Top 17 # Xem Nhiều Nhất Ứng Dụng Học Tiếng Việt Lớp 2 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

Ứng Dụng Học Tiếng Anh Lớp 7 Unit 2 / 2023

Tiếng Anh lớp 7 – Unit 2: Health

Listen and read.

Nick: Hi, Phong.

Phong: Oh, hi. You woke me up, Nick.

Nick: But it’s ten o’clock already. Let’s go out.

Phong: No, count me out. I think I’ll stay at home and play Zooniverse on my computer.

Nick: What? It’s such a beautiful day. Come on! You already got enough sleep. Let’s do something outdoors – it’s healthier.

Phong: What like, Nick?

Nick: How about going swimming? Or cycling? They are both really healthy.

Phong: No, I don’t feel like it.

Nick: You sound down Phong, are you OK?

Phong: I do feel kind of sad. I eat junk food all the time, so I’m putting on weight too.

Nick: All the more reason to go out.

Phong: No, Nick. Plus, I think I have flu – I feel weak and tired. And, I might get sunburnt outside.

Nick: I won’t take no for an answer. I’m coming to your house now!

Bài dịch:

Nick: Chào Phong

Phong: Oh, xin chào. Bạn đã đánh thức mình đấy, Nick.

Nick: Nhưng 10 giờ rồi đấy. Chúng ta hãy ra ngoài chơi đi.

Phong: Không, đừng rủ mình. Mình nghĩ rằng mình sẽ ở nhà và chơi Zooniverse trên máy tính.

Nick: Cái gì? Hôm nay là một ngày đẹp trời mà. Thôi nào! Bạn đã ngủ đủ rồi. Chúng ta hãy ra ngoài làm gì đi – nó lành mạnh hơn.

Phong: Làm gì hả Nick?

Nick: Chúng ta đi bơi đi? Hay đạp xe? Chúng đều rất tốt cho sức khỏe.

Phong: Không, mình không muốn.

Nick: Cậu trông không khỏe đó Phong, cậu ổn không?

Phong: Mình cảm thấy buồn. Mình toàn ăn thức ăn nhanh, vì thế mình đang lên cân.

Nick: Vậy là càng thêm lý do để đi ra ngoài.

Phong: Không, Nick. Hơn nữa, mình nghĩ mình bị cảm – mình cảm thấy yếu ớt và mệt mỏi. Và, mình có thể bị cháy nắng bên ngoài.

Nick: Mình sẽ không chấp nhận câu trả lời không. Bây giờ mình sẽ đến nhà cậu!

Ứng dụng học tiếng Anh lớp 7 Unit 2 – App HocHay cho Android & iOS

Tổng hợp ngữ pháp tiếng Anh lớp 7 – Unit 2: Health – HocHay

Cách sử dụng MORE và LESS trong tiếng Anh

3.1.1. Từ chỉ số lượng là gì?

– Quantifiers là gì? Là từ chỉ số lượng của cái gì. Một số từ chỉ số lượng chỉ trong tiếng anh đi với danh từ đếm được, số khác lại đi với danh từ không đếm được, và một số lại có thể đi với cả danh từ đếm được và không đếm được.

– Đôi khi ta dùng từ chỉ số lượng để thay thế cho các từ hạn định.

Từ chỉ số lượng đi với danh từ đếm đượcTừ chỉ số lượng đi với danh từ không đếm đượcTừ chỉ số lượng đi với cả danh từ đếm được và không đếm được

many, a large number of, few, a few, a larger number of, hundreds of, thousands of, a couple of, several

much, a great deal of, little, a litle, a large amount of

– some, any, most, of, no– plenty,of, a lot of, heaps of– lots of, all, none of, tons of

3.1.2. Cách sử dụng MORE và LESS trong tiếng anh: a. More

Cấu trúc: most + noun (nhiều hơn)

Ví dụ:

Would you like some food?(Bạn có muốn thêm thức ăn không?)

You need to listen more and talk less!(Bạn cần phải lắng nghe nhiều hơn và nói ít lại!)

b. Less

– Cách dùng: Less có nghĩa là ít hơn, dùng với danh từ số ít không đếm được.

Ví dụ: You have less chance when competing with him.(Cậu có ít cơ hội hơn khi đối đầu với anh ta)

– Less đi kèm với giới từ of khi nó đứng trước mạo từ (a/an, the), đại từ chỉ định (this/that), tính từ sở hữu (my, his, their) hoặc đại từ nhân xưng tân ngữ (him, her, us).

Ví dụ:

I meet less of him since he move away.(Tôi ít gặp anh ấy từ khi anh ta chuyển đi)

You should eat less of the fast food.(Con nên ăn ít đồ ăn nhanh lại)

Câu ghép trong tiếng Anh

3.2.1. Câu ghép là gì?

Compound sentence là gì? Một câu ghép trong tiếng anh gồm hai mệnh đề độc lập được nối với nhau bằng các liên từ nối hoặc các cặp từ nối. Để xác định liệu mệnh đề có phải là mệnh đề độc lập không ta lược bỏ liên từ đi.

Ví dụ:

The sunbathers relaxed on the sand, and the surfers paddled out to sea.(Những người tắm nắng nằm thư giãn trên cát và những người lướt sóng ngoài biển.)

→ The sunbathers relaxed on the sand. (MĐ độc lập)+ The surfers paddled out to sea. (MĐ độc lập)= câu ghép

I ate breakfast, but my brother did not.(Tôi đã ăn sáng còn em trai tôi thì không.)

→ I ate breakfast. (MĐ độc lập)+ My brother did not. (MĐ độc lập)= câu ghép

3.2.2. Cách thành lập câu: trong tiếng anh, có ba cách để liên kết các mệnh đề trong một câu ghép:

– Có 7 liên từ nối thường xuyên được sử dụng trong câu ghép tiếng anh. Ngoài ra còn có các liên từ phụ thuộc, liên từ kết hợp, liên từ tương quan.

Ví dụ:

The teacher gave the assignments, and the students worte them down.(Giáo viên ra bài tập và học sinh thì chép vào vở)

The accident had been cleared, but the traffic was still stopped.(Hiện trường vụ tai nạn đã được xử lý xong nhưng dòng xe cộ thì vẫn chưa lưu thông được

b. Sử dụng dấu chấm phẩy và trạng từ nối theo sau:

Các trạng từ nối diễn đạt mối quan hệ của mệnh đề thứ hai với mệnh đề thứ nhất. Các trạng từ nối tiêu biểu là: furthermore, however, otherwise, v.v…

Lưu ý: phải chú ý thêm dấu ( ; ) sau mệnh đề độc lập thứ nhất và dấu ( , ) sau trạng từ nối.

– Những từ mang nghĩa “and”: Furthermore; besides; in addition to; also; moreover; additionally…

Ví dụ:

Florida is famous for its tourist attractions, its coastline offers excellent white sands beaches; moreover, it has warm, sunny weather.(Florida nổi tiếng với các thắng cảnh, với bờ biển cát trắng trải dài, và hơn hết, nó nổi tiếng với thời tiếc ấm áp đầy nắng)

– Những từ mang nghĩa “but, yet”: However; nevertheless; still; nonetheless; in contrast; whereas; while; meanwhile; …

Ví dụ:

I try to convince them that this contract is a disaster; however, they decide to sign without thinking of the bad aspect.(Tôi cố thuyết phục họ rằng bản hợp đồng này rất kinh khủng, tuy nhiên, họ đã quyết định ký mà không nghĩ tới hậu quả)

– Những từ mang nghĩa “or”: Otherwise

Ví dụ:

You have to change your working style; otherwise, your boss will fire you.(Bạn phải thay đổi các làm việc của bản thân thôi, nếu không bạn sẽ bị đuổi việc đó)

– Những từ mang nghĩa “so”: Consequently; therefore; thus; accordingly; according to; hence…

Ví dụ: She didn’t sleep enough; therefore, she looked so tired.(Cô ấy không ngủ đủ giấc, thế nên, trông cô ấy mới mệt mỏi làm sao)

– Các mệnh đề độc lập trong một câu ghép cũng có thể được kết nối chỉ bằng một dấu ( ; ). Kiểu câu này được sử dụng khi hai mệnh đề độc lập có quan hệ gần gũi.

– Nếu giữa chúng không có mối quan hệ gần gũi, chúng sẽ được viết tách thành hai câu đơn, tách biệt hẳn bằng dấu chấm.

Ví dụ:

Kết nối bằng dấu ( ; ): I’m studying English; my older brother is studying Math.(Tôi đang học tiếng Anh; anh trai tôi thì đang học toán)

Hai câu tách biệt bằng ( . ): I like coffee. I don’t like soft drink.(Tôi thích cafe. Tôi không thích đồ uống có ga)

HOCHAY.COM – nhận thông báo video mới nhất từ Học Hay: Học Tiếng Anh Dễ Dàng

#hochay #hoctienganh #hocanhvanonline #luyenthitienganh #hocgioitienganh #apphoctienganh #webhoctienganh #detienganhonline #nguphaptienganh #unit2lop7 #tienganhlop7unit2

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giảng Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 2 / 2023

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin được đưa vào tất cả các lĩnh vực. Cùng với sự đi lên của xã hội, ngành giáo dục cũng đã nhanh chóng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào giảng dạy, học tập làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp dạy và học. Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học. Xem công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học. Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ giáo dục và Sở giáo dục, nhận thức được rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học, tôi đã tích cực học tập và đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy trong năm học 2017 – 2018. Nhận thức được vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, tôi đã đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào nhiều môn học. Đặc biệt là môn Tiếng Việt, tôi đã thiết kế được nhiều giáo án điện tử để đưa vào giảng dạy. Qua quá trình soạn giáo án và giảng dạy, tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm. Vì vậy tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2.” II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Mục đích: * Giáo viên: – Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt. – Tìm ra biện pháp khắc phục các tồn tại, khó khăn trong quá trình giảng dạy, điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh. – Tự học nâng cao trình độ tin học, nâng cao kĩ năng sử dụng CNTT. * Học sinh: – Hình thành kĩ năng học cho học sinh, phát triển tư duy sáng tạo. 1/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

– Rèn các phẩm chất cần thiết trong học tập cho học sinh. – Yêu con người, thiên nhiên, quê hương, đất nước qua các bài học. 2. Nhiệm vụ: – Bước 1: Tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin vào môn Tiếng Việt lớp 2 – Bước 2: Tìm hiểu thực trạng khi đưa các bài giảng điện tử vào giảng dạy. – Bước 3: Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc ứng dụng CNTT trong dạy học. – Bước 4: Tìm một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy học khi đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2 góp phần nâng cao hiệu quả dạy học. – Bước 5: Xác định tính thực thi và hiệu quả của việc dạy học môn Tiếng Việt. – Bước 6: Đề xuất các biện pháp trong dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp 2. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: – Thực nghiệm trong chương trình môn Tiếng Việt Lớp 2 – Sử dụng bài giảng điện tử trong môn Tiếng Việt Lớp 2 – Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 2 IV. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: Thời gian nghiên cứu đề tài là năm học 2017 – 2018 ( Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018) – Tháng 9: Khảo sát tình hình thực tế tại lớp. – Từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018: thực hiện các nội dung của đề tài – Tháng 5 năm 2018 hoàn thiện đề tài. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – Phương pháp điều tra – khảo sát: Kiểm tra khảo sát, tìm hiểu thực trạng dạy và học Tiếng Việt lớp 2 – Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu, các thông tin để so sánh. – Phương pháp phân tích tổng hợp: Đối chứng, phân tích các kết quả bằng số liệu thống kê. – Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy trong các tiết học, dạy thực nghiệm áp dụng biện pháp trong các giờ dạy để nâng cao chất lượng dạy học. – Phương pháp kiểm tra đánh giá: Tổng kết, đánh giá kết quả đạt được và những bài học kinh nghiệm. 2/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

B. NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Nhận thức của học sinh lớp 2 hiệu quả nhất là con đường trực quan sinh động. Bởi vậy các phương tiện trực quan rất cần thiết trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt là phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu hút được sự chú ý của học sinh. Trong những tiết học có đồ dùng trực quan đẹp, học sinh sẽ chú ý đến bài giảng hơn và kết quả là học sinh tiếp thu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn. Đối với môn Tiếng Việt, tranh ảnh đồ dùng dạy học Tiếng Việt còn rất hạn chế hoặc có thì lại bé, học sinh sẽ không quan sát rõ và sự tập trung cốt lõi của bài học còn hạn chế. Thế nhưng, những tranh ảnh, đồ dùng của môn Tiếng Việt được tôi áp dụng soạn giảng bằng giáo án điện tử, khi đưa lên màn hình trình chiếu với sự nhấn mạnh bằng cách hiệu ứng tranh thay đổi, chữ đổi màu hay gạch chân… thì mức độ tập trung của học sinh sẽ cao hơn đồng thời nắm bắt được cốt lõi của nội dung bài học hơn. Trong phương pháp dạy học hiện nay luôn coi trọng việc lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò là người giúp các em đi đúng hướng, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Chính vì vậy mà việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến phần mềm và tích hợp phần mềm để soạn giáo án điện tử vào giảng dạy “môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung là cần thiết” 1. Sơ lược những điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một phương pháp khá tích cực, đặc biệt là đối với môn Tiếng Việt. Qua các bài giảng đã truyền thụ đến học sinh, tôi nhận thấy ở các em niềm say mê và hứng thú học tập. Hình ảnh trực quan sinh động, cụ thể giúp học sinh nhớ bài lâu hơn, giờ dạy của giáo viên nhẹ 3/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

1. Khảo sát thực tế a. Giáo viên: + Thuận lợi: Bản thân giáo viên luôn phấn đấu, có lòng yêu nghề mến trẻ, tận tụy với học sinh, tích cực thực hiện mục tiêu nhà trường đề ra. Nắm bắt phương pháp giảng dạy và vận dụng sáng tạo. Có rất nhiều tài liệu, tư liệu phục vụ cho việc soạn giảng như: tải hình ảnh, thông tin, bài giảng tham khảo…từ mạng Internet. Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng, trau dồi chuyên môn qua công tác dự giờ, kiểm tra, chuyên đề, tạo mọi điều kiện hỗ trợ giúp giáo viên giảng dạy tốt… Nhà trường luôn khuyến 4/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

khích giáo viên giảng dạy bằng phương tiện công nghệ thông tin để giúp học sinh hứng thú học tập trước phương pháp mới. Sau khi giảng dạy trên lớp, bài giảng của giáo viên được lưu giữ vào kho bài giảng của nhà trường, tạo điều kiện cho giáo viên có thể tham khảo, sửa đổi hoặc bổ sung giáo án sau phần rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn, giảng dạy ở nhiều năm tiếp theo. + Khó khăn: Nhiều giáo viên trình độ tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và các phương tiện hỗ trợ còn hạn chế. Giáo viên Tiểu học được trang bị kiến thức dạy rất nhiều môn học nên điều kiện nghiên cứu chuyên sâu về một môn học nào đó còn hạn chế. Sách giáo khoa mới dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin. Phương pháp dạy học truyền thống đã chiếm lĩnh một thời gian dài. Nó đi sâu vào tiềm thức và thói quen dạy học của người giáo viên. Vì vậy để đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy là cả một quá trình đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, say mê, tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi học hỏi, sáng tạo trong quá trình dạy học. Thực tế, khi làm một bài giảng điện tử phải bỏ rất nhiều thời gian công sức tìm tài liệu, nghiên cứu phương pháp sao cho có một bài giảng hay thu hút học sinh học tập nên phần lớn giáo viên còn ngại. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế. Điều này chưa thật sự phát huy hết khả năng của việc đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy. b. Học sinh: Về phía học sinh, có những thuận lợi và khó khăn nhất định.Các em học sinh Lớp 2 còn chưa có ý thức nhiều trong việc học tập. Vì thế đa số các em còn chưa có phương pháp học tập, thích chơi đùa, thích nghe kể chuyện, vừa học vừa chơi. * Thuận lợi: – Đối với học sinh tiểu học, khi được tiếp nhận công nghệ thông tin trong tiết học các em thấy thích thú, hưng phấn học tập vì tranh ảnh to, màu sắc đẹp, 5/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

mẫu chữ rõ ràng. Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, nhớ bài lâu hơn. * Khó khăn: Do học sinh mới được tiếp cận với giáo án điện tử nên các em có phần lạ lẫm. Vì thế một số em tò mò, tập trung nhiều vào tranh ảnh, màu sắc mà sao nhã vệc tiếp thu bài. 2. Kết quả khảo sát Qua kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm môn Tiếng Việt, số lượng học sinh học tốt môn Tiếng Việt còn ít. Đặc biệt kĩ năng đọc, viết còn có nhiều hạn chế thể hiện qua bảng tổng hợp sau: Tổng số 39

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Điểm dưới 5

SL

SL

SL

SL

12

30.7

10

25.6

13

33.5

4

10.2

6/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

– Đảm bảo tính vừa sức: Phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, sử dụng phương tiện đúng lúc, đúng chỗ. – Đảm bảo tính hiệu quả: Nâng cao chất lượng giờ dạy. – Đảm bảo tính thẩm mĩ cao: Tránh lạm dụng hình ảnh, ánh sáng, màu sắc lòe loẹt trong các nội dung trình chiếu. – Chỉ đưa những kiến thức trọng tâm của bài vào Slide. Đối với môn Tiếng Việt, mỗi bài học hay mỗi tranh ảnh đẹp được đưa lên màn hình lớn sẽ giúp học sinh chú ý hơn, những từ ngữ trọng tâm trong bài ta có thể đổi màu hoặc gạch chân sẽ giúp học sinh hiểu bài hơn, từ đó giảng bài một cách dễ dàng, giúp học sinh dễ hiểu và làm bài tốt hơn… – Những kiến thức cần nhấn mạnh thì nên chọn hiệu ứng đổi màu hoặc gạch chân chứ không nên chọn hiệu ứng quá sinh động làm cho học sinh chỉ chú ý xem, không chú ý đến kiến thức của bài. – Chọn phông chữ, màu chữ, phông nền, màu nền cho phù hợp. Không nên chọn màu sắc tối, nhợt nhạt sẽ không gây được sự chú ý của học sinh, cũng không nên chọn màu sắc quá lòe loẹt hoặc quá nhiều màu sắc trong một Slide nhìn sẽ rối mắt. – Hiệu ứng chuyển trang cũng nên chọn cho phù hợp, không nên chọn hiệu ứng quá nhanh hay quá chậm hoặc quá sống động ảnh hưởng đến sự tập trung vào bài học của học sinh. II. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH Ngay từ đầu tôi đã hệ thống toàn bộ nội dung các tiết học môn Tiếng Việt ở lớp 2. Phân loại các dạng bài dạy trong chương trình theo từng phân môn, tìm hiểu mục đích mà học sinh cần đạt được trong mỗi tiết đó và tìm ra biện pháp dạy học phù hợp. 1. Nội dung học: * Chương trình Tiếng Việt lớp 2 được chia thành các phân môn sau: – Phân môn Tập đọc – Phân môn Tập viết – Phân môn Chính tả – Phân môn Kể chuyện – Phân môn Luyện từ và câu – Phân môn Tập làm văn 8/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

2. Thời lượng Thời lượng dành cho môn Tiếng Việt khá nhiều. Mỗi tuần học có: 2 tiết tập đọc, 2 tiết chính tả, 1 tiết luyện từ và câu, 1 tiết tập viết, 1 tiết kể chuyện và 1 tiết tập làm văn. CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN I. Những biện pháp chung ( 5 biện pháp) 1. Biện pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt 2. Biện pháp 2: Chú trọng việc dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong giờ học. 3. Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng bài soạn và bài dạy của giáo viên 4. Biện pháp 4: Tăng cường việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt 5. Biện pháp 5: Tổ chức các cuộc thi qua môn Tiếng Việt II. BIỆN PHÁP TỪNG PHẦN 1. Biện pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình chuyển từ giáo dục truyền thụ một chiều, học tập thụ động. Chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng đến hình thành năng lực tự học cho HS dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Đổi mới các hình thức dạy học, làm cho việc học tập của HS trở nên lí thú, gắn với thực tiễn cuộc sống; kết hợp dạy cá nhân với dạy theo nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau. Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, người giáo viên cần nắm chắc nội dung chương trình đổi mới sách giáo khoa Tiếng Việt năm 2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phân dạng các bài học theo nội dung để có phương pháp dạy học phù hợp với từng loại bài cụ thể. 1.1. Phân môn Tập đọc – Phân môn tập đọc học sinh được luyện đọc cả bài văn hay bài thơ theo câu, theo đoạn và cả bài, mang tính chất tổng hợp hơn về cả kiến thức và kĩ năng 9/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

đọc. Vì vậy rất khó khăn trong việc tổ chức luyện đọc theo câu, theo đoạn. Đặc biệt là những bài tập đọc có nội dung dài. – Khi trình chiếu một bài tập đọc giúp các em tập trung chú ý hơn. Các em được quan sát bài đọc, được nghe hướng dẫn cách đọc, cách chia câu, chia đoạn để chủ động đọc. * Cụ thể: Tuần 8, khi dạy bài tập đọc: Bàn tay dịu dàng

LuyÖn ®äc ®o¹n

– Kết quả: Đối với giáo viên, việc tổ chức luyện đọc và rèn các kĩ năng đọc dễ dàng hơn. Đối với học sinh, các em chú ý học và biết cách đọc tốt hơn. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng và thực sự hiệu quả.

1.2. Phân môn chính tả – Khi dạy phân môn này học sinh gặp khó khăn trong việc trình bày bài. Mỗi bài chính tả là một bài văn hay bài thơ. Mỗi thể thơ có cách trình bày riêng. trong đoạn văn có những câu đối thoại khó trình bày đúng. Việc viết mẫu trên bảng lớp đôi khi do vội vàng, giáo viên viết chưa được đẹp hoặc là rất mất thời gian cho sự chuẩn bị. Nếu giáo viên chỉ phân tích bằng lời thì nhiều em vẫn chưa hiểu được dẫn tới trình bày không đúng, hiệu quả bài viết chưa cao. – Khi trình chiếu một bài mẫu sẽ giúp các em dễ dàng định hình cách trình bày . Vì vậy khi sử dụng giáo án điện tử tôi cho các em quan sát cách trình bày 10/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

bài mẫu, phân tích cách trình bày bài. Từ đó học tập được cách trình bài và cố gắng viết đẹp như bài mẫu. * Cụ thể: Ở tuần 14: Chép bài: Câu chuyện bó đũa

11/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

1.4. Phân môn Tập viết: – Đối với phương pháp truyền thống, khi dạy phân môn này giáo viên phân tích và viết mẫu trên bảng lớp đôi khi do vội vàng, giáo viên viết chưa được đẹp hoặc là rất mất thời gian cho sự chuẩn bị. Khi hướng dẫn học sinh có 12/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

một số em ở góc phía giáo viên đứng bị che khuất tầm nhìn rất khó quan sát vì thế hiệu quả tiết dạy chưa cao. – Khi sử dụng giáo án điện tử tôi thiết kế phần chữ viết trên máy tính. Khi trình chiếu học sinh quan sát rất rõ từ điểm đặt bút, điểm dừng bút đến quy trình viết. Tôi cũng có thể đưa thêm các bài viết đẹp của học sinh lớp trước để học sinh học tập, phấn đấu. * Cụ thể: Tuần 26: Tập viết: Chữ hoa X

– Học sinh nắm rõ quy trình viết, học sinh viết đẹp và đúng mẫu hơn. Có mục tiêu phấn đấu nên hiệu quả tiết dạy rất cao.

1.5. Phân môn Luyện từ và câu: Trọng tâm dạy luyện từ và câu ở lớp 2 là giúp các em có một vốn từ ngữ phong phú. Việc đưa tranh ảnh và khai thác tranh ảnh để giúp các em dễ dàng hiểu rõ hơn nghĩa của các từ, giúp các em mở rộng thêm vốn từ một cách tự nhiên, sinh động hơn. Vốn sống của các em còn ít, nhiều sự vật tưởng chừng như rất đơn giản nhưng các em chưa biết dùng các từ để gọi tên các sự vật đó hoặc chưa hiểu hết nghĩa của các từ đó. Ví dụ: Tuần 16: Khi dạy bài Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Từ ngữ về vật nuôi.

13/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

Sau khi cho học sinh quan sát về vật nuôi, học sinh sẽ biết phân biệt và gọi tên chính xác tên các con vật trong tranh: gà, vịt, ngan, ngỗng, thỏ, trâu, đàn bò, …

Bằng hệ thống tranh ảnh đẹp do GV sưu tầm mất nhiều thời gian nhưng được lưu trữ trên máy gọn nhẹ và mang lại hiệu quả cao. Khi mở rộng vốn từ cho HS không phải chỉ nêu được các sự vật, tên gọi các sự vật, tên gọi của từ mà còn phải khai thác để hiểu hết nghĩa của từ và những bản chất thuộc tính của sự vật đó. Bằng một số câu hỏi gợi mở tạo ra hứng thú tò mò, thích khám phá thêm các sự vật khác.. Bằng cách quan sát trực tiếp: Đây cũng là một cách để HS được tiếp cận kiến thức một cách nhanh chóng, ghi nhớ lâu và chính xác.

1.6. Phân môn Tập làm văn: Với phân môn Tập làm văn ở lớp 2, viết những đoạn văn ngắn kể về người thân, cây cối, con vật,… Thực tế trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy rằng nhiều em còn lúng túng khi sử dụng từ và đặt câu. Kĩ năng nói, viết và diễn đạt câu còn yếu. Các em thường viết văn theo cách dập khuôn, máy móc, chắp vvá, khô khan. Học sinh thường tiếp thu bài một cách gượng ép, thụ động và không hứng thú khi học phân môn này. Nếu không có các biện pháp tổ chức phù hợp để gây hứng thú cho học sinh thì các em sẽ tiếp thu kiến thức một cách cứng nhắc, nhiều lần sẽ gây nhàm chán, mất tập trung. 14/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

Muốn bài viết của các em đạt yêu cầu, thầy cô phải là người khơi dậy trong các em những vốn sống mà trẻ đã tích luỹ được từ thực tế và mở ra cho các em những góc nhìn mà các em chưa từng thấy… Ví dụ: Trước khi viết đoạn văn ngắn kể về cây bóng mát, tôi cho học sinh tham quan qua màn ảnh nhỏ một số hình ảnh về một số loài cây bóng mát. Sau khi được quan sát các loại cây, HS biết cách dùng từ chính xác hơn để mô tả, diễn đạt câu đầy đủ, rõ ràng để trả lời các câu hỏi gợi ý

– Trong tranh (ảnh) là cây gì? Cây đó trồng ở nơi nào? – Cây có gì đẹp? Các bộ phận của cây như thế nào? Cách chăm sóc cây ra sao? – Em có suy nghĩ gì về cây? Ví dụ: Cây bàng ngoài sân…..(Học sinh có thể tìm được các từ để nói tiếp như : râm mát, xòe tán rộng đứng sừng sững, đang đâm chồi,,…) Tôi nhận thấy học sinh rất thích kể theo quan sát của mình. Đây là cách phát huy tính tích cực, sáng tạo. Bước đầu đã biết dùng các từ gợi tả, gợi cảm, từ ngữ “đắt” gây bất ngờ thú vị, những câu văn hay và giàu hình ảnh. Tạo điều kiện cho mỗi em được tự do sáng tạo kể theo cách nhìn của mình. Tôi luôn tôn trọng sự sáng tạo trong câu trả lời của c¸c em kh”ng gß Ðp, khu”n mÉu. Biết diễn đạt bằng lời thành câu ngắn gọn, rõ ý, kết nối thành một đoạn văn ngắn. 15/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

Cùng với lời nhận xét khen, động viên các em, kết quả học sinh thực sự thích thú khi học tiết học này. Đồng thời qua đó, giáo viên có thể phát hiện ra những học sinh học tốt và có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển mũi nhọn. Ngoài ra giáo viên cần quan tâm chú ý việc chấm, chữa, nhận xét bài văn để chữa lỗi dùng từ, đặt câu cho HS. Đối với học sinh lớp 2 vốn từ của các em còn rất hạn chế, việc tìm và sử dụng từ còn lúng túng và dùng từ đặt câu chưa chính xác. Một số em viết và nói còn tuỳ tiện, dùng từ sai, diễn đạt lủng củng, câu cộc lốc khô khan, không biết sử dụng các câu có hình ảnh gợi tả, gợi cảm, ,… giáo viên dễ dàng hơn khi sửa chữa kịp thời cho học sinh. Sau nhiều tuần rèn cho học sinh các kĩ năng trên, bài viết của đa số các em đã tiến bộ rất nhiều. Rèn được kĩ năng này, các em sẽ tự tin viết văn khi tránh được lối diễn đạt lủng củng, rườm rà, lặp ý. Có như vậy bài văn của các em sẽ mạch lạc, trong sáng, mang tính chân thực. 2. Biện pháp 2: Chú trọng việc dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong giờ học . Để hoạt động dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh người giáo viên cần: a. Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập. Đầu giờ học, hoặc đầu mỗi phần của bài học, bằng nhiều phương pháp khác nhau, giáo viên nêu vấn đề (câu hỏi) hướng dẫn học sinh vào vấn đề cần giải quyết. Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt, phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được các yêu cầu sau: – Lời dẫn phải xúc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh. – Phải đề cập đến cốt lõi của bài học. – Tạo ấn tượng, trí tò mò của học sinh. b. Sử dụng trực quan hợp lí Đồ dùng dạy học góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cho học sinh. Trực quan có tác dụng minh hoạ cho bài giảng và nó làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, góp phần tạo biểu tượng, cụ thể hoá SGK cho học sinh dễ tiếp thu kiến thức. Trực quan là các yếu tố có khả năng tác động đến tất cả các giác quan của học sinh trong giờ học. Trực quan 16/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

Ngoài việc sử dụng tranh ảnh thật, việc trình chiếu những đoạn video clip có hình ảnh động, gần gũi hấp dẫn giúp học sinh tích cực tiếp thu bài. Với những bài dạy có hình sống động, gần gũi hấp dẫn được học sinh rất yêu thích. Giúp các em có điều kiện tìm tòi, khám phá thêm những điều lí thú, chưa biết về các con vật nuôi trong nhà quen thuộc, các con vật hoang dã mà các em ít được biết.

17/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

Một trong những hình ảnh được trình chiếu mà học sinh yêu thích – Bản thân người thầy là một trực quan sinh động trong giờ học, nó được thể hiện qua giọng đọc, cách thể hiện bài giảng( trực quan âm thanh), cách dẫn dắt vào bài, cử chỉ điệu bộ, thái độ tình cảm khi giảng bài…cách vào bài, chuyển ý hấp dẫn sẽ lôi kéo người học tìm hiểu nội dung bài. – Trực quan có rất nhiều nhưng chúng ta cần sử dụng trực quan như thế nào đem lại hiệu quả tối ưu nhất, đó là vấn đề mà các nhà giáo chúng ta cần lưu tâm. Việc sử dụng đồ dùng trực quan hình ảnh( như tranh ảnh, vật mẫu,…) cần đúng lúc, đúng chỗ, để làm nổi bật những gì giáo viên cần tác động đến học sinh. Ví dụ : Tập đọc: Câu chuyện bó đũa

18/ 28

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

thống câu hỏi phù hợp và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học cho phù hợp với cách giải quyết mục đích ấy. VD: Tiết 16: Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Từ ngữ về vật nuôi. * Mục đích yêu cầu của bài học – Bước đầu tìm được từ trái nghĩa với từ cho trước (BT1); Biết đặt câu với mỗi từ trong cặp từ trái nghĩa tìm được theo mẫu: Ai thế nào?(BT2). – Nêu đúng tên các con vật được vẽ trong tranh (BT3). – Ham thích môn học, yêu quý các con nuôi trong nhà. * Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học cho phù hợp. BÀI TẬP 3: – Mục tiêu là nêu đúng tên các con vật được vẽ trong tranh + Nhiệm vụ của các em là quan sát trong phim có những con vật nào?

+ Các em vừa được xem xong đoạn phim, vậy trong phim có những con vật nào? – Phương án a) gà, vịt, ngan, ngỗng – Phương án b) gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu, cừu, lợn, trâu, bò – Phương án c) lợn, bò và bê, trâu, bò, voi – Vì vậy để nâng cao hiệu quả giờ dạy, giáo viên cần xác định được mục đích của bài lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp để đạt kết quả cao nhất. 20/ 28

5 Ứng Dụng Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ 2 / 2023

Học một ngôn ngữ có vô số lợi ích bao gồm làm cho chúng ta thông minh hơn, xây dựng các kỹ năng đa nhiệm của chúng ta, cải thiện trí nhớ của chúng ta, và làm cho chúng ta cảm nhận hơn. Không có cách nào tốt hơn để kết nối với nền văn hóa nước ngoài hơn là nói ngôn ngữ. Để có những cách thú vị để vượt qua thời gian trên các chuyến bay dài, hãy lướt qua các cuốn sách ngôn ngữ và chơi với các ứng dụng học ngôn ngữ tốt nhất của chúng tôi. Có rất nhiều ứng dụng học tiếng Tây Ban Nha và các ứng dụng học tiếng Pháp có sẵn và để vui chơi khi bạn đang ở đó. Danh sách ứng dụng phổ biến khác bao gồm Ứng dụng miễn phí cho trẻ em, Ứng dụng cho giáo dục.

Duolingo – Học ngôn ngữ miễn phí

Bài học Duolingo thích ứng với phong cách học tập của người dùng. Các bài tập được thiết kế để giúp người dùng học và xem lại từ vựng một cách hiệu quả. Duolingo là một ứng dụng học tiếng Anh tuyệt vời giúp trang trải rất nhiều tài liệu cho người học tiếng Anh ở mọi cấp độ.

Memrise sử dụng một số cách sáng tạo và dễ dàng để ghi nhớ các từ để học tiếng Anh. Trọng tâm của ứng dụng này là giúp người dùng mở rộng vốn từ vựng của mình bằng cách học từ tiếng Anh một cách hiệu quả. Memrise cũng cung cấp một chế độ offline để tiếp tục học mà không cần kết nối internet.

Memrise sẽ bắt đầu sử dụng hệ thống lặp lại khoảng cách của nó để giúp bạn bắt đầu học tấn từ vựng tiếng Anh mới một cách dễ dàng. Memrise cũng có các khóa học để học Ngữ pháp tiếng Anh một cách sáng tạo.

Busuu giúp bạn học tiếng Anh khi đang di chuyển và chất lượng bài học được đảm bảo vì nó dựa trên khung ngôn ngữ CEFR. Các bài học từ sơ cấp đến nâng cao thông qua từ vựng toàn diện, đối thoại bài học, thực hành viết và kiểm tra. Busuu thực sự là một ứng dụng tiếng Anh tuyệt vời nếu bạn muốn cải thiện khả năng nói tiếng Anh của mình.

Với Busuu, bạn có thể nói chuyện với người nói tiếng Anh bản ngữ để thực hành nói tiếng Anh của bạn và đó là một cách tuyệt vời để thực hành nói của bạn.

Nhận quyền truy cập không giới hạn vào ứng dụng được chứng nhận cho giáo viên 4 hoặc 5 sao. Bắt đầu thử nghiệm miễn phí của bạn bây giờ! Các ứng dụng giáo dục được chọn bằng tay bởi giáo viên sẽ cải thiện việc học của con bạn.

Ứng Dụng Học Tiếng Anh Lớp 6 Unit 8 / 2023

Duong: Wow! This gym is great!

Mai: Yeah, I really like coming here. The equipment is modern and the people are friendly. What sports do you do, Duong?

Duong: Well, I can do a little karate, and I play table tennis. Last week I played with Duy and I won for the first time.

Mai: Congratulations! How often do you do karate?

Duong: Every Saturday.

Mai: You’re very fit! I’m not good at many sports.

Duong: I have an idea. You can come to the karate club with me.

Mai: No, I can’t do karate.

Duong: But you can learn! Will you come with me on Saturday?

Mai: Well …. OK.

Duong: Great! I’ll meet you at the club at 10 a.m.

Mai: Sure. Where is it? How do I get there?

Duong: It’s Superfi t Club, on Pham Van Dong Road. Take Bus 16 and get off at Hoa Binh Park. It’s 15 minutes from your house.

Mai: OK. See you then.

Bài dịch:

Dương: Oh! Phòng tập thể dục này tuyệt thật!

Mai: Đúng vậy, mình thực sự thích đến đây. Thiết bị thì hiện đại, mọi người thì thân thiện. Bạn chơi môn thể thao nào vậy Dương?

Dương: À, mình có biết chút chút karate, và mình còn chơi được bóng bàn nữa. Tuần rồi mình có đánh bóng bàn với Duy và thắng lần đầu tiên.

Dương: Vào thứ bảy hàng tuần.

Mai: Bạn thật cân đối! Mình chẳng chơi giỏi được nhiều môn thể thao.

Dương: Mình có một ý. Bạn có thể đến câu lạc bộ karate với mình.

Mai: Không, mình không thể chơi karate được.

Mai: Thôi được.

Dương: Tuyệt! Mình sẽ gặp cậu ở câu lạc bộ lúc 10 giờ sáng.

Mai: Được thôi. Câu lạc bộ ở đâu vậy? Làm sao mình đến đó được?

Dương: Nó là Câu lạc bộ Superfit, trên đường Phạm Văn Đồng. Đi xe buýt số 16 và xuống công viên Hòa Bình. Nó cách nhà cậu 15 phút.