếng Anh Cao Cấp, làm 45 năm sự nghiệp dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam từ ngày thống nhất trở nên hỏng bét:

Tôi buộc phải hợp lý hóa chi tiết cái mô hình hàn lâm của Noam Chomsky như sau dưới tên gọi chính xác ” Mô Hình Học Tiếng Mẹ Đẻ ” để làm rõ cái công thức tối giản của Noam Chomsky để đồng bào Việt hiểu rằng ở Việt Nam toàn bộ các đại quan phụ trách phát triển việc dạy và học Tiếng Anh đã hoàn toàn sai do đần độn không có chút hiểu biết nào để nhận ra sự thật và bản chất vấn đề:

theo đó, hài nhi “nghe” các âm thanh thốt ra từ miệng của mẹ/cha/nhũng người chung quanh, dần dần “lập lại” một cách máy móc mà không hiểu các ý nghĩa từ vựng, thời gian sau sẽ “nói chủ động” câu ngắn mỗi khi có đòi hỏi hoặc muốn kêu gọi, để rồi khi có thêm vài tuổi được cha mẹ dạy cho tập đồ chữ cái/phát âm chữ cái/nhận diện chữ, quy trình ấy dần nâng cao theo cấp lớp học thành viết chữ/đọc câu/đọc bài/chép bài/học thuộc lòng bài/trả bài, rồi trả lời miệng các câu hỏi tức “đọc hiểu”, trả lời viết cho phần “đọc hiểu” để hình thành viết luận văn tức viết thành bài hoàn chỉnh với ba phần nhập đề-thân bài-kết luận. Tất cả cho thấy không có sự tách bạch trước-sau của Nghe-Nói-Đọc-Viết trong phát triển “tiếng mẹ đẻ”của con người từ giai đoạn hài nhi trở lên, mà chính ra là – theo Hoàng Hữu Phước – có sự hòa quyện, bổ sung, song song tồn tại, nâng cấp trước-sau, nâng cấp đồng loạt, của cả 4 kỹ năng Nghe-Nói-Đọc-Viết trong phát triển “tiếng mẹ đẻ” tự nhiên nơi trẻ em.

Tuyệt Đối Đúng: Nghe-Nói-Đọc-Viết chỉ đơn thuần là 4 kỹ năng được liệt kê tuần tự trước-sau theo thứ tự xuất hiện trong quá trình phát triển tự nhiên toàn thời gian đối với “tiếng mẹ đẻ” tại gia đình và trong môi trường sống của con người lúc còn nằm nôi. Thứ tự ấy biến mất sau khi trẻ em tiến vào giai đoạn số 5 của mô hình Hoàng Hữu Phước nghĩa là lúc trẻ em cầm chiếc bút chì để tập đồ chữ cái để đưa 4 kỹ năng ấy vào giai đoạn đồng hành xuyên suốt của hòa quyện, bổ sung, song song tồn tại, nâng cấp trước-sau, nâng cấp đồng loạt.

Tuyệt Đối Sai: Nghe-Nói-Đọc-Viết là công thức tuần tự trước-sau các bước phải theo để một người Việt Nam học ” ngoại ngữ” ở Việt Nam dù mỗi ngày học một ít giờ ” ngoại ngữ” tại lớp học nội/ngoại ở Việt Nam, dù không theo tự nhiên của toàn nhân loại, và dù con người Việt Nam ở Việt Nam ấy còn là học sinh ở Việt Nam hay đã đủ sức tháo nôi vác đi bán ve chai hoặc lui cui lắp ráp nôi cho đứa con mới sinh của anh ta/chị ta tại Việt Nam.

E- Mô Hình Hoàng Hữu Phước Về Học Tiếng Anh Của Việt Nam Cộng Hòa

Như đã nói trong bài trước rằng commonsenseness đối với việc dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam nhất thiết phải là

( a) không được dựa theo sự thăng hoa ý tưởng của những thạc sĩ/tiến sĩ học thiếu năm ở trung học – chỉ đến lớp 9, không giỏi Tiếng Anh, không viết được bất kỳ bài nào ra hồn bằng Tiếng Anh từ khi mang danh thạc sĩ/tiến sĩ mà “cư dân mạng” từng biết đến, không có kinh nghiệm giảng dạy thành công Tiếng Anh dù tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà phải

( b) dựa vào những phương pháp/giáo trình đã được chứng minh thành công trong thời gian dài tại Việt Nam Cộng Hòa vì nó tương tự như các vũ khí chiến thuật và chiến lược tối tân của Mỹ cùng kho ngoại tệ và vàng tịch thu được của “Mỹ Ngụy” mà theo commonsenseness thì “cách mạng” phải ra sức bảo vệ thay vì đốt bỏ.

Mô hình sau là thứ vũ khí tối tân/vàng/ngoại tệ tịch thu được của ” Ngụy Quân & Ngụy Quyền ” lẽ ra đã phải được bảo quản, duy tu, đánh bóng, sử dụng, phát huy, nâng giá bán của thành phẩm trên thị trường quốc tế:

Bộ veston nam đã đạt đến độ tuyệt mỹ của nó như thành tựu cao nhất và cuối cùng của nhân loại nên mọi sự cách tân – nếu có – của bộ veston nam sẽ chỉ là thứ kỳ quái không-tồn-tại-lâu cho hạng celebrity kỳ quái không-tồn-tại-lâu chứ không bao giờ được mặc bởi giới quý tộc nam, giới tỷ phú nam, giới chính khách nam, và giới lãnh đạo doanh nghiệp nam.

Mô hình dạy và học Tiếng Anh thành công ở Việt Nam Cộng Hòa đã đạt đến độ tuyệt hảo như thành tựu cáo nhất và cuối cùng của người Việt Nam nên mọi sự cách tân – nếu có – của phương pháp dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam sẽ chỉ là trò hề kỳ quái tồn tại lâu chừng nào càng đẩy đất nước Việt Nam vào bế tắc không có học sinh/sinh viên/người lao động giỏi Tiếng Anh.

F- Kết Luận

Bài Thí Sinh Lỡ Cơ Hội Vào Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh Vì Chứng Chỉ Tiếng Anh Ư? đã nêu các chi tiết phân loại về các chứng chỉ Tiếng Anh Michigan Proficiency, TOEFL, IELTS và TOEIC cấp cho người học Tiếng Anh ở Việt Nam và tại các nước không-nói-tiếng-Anh tức những nơi mà Tiếng Anh chỉ là ngoại ngữ (second language/foreign language) chứ không là ngôn ngữ chính (mother tongue), phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của họ. Trong khi đó, TESOL (tức Teaching English to Speakers of Other Languages – Dạy Tiếng Anh Cho Người Nói Các Ngôn Ngữ Khác) là loại chứng chỉ về phương pháp giảng dạy Tiếng Anh dành cho người dạy Tiếng Anh tại Việt Nam và những quốc gia mà nơi đó Tiếng Anh chỉ là ngoại ngữ (second language/foreign language) chứ không là ngôn ngữ chính (mother tongue). Điều này khẳng quyết luận điểm của Hoàng Hữu Phước là hoàn toàn đúng : không bao giờ có một phương pháp chung cho việc dạy và học Tiếng Anh cho cả người có “tiếng mẹ đẻ” là Tiếng Anh tại những nước nói Tiếng Anh, và cho người có “tiếng mẹ đẻ” không-phải-Tiếng-Anh tại những nước không-có-ngôn-ngữ-chính-là-Tiếng-Anh, chưa kể phương pháp dạy “tiếng mẹ đẻ” cho trẻ em thuần dựa theo tự nhiên phải nghiên-cứu-để-nhận-diện-cái-bài-bản-đang-tự-nhiên-tồn-tại lại hoàn toàn khác với phương pháp dạy “ngoại ngữ” cho người-không-còn-là-hài-nhi thuần dựa theo bài-bản-phải-đề-ra-để-nghiên-cứu-và-áp-dụng.

Tóm lại, Nghe-Nói-Đọc-Viết là quy trình tự nhiên trong phát triển ngôn ngữ chỉ nơi trẻ nằm nôi.

Tóm lại, hiện trạng thê thảm của trình độ Tiếng Anh của học sinh Việt Nam sau 45 năm đầu tư tập trung của Nhà Nước chứng minh rằng Việt Nam chưa từng có các quan chức ra hồn về phát triển dạy/học Tiếng Anh ở Bộ Giáo Dục. Đó là kết luận dựa trên commonseness.

Tóm lại, do chưa từng có bất kỳ nghiên cứu nào ra hồn ở Việt Nam về dạy/học Tiếng Anh ở Việt Nam, cái commenseness đương nhiên sẽ là: mô hình Hoàng Hữu Phước về quy trình học Tiếng Anh ở Việt Nam là duy nhất đúng, duy nhất khả thi, duy nhất có thể chứng minh nếu áp dụng thì năm 2040 tức chỉ sau 20 năm nữa thôi thì tình hình chất lượng Tiếng Anh của học sinh/sinh viên Việt Nam tại Việt Nam sẽ tốt hơn rất nhiều lần cái kết quả chả ra gì của năm 2020 vốn chỉ cho thấy sự thất bại hoàn toàn của việc dạy và học Tiếng Anh chính quy ở Việt Nam. Đó là kết luận dựa trên commonseness.

Tóm lại, do chưa từng có bất kỳ thạc sĩ/tiến sĩ Việt Nam nào ở Việt Nam hay đã tẩu thoát khỏi Việt Nam viết nên bất kỳ thứ gì bằng Tiếng Anh mà chất lượng ” xém” bằng, ngang bằng, hay tốt hơn bài Thư Gởi Giáo Hoàng Francis của Hoàng Hữu Phước, nên Hoàng Hữu Phước là người duy nhất ở Việt Nam có thẩm quyền nói về phương pháp dạy/học Tiếng Anh ở Việt Nam, và tất nhiên Hoàng Hữu Phước không công nhận giá trị bất kỳ các phản biện của bất kỳ ai nhất là khi nó được viết không bằng Tiếng Anh và không bởi người có tư cách nói về dạy/học Tiếng Anh. Đó là kết luận dựa trên commonseness.

Tóm lại, đây là bài viết duy nhất có giá trị thực tiễn về dạy/học Tiếng Anh ở Việt Nam cho người Việt Nam. Đó cũng là kết luận dựa trên commonseness.

Tóm lại, một chính phủ thông minh thực tâm vì nước vì dân và chống tham nhũng luôn đương nhiên sử dụng Hoàng Hữu Phước trong quản lý sự nghiệp phát triển dạy/học Tiếng Anh cho người Việt ở Việt Nam. Đó đương nhiên cũng là kết luận tự nhiên dựa trên commonseness.

Và tóm lại, Hoàng Hữu Phước đã đúng về mọi cái “tóm lại” ở trên. Và đó đương nhiên cũng là kết luận dựa trên commonseness.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn (Nguyên giảng viên English Lexicology, British Civilization & Literature, English Composition, Business English, Interpretation & Translation, và English Grammar tại các trường Cao Đẳng Sư Phạm TP HCM, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan, Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Trung Tâm Ngoại Ngữ -Tin Học FOSCO KM, và Trường Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ, v.v.), Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII.

Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh)

Parler: @hoanghuuphuoc (tham gia từ 2020 bằng tiếng Anh)

GAB: @HoangHuuPhuocVietnam (tham gia từ 2020 bằng tiếng Anh)

Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt)

LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt)

WordPress (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt): https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Commonsenseness: Commonsenseness 31-8-2020

Giáo Hoàng Francis: Letter to His Holiness Pope Francis 01-8-2017 (bản dịch Tiếng Việt: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis 01-8-2017)

Sự thất bại hoàn toàn của việc dạy và học Tiếng Anh chính quy ở Việt Nam: Nhận Xét Về Sự Thất Bại Của Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Chính Quy Ở Việt Nam 23-9-2020

Thạc sĩ/tiến sĩ Việt Nam: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam 30-12-2015

Trọng Ni: “Thiên bất sinh Trọng Ni, vạn cổ như trường dạ; Thiên hữu sinh Lăng Tần, thiên tuế như cửu đán“ (Trời mà không sinh ra Trọng Ni, thì vạn kiếp biến đêm dài; Trời đã tạo được Lăng Tần, để vạn thủa hóa hừng đông).

Việt Nam bắt đầu đào tạo giáo viên Tiếng Anh sai bậy: Cao Minh Thì 28-6-2020

Việt Nam Cộng Hòa: Việt Nam Cộng Hòa 13-9-2019

“Đau Đầu” Về Cách Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam / 2023

Câu chuyện về vấn đề dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam không phải bây giờ mới nóng, hàng loạt các phương pháp dạy học tiếng Anh đã ra đời được áp dụng trong các mô hình lớp học từ cấp I nhưng hầu hết không thành công. Kết quả học tập của các em không đạt được hiệu quả như mong đợi, đặc biệt tại các vùng nông thôn. Vậy câu hỏi đặt ra là vì sao? Trong bài viết này sẽ là những chia sẻ thực tế về cách dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam hiện nay.

I. Những hạn chế trong cách dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam

Thứ 1: Phải thẳng thắn với nhau rằng trình độ tiếng Anh của giáo viên trong nước còn rất hạn chế. Điều này chính Bộ GD&ĐT cũng đã thừa nhận. Ngay từ cách phát âm và tư duy ngôn ngữ của các em đã bị sai lệch ngay từ lần đầu tiếp xúc thì về lâu về dài việc hòa nhập với môn tiếng Anh này dần sẽ trở thành gánh nặng. Các bé sẽ bị ngượng ngạo trong phát âm, dẫn đến mất tự tin khi giao tiếp trong khi đó, tiếng Anh đòi hỏi sự tự tin trong câu nói là vô cùng quan trọng. Bạn thậm chí thỏai mái sử dụng ngôn ngữ hình thể diễn đạt trong khi nói.

Thứ 2: Lớp học như hiện nay là quá đông, không hề thích hợp cho bộ môn tiếng Anh. Học ngôn ngữ là phải được nói, được chia sẻ, được nói nên những suy nghĩ thì ở Việt Nam cái được duy nhất là được nghe thầy cô giảng mà không được thực hành.

Thứ 3: Mô hình giảng dạy tiếng Anh của chúng ta hiện nay chứa quá nhiều kiến thức. Bao gồm cả 4 kỹ năng cần thiết ngay từ những ngày đầu tiếp xúc. Trong khi đó nói không được nói, nghe không được nghe, quá gánh nặng lý thuyết ngữ pháp mà không được thực hành.

Có nhiều người cho rằng, học tiếng Anh ở Việt Nam như một hành trình theo thang. Từ giáo viên đến học sinh mải miết leo lên các bậc thang và hi vọng một ngày kia có thể nghe – nói – đọc – viết. Nhưng không! Kết quả cho thấy là gì, các em dù đã hoàn thành bậc học THPT nhưng vẫn không thể giao tiếp bằng tiếng Anh, thậm trí ngữ pháp luôn được đề cao trong quá trình học nhưng các em vận dụng vào câu nói vẫn sai hoàn toàn. Vậy, lý do chính là gì? Học ngoại ngữ là học nói, mà học nói mà lại không được nói thì làm sao tốt hơn được. Vậy các bậc cha mẹ phụ huynh cần có những hướng đi đúng đắn cho các bạn nhỏ của chúng ta từ những bước đầu tiên.

Điều mà các bố mẹ Nhật không thể bỏ qua trong cách dạy con

II. Nên học tiếng Anh như thế nào cho hiệu quả

1. Hãy học cách nhận diện hình ảnh và cách phát âm trước tiên.

Hơn bao giờ hết, các bậc phụ huynh cha mẹ nên trang bị cho các con học tiếng Anh bằng cách nhận diện mọi thứ và cách phát âm. Mẹ có thể chỉ cho bé đây là cái bút và đọc là Pen, chưa nhất thiết phải cho con biết mặt chữ trước. Điều này trong các cuốn sách 3D đã thực hiện rất thành công.

2. Tổ chức học tiếng Anh theo nhóm số lượng ít.

Việc tổ chức được 1 nhóm học tiếng Anh sẽ đem lại hiệu quả bất ngờ, các bé được áp dụng những hiểu biết về ngôn ngữ để thoải mái chia sẻ và giao tiếp tăng sự tự tin và trau dồi vốn từ.

3. Hình thành ngữ pháp tiếng Anh cùng kỹ năng nói.

Bạn thấy không, kỹ năng nói là kỹ năng then chốt để học một ngôn ngữ, vì thế dù học từ mới hay học ngữ pháp thì vẫn nên song hành cùng kỹ năng nói để rèn luyện khả năng ghi nhớ và thực hành. Tăng sự tự tin khi giao tiếp.

Như vậy, việc học ngoại ngữ không khó, cái khó là chúng ta phải biết tổ chức thực hành và vận dụng vào giao tiếp. Hi vọng trong tương lai gần cách dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam sẽ thay đổi và có những bước tiến xa trong phương pháp học.

Nguồn: http://sieuthisach3d.com/

Từ khóa tìm kiếm

Cách dạy học ở Việt Nam

Cách dạy tiếng Anh ở Việt Nam

Cách học tiếng Anh ở Việt Nam

Thực trạng học tiếng anh ở việt nam

Nhu cầu học tiếng anh ở việt nam

Dạy và học tiếng anh ở việt nam

Vấn đề học tiếng anh ở việt nam

Tình trạng học tiếng anh ở việt nam

Việc dạy và học tiếng anh ở việt nam

Thực trạng dạy học tiếng anh ở việt nam

Thực trạng dạy và học tiếng anh ở việt nam

Vấn đề dạy và học tiếng anh ở việt nam

Tình hình học tiếng anh ở việt nam

Lạm Bàn Về Dạy Và Học Tiếng Trung Quốc Ở Việt Nam / 2023

Giáo dục

- Trần Gia Ninh

Lựa chọn học tiếng Trung Quốc là điều hoàn toàn bình thường, vì học được một ngoại ngữ mới là có thêm một cách tư duy khác ngoài cách quen thuộc theo tiếng mẹ đẻ, đồng thời ai thành thạo thêm một ngoại ngữ thì cơ hội việc làm cũng lớn hơn, có được nhiều kiến thức, nhiều thông tin hơn, nhất là với thứ ngôn ngữ phổ biến như tiếng Trung Quốc (chỉ xếp sau Anh văn).

 Việc dạy và học Trung văn như một ngoại ngữ là có ích cho người học và cho sự phát triển của đất nước.

Hán ngữ và tiếng Trung Quốc

Khi ai đó hỏi người Trung Quốc nói tiếng gì, tất nhiên câu trả lời là họ nói tiếng Trung Quốc. Thực ra, người Trung Quốc sẽ không trả lời như vậy. Họ sẽ trả lời hoặc là tôi nói tiếng Mandarin (tức tiếng Quan thoại hay tiếng Bắc Kinh), hoặc là tiếng Quảng Đông-Cantonese, tiếng Hakka (Khách gia-Hẹ), tiếng Hokkien (Phúc Kiến)… Đưa cho họ một tờ báo, xem thì ai cũng hiểu nội dung, nhưng đọc thành tiếng thì chẳng ai hiểu ai cả, khi nói chuyện với nhau cũng vậy, chẳng ai hiểu ai. Nhưng khi đưa cho họ một quyển sách Trung Hoa cổ, ví dụ như Hán Thư, Lã thị Xuân Thu… thì họ đọc được, nhưng cũng chẳng hiểu được mấy tí, vì sách cổ Trung Hoa viết bằng Văn ngôn, khác xa với tiếng Trung hiện đại, muốn hiểu phải có chuyên gia Hán ngữ phiên dịch ra văn viết thông thường, gọi là Bạch thoại. Có thể nói Trung Quốc có một chữ viết thống nhất là chữ Hán, có một ngữ văn thống nhất là Trung văn ngày nay và Văn ngôn – Hán ngữ ngày xưa, nhưng Trung văn với Văn ngôn không giống nhau, còn tiếng nói thì xưa và nay đều không thống nhất. (…) Ngôn ngữ quan phương hiện tại (Quan thoại), được gọi là phương ngữ miền Bắc, là một ngôn ngữ đã bị Hồ hóa trong quá trình lịch sử, tính ưu mỹ của Hán ngữ đã hỗn giao với sự thô sơ của ngôn ngữ các rợ Hồ làm cho Hán ngữ trở nên thô thiển, đơn sơ, ngoại trừ việc còn giữ được cơ sở kết cấu ngữ pháp (chủ vị tân) của ngữ hệ Hán-Tạng ra, thì Hán ngữ về cơ bản đã bị đánh gục tơi tả, cuối cùng bị Hồ hóa theo ngữ hệ Altai, là loại ngôn ngữ địa phương mà về tính chuẩn xác, tính thực dụng thì lạc hậu hơn nhiều so với các phương ngữ miền Nam (…) mà đại diện là Cantonese (tiếng Quảng Đông). Từ cuối nhà Đường trở đi, phía Bắc bị cai trị lâu dài bởi Khiết Đan, Nữ Chân (Mãn), Mông Cổ v.v. (thuộc ngữ hệ Altai là chủ yếu) do đó chắc chắn là phương ngữ phía Bắc khó mà tránh khỏi bị Altai hóa, nên mất đi hầu hết những đặc điểm vốn có trong Hán ngữ, đồng thời bị pha tạp một số khẩu âm (giọng) ngoại tộc. Tỷ như, đại bộ phận các giọng địa phương của Hán ngữ đều có thể phân biệt hầu hết các âm gió-nổ (尖团音Tip group tone) trong khi các ngữ thanh phương Bắc không thể phân biệt được. Đa số Hán ngữ địa phương đều phân biệt nhập thanh (入声) với phi nhập thanh (非入声). Tiếng phương Bắc không phân biệt được. Tiếng phương Bắc chỉ có bốn âm giai điệu (Tone): Âm bình 阴平, Dương bình 阳平, Âm thượng 阴上, Âm khứ阴去。 Còn Hán ngữ lại phân thành tám âm giai điệu: Âm bình 阴平, Dương bình 阳平, Âm thượng 阴上, Dương thượng 阳上, Âm khứ 阴去, Dương khứ 阳去, Âm nhập 阴入, Dương nhập 阳入. Các phương ngữ miền Nam, trừ tiếng Việt Quảng Đông 粤语 ra, đều ít nhiều có hiện tượng mất bớt âm giai điệu, nhưng số âm giai điệu còn lại đều nhiều hơn phương Bắc, ít nhất là còn từ sáu âm giai điệu trở lên. Và tiếng Việt Quảng Đông không chỉ bảo tồn tám âm giai điệu, mà còn thêm vào giữa Dương nhập và Âm nhập một âm giai điệu nữa là Trung nhập, thành ra tiếng Việt Quảng có đến chín âm giai điệu. (…) Ngữ hệ Altai được đặc trưng bởi ít ngữ tố, đa âm tiết, ví dụ đặc biệt là Nhật Bản ngữ. Phương Bắc, so với phương Nam, cũng hiện rõ đặc điểm này, do đó mà có khó khăn lớn khi biểu đat. Tỷ như dùng tiếng phổ thông khi giảng giải có dính dáng chút ít học thuật, chỉ dùng lời nói (khẩu ngữ) không thôi là không đủ, bắt buộc phải viết ra chữ (văn tự) thì mới hiểu được. Bởi vì có quá ít âm tố 音素, dẫn đến hiện tượng đồng âm quá nhiều. Vì vậy, để làm giảm đồng âm, miền Bắc sẽ phải tăng số lượng các âm tiết của từ vựng. Ở phía Bắc, các từ vựng đơn âm tiết là cực kỳ ít, còn số từ vựng đa âm tiết thì cực lớn. Các phương ngữ miền Nam thì ngược lại, vì có nhiều âm tố nên hiện tượng đồng âm ít hơn, số lượng từ vựng đơn âm rất phong phú, số từ vựng có hơn ba âm tiết rất ít, và chủ yếu là đến từ tiếng miền Bắc. Vậy cho nên để thể hiện cùng một ý tứ trong một đoạn thoại, người miền Nam dùng ít từ hơn người Bắc, đương nhiên là hiệu suất ngôn ngữ cao hơn nhiều. Ngôn ngữ Bắc chẳng hiểu sao lại bắt người ta đệm thanh âm “ěr -儿” vào, chẳng có lý do mà phải tăng thêm âm tiết “ěr”, khiến ngôn ngữ diễn đạt đã có hiệu suất không cao, nay lại càng bị kéo thấp xuống nữa. Nếu bạn so sánh phim Hồng Kông bản tiếng Quảng Đông với bản tiếng Quan thoại, bạn sẽ phát hiện ra hiện tượng trong bản tiếng Quan thoại nhiều nội dung ngôn từ bị cắt gọt bớt. Lý do là tiếng Quảng Đông chỉ với mười từ âm tiết là đủ ý cho một đoạn thoại, còn tiếng Quan thoại phải sử dụng đến 15, 16 âm tiết mới đủ, cho nên để khớp lời với miệng, chỉ có cách cắt bớt nội dung. Từng có người luận bàn rằng Hán ngữ là một loại ngôn ngữ lạc hậu, luận điểm có nhiều chỗ sai, nhưng cũng có rất nhiều điểm là hoàn toàn chính xác, tìm hiểu đến nơi đến chốn thì ra người đánh giá này chỉ dựa trên cơ sở của Hán ngữ hiện tại, lý luận sặc mùi sùng ngoại, thật đáng thương hại, anh ta dường như quên mất Hán ngữ cổ rồi! Trong thực tế, chúng ta phải dám thừa nhận, ngôn ngữ đơn âm, nếu chỉ có bốn âm giai điệu mà lại bắt nó phải rạch ròi chuẩn xác thì thật nực cười. Hãy thử lấy phương ngữ Hakka là đại diện của miền Nam, nhờ số cách phát âm nhiều, rất dễ giải quyết hiện tượng câu đa nghĩa quá nhiều trong Hán ngữ hiện đại. (…) Âm phương Bắc có rất nhiều các loại âm mà phương Nam không có như âm ěr (“ㄦˇ,hậu tị âm (âm sau mũi 后鼻音),hậu thiệt âm (âm sau lưỡi 后舌), là những âm khi nói cần phải vận động đầu lưỡi rất nhiều, phương nam ít loại âm này nên nói được rất nhanh. Mọi người hãy thử nói câu “骑车上公园儿” theo ngữ ngôn Bắc (Qí chē shàng gōngyuán er = Đi xe ra công viên) rồi so với cách nói miền Nam “骑 sang公园” xem nó chậm hơn bao nhiêu. Tốc độ của tư duy tỷ lệ thuận với tốc độ lời nói, nói nghĩ kiểu ậm à ậm ừ lai rai của người phương Bắc làm sao có thể cạnh tranh được với hiệu suất cao của người phương nam? (…) Tại sao một số học giả tin rằng tiếng Quảng Đông gần Hán ngữ cổ hơn cả? Thật ra đây không phải là nói chơi, bởi vì tiếng Quảng Đông đã bao hàm tất cả bốn thanh tám vần của Hán ngữ, một phần nhỏ chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ các dân tộc Lĩnh Nam [ý nói các dân tộc ở cực Nam Trung Hoa như xưa như, Âu Lạc, Nam Việt …](…) trong tiếng Quảng Đông có một số lượng lớn các từ bế âm tiết, âm đọc phụ âm nguyên âm tương đương nhau, có hoặc không có bế âm tiết tạo ra khác biệt rất lớn. Tỷ dụ hai chữ Đại 大 và Đạt 达 trong tiếng Quan thoại chỉ đọc khác nhau ở âm vận (dấu thanh điệu) “dà và dá” nhưng trong cách phát âm tiếng Quảng Đông chữ đầu là âm tiết mở (khai âm), chữ sau là âm tiết đóng (bế âm). Chữ đầu đọc là “dai”, chữ sau đọc là “dat” (chữ t là ký hiệu biểu thị tác dụng đóng của âm tiết thứ hai, không phát thành âm). Tiếng Quảng Đông không có âm uốn lưỡi, cũng giống như Hán ngữ cổ vậy. Nhìn ra ngoài Trung Quốc xem hai nước Việt Nam và Hàn Quốc là những nước chịu ảnh hưởng của Hán ngữ cổ, tuy rằng họ có bản ngữ dân tộc riêng, nhưng khi họ đọc chữ Hán (Hán tự thỉnh thoảng dùng để biểu ý khi ghi chép sang bản ngữ dân tộc của họ), thì thực là rất giống tiếng Quảng Đông. Ví dụ, tất cả chúng ta đều biết rằng thương hiệu Hàn Quốc “三星 Tam Tinh-Ba sao) thì hai chữ Hán đó Hàn Quốc đọc là “Samsung”, còn tiếng Việt (tam tinh) và tiếng Quảng Đông (saam sing) đọc hai chữ này gần giống nhau (…) Sự phân hóa của Hán ngữ bắt đầu lúc nào? Thời Mạt Đường Ngũ Đại, dân thiểu số lại gây vó ngựa sa trường, Bắc Tống chỉ lo giữ cho được đất gốc của Trung Quốc, còn Yên Vân thập lục châu (16 vùng thuộc Bắc Kinh Thiên Tân và bắc phần Sơn Tây Hà Bắc ngày nay) rơi vào tay Khiết Đan, cũng là lúc bắt đầu thời Hán Hóa Khiết Đan. Khiết Đan thuộc chi ngôn ngữ Altai-Mông Cổ (một phiên bản cổ của chi ngôn ngữ Altai -Tungus), khác với mười sáu nhóm nhỏ ngôn ngữ của rợ Hồ. Vùng đất Hán cũ trước khi bị người Khiết Đan chiếm vốn đã có một lịch sử văn minh, cho nên để gìn giữ chế độ Khiết Đan cũ, họ đã cố phân chia ra hai vùng Khiết Đan và Hán riêng biệt để cai trị. Họ lấy ngôn ngữ dân tộc làm ngôn ngữ chính thức của đế quốc, có văn tự riêng, tuy vậy thì văn hóa dần dần cũng bị Hán đồng hóa, dù dưới sự cai trị lưỡng chế, nhưng ngôn ngữ không phải là chuyện của riêng ai, theo chính trị thâm nhập mạnh mẽ vào Bắc Hán ngữ, bắt đầu làm cho cách phát âm của Hán ngữ pha giọng Altai từ đấy. Vả lại văn tự Hán ngữ thì tốt cho việc biểu đạt mà không đòi hỏi cùng một khẩu ngữ, nên chi Hán ngữ có sức mạnh lớn đồng hóa các tộc khác, không cần tác động lên văn tự của ngôn ngữ Khiết Đan có vị thế chính trị cao hơn. Mặc dù người Khiết Đan đọc chữ Hán với âm khác với người Hán, nhưng về văn tự thì đều hiểu như nhau, nên sự phát âm như nhau là không bắt buộc. Tôi đoán từ thời gian này trở đi, khi Bắc Kinh đã trở thành lãnh thổ phía Nam của nhà Liêu, ngôn ngữ nói của Trung Quốc vì phục tùng tầng lớp cai trị của đế chế Đại Liêu nên bắt đầu quá trình Hán ngữ phía Bắc biến hóa theo phát âm của kiểu Altai. Âm uốn lưỡi (卷舌音-quyển thiệt âm retroflex) (bao gồm cả âm bật lưỡi 弹舌音-Đạn thiệt âm- Tongue sound) cực nhiều trong ngữ hệ Altai, ở đây, từ phía Bắc của Bắc Trung Quốc, ngữ âm Altai bắt đầu thâm nhập vào Hán ngữ. Kim diệt Liêu, chia đôi thiên hạ, nửa theo chế độ của nhà Kim, người Hán thiên di về Nam, Hán ngữ Hoa Bắc nhận thêm kẻ xâm lược mới: ngữ hệ Altai-Tongus, bắt đầu thời kỳ âm cuốn lưỡi gia tăng mạnh, lượng bế âm mất dần. (…) Nhà Tống nam di, sau khi định đô ở Lâm An, ngôn ngữ của tầng lớp quan liêu quý tộc bị ảnh hưởng bởi phương ngữ Hán Ngô Việt vốn có nguồn gốc Hán Tạng đã tồn tại trước thời Xuân Thu, so với Hán ngữ thời Nam Bắc triều thì đã phân hóa rõ rệt. Hán ngữ Hoa Bắc đã bị Tongus hóa, nhưng vùng miền núi có thể là biệt lệ (bằng chứng cho thấy rằng nay vẫn còn có những ngôi làng ở khu vực miền núi ở Sơn Tây còn giữ được thanh nhập của Hán ngữ), còn khẩu ngữ của hoàng thân quốc thích và quan lại triều Nam Tống thì đã chuyển đổi dần theo giọng nói của Ngô Việt. (Sau 1.500 năm lịch sử, vốn dĩ đã thông dụng Hán ngữ, muốn đồng hóa họ e cũng khó khăn), và phía Nam của dãy Nam Lĩnh, vì núi non cản trở, nên ở đây Hán ngữ gốc có từ thời Tần Thủy Hoàng ít bị thay đổi. Loại Hán ngữ phá cách từ phương bắc theo vó ngựa xâm lược của dân du mục, khi đến được Giang Nam, Hoa Nam vượt qua bao nhiêu núi đồi cách trở nên ảnh hưởng đã yếu đi nhiều, chưa kể đến hàng rào cản là dãy Lĩnh Nam. Đế quốc Mông Cổ chiếm nước Kim, một lần nữa Hán ngữ Hoa Bắc lại nhận thêm kẻ xâm nhập với khẩu ngữ mới (người Mông Cổ giết hại 90% dân số sống ở Bắc Trung Quốc, và phần còn lại phải chịu tuân phục). Lần này kẻ thống trị Hoa Bắc lại nói tiếng thuộc chi ngữ hệ Altai-Mông Cổ. Ai có hứng thú xem lại lịch sử nhà Nguyên nên biết rằng sự cưỡng bức chính trị thời này là đặc biệt kinh khủng. Các quan chức người Hán ai mà không tập theo tiếng Mông Cổ thì không thể yên ổn được (…) Lúc này, trải qua sự xâm nhập và ảnh hưởng của chi ngữ ngôn Altai-Mông Cổ lẫn chi Altai-Tongus vào Hoa Bắc, đầu tiên tại kinh đô Đại Đô (tức Bắc Kinh) của nhà Nguyên đã hình thành nên tiếng Nguyên Đại Đô (tiếng Bắc Kinh), đó chính là thủy tổ của tiếng Phổ thông ngày nay. Nhà Minh lật đổ sự thống trị thực dân Mông Cổ, lập Kinh Đô ở Nam Kinh, nhưng rồi thân vương mạnh nhất là Yên Vương Chu Lệ ở Bắc Kinh thoán đoạt ngôi vua, lại quay về Bắc Kinh đóng kinh đô, giữ Nam Kinh làm kinh đô phụ (Bồi Đô-陪都), dẫn tới số phận Hán ngữ Hoa Bắc bị Hồ hóa là điều không thể thay đổi. Cuối cùng thì nhà Minh cũng xác định tiếng nói của Đại Đô là tiếng nói chính thức của nhà nước. Sau đó, các vùng phụ thuộc Minh, các sắc dân Mãn Châu thuộc chi Tongus, nơi đã từng khởi binh chinh phục Trung Hoa, đều bị Hán hóa hoàn toàn, về văn hóa thì bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa, nhưng tiếng nói của vùng Hoa bắc cũng bị pha tạp, cuối cùng hình thành nên cơ sở cho ngôn ngữ hiện tại là tiếng phổ thông Quan thoại (mandarin) – kỳ thực thì tên gọi này đối với người Hán là một đại sỉ nhục, vì Mandarin chính là phiên âm của”满大人- Mãn đại nhân” tức là “tiếng nói của các quan Mãn Châu” (chữ Quan thoại cũng từ đó mà ra).

Hán tự, Hán văn và Trung văn – học sinh cần học gì?

Sau khi đọc đoạn viết của học giả Viên Đằng Phi, chắc ai cũng thấy rõ là chuyện học Hán tự, Hán văn và Trung văn là hoàn toàn khác nhau Đối với người Trung Quốc, phương Bắc, phương Nam… thì ngoài phát âm tiếng mẹ đẻ của họ ra, họ chỉ phải học tiếng Quan thoại mà Bắc Kinh gọi là tiếng Phổ thông, Đài Loan gọi là Quốc ngữ… như vậy họ cũng đồng thời học được Hán tự (chữ Hán), còn Hán văn (cổ) dưới dạng Văn ngôn là ngữ văn của các chuyên gia, người dân Trung Hoa chỉ cần dùng Bạch thoại là dạng ngữ văn cho mọi người. Tiếng Trung Quốc (sau đây gọi là Trung văn) hiểu như vậy chính là Chữ Hán + Ngữ văn Bạch thoại + phát âm Bắc Kinh. Mọi người không phải là người Trung Hoa, muốn học tiếng Trung Quốc thì chỉ cần học chừng đó là đủ. Nên dạy và học Trung văn ở Việt Nam như thế nào?

Đứng trên góc nhìn khoa học, dù khen hay chê, dù yêu hay ghét thì Trung văn vẫn là một ngoại ngữ phổ biến và sẽ ngày càng phổ biến. Việc dạy và học Trung văn như một ngoại ngữ là có ích cho người học và cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy nên khuyến khích cho những người yêu thích và có tầm nhìn lựa chọn ngoại ngữ này, còn những người vì những lý do riêng không yêu thích thì cũng không nên bài xích. Tuy nhiên, không nên chỉ dạy Trung văn cho người Việt giống như dạy cho người Nga, người Mỹ… Nên kết hợp dạy chữ Trung Quốc ngoài phát âm theo pinyin (Bính âm) cần kèm theo âm Hán Việt nữa. Ngoài ra số tiền dự tính dùng cho việc đưa Hán Việt vào trường phổ thông (nếu có) nên giao phần lớn cho các nhà Hán Nôm số hóa, dịch và chú giải toàn bộ kho tàng văn hóa Hán Nôm của nước ta, (thực ra không quá lớn, đến mức không làm nổi trong một vài năm), và cho phép mọi người tiếp cận miễn phí kho tàng văn hóa đó. Một phần tiền nên dành cho việc đào tạo thêm Hán Việt (chữ Nho) cho các thầy cô giáo dạy Trung văn. Nếu làm được như vậy thì chắc chắn đủ nhân lực cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng như kết nối thế hệ trẻ với kho tàng văn hóa truyền thống của dân tộc. ————- 1 http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/day-chu-han-thay-tieng-anh-vi-nhung-le-sau-324496.html 2 http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/giao-duc/tieng-trung-thanh-ngoai-ngu-thu-nhat-bo-gd-dt-len-tieng-3319332/