Top 5 # Xem Nhiều Nhất Tự Học Tiếng Khmer Của Ngô Chân Lý Pdf Mới Nhất 5/2023 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

Tự Học Tiếng Khmer Qua Tài Liệu Pdf Vô Cùng Hữu Ích

Tài liệu:

Bài 1   GIAO TIẾP  Chào : Xốc-xop bai, Cô-rúp xua, Xua x’đây, Chum-riêp xua.  Tiếng dùng để chào có nhiều như trên, nhưng thông thường lúc gặp nhau thì dùng tiếng Xốc-xơp-bai có nghĩa là bình an, vui vẻ. Khi chào thì chấp hai tay đưa lên ngực. Khi chào những người già hay ở nơi đông người như hội nghị, mít tinh thì dùng tiếng Cô-rúp xua hay Chum-riêp xua. Lúc chào cũng chấp hai tay đưa lên ngực (chào sư sãi thì dùng tiếng khác- sẽ giới thiệu ở phần sau).  Cảm ơn : Or-cun  Xin : Xôm  Xin lỗi : Xôm tôs hoặc Xôm ót- tôs.  Xin thứ lỗi, tha lỗi : Xôm-ạs-phây-tôs  Mời : Onh-chơnh  Mời ngồi : Onh-chơnh oòng-cui.  Dạ, vâng : Bat, Chas (tiếng bat và chas đều có nghĩa là dạ, vâng, nhưng nam giới dạ thì dùng tiếng Bat, nữ giới dạ dùng tiếng Chas).  Chào anh (chị) bình an, vui vẻ : Xốc-xop bai boong (Câu này cũng được hiểu là khỏe không anh).  Tạm biệt các bạn : Xôm lia bon-đa mưt hoặc Xôm chùm-riêp lia bon-đa mưt.  Xin tạm biệt anh : Xôm chum-riêp lia.            Nếu nói với người lớn hơn và kính trọng ta dùng Xôm cô-rup lia  Mời anh uống nước : Onh-chơnh boong phâc tưc.  Nhà vệ sinh ở phía sau : Bòn-túp tưc nâu khang c’roi.  Anh vui lòng chờ một chút : Boong mê-ta chăm bòn-têch.  Chúng ta đi : Dơng chênh đòm-nơ.  Bài 2   XƯNG HÔ  Tôi : Kh’nhum (Kh’nhum)  Cha  : Âu hoặc Âu-púc hoặc Bây-đa (Từ thường dùng là Âu-púc)  Mẹ : Me hoặc M’đai hoặc Mia-đa  Cha vợ : Âu-púc kh’mêc khang pro-pun  Mẹ vợ : M’đai kh’mêc khang pro-pun  Mẹ chồng : Âu-púc Kh’mêc khang p’đây  Trai : P’rôs [1]  Gái : X’rây  Anh, chị  : Boong  Tiếng boong dùng để chỉ chung anh hoặc chị. Khi muốn chỉ rõ đó là anh trai thì phải nói Boong p’rôs và chị gái : Boong X’rây.   Ví dụ : Anh (chị) có mấy người anh em : Boong miên boong p’ôn pôn-man nec.  Tôi có ba anh và hai chị : Kh’nhum miên boong p’rôs bây nưng boong x’rây pir  Em : P’ôn.  P’ôn cũng gọi chung em trai hai em gái. Khi cần nói rõ đó là em trai hay em gái thì thêm vào chữ P’ôn tiếng P’rôs hoặc X’rây như tiếng Boong ở trên.  Chị dâu : Boong th’lay x’rây  Em dâu : P’ôn th’lay x’rây  Bác trai : Um hoặc Âu-púc thôm  Bác Hồ : Um Hô  Chú : Pu hoặc Mia  Thím : Ming (tiếng thím viết chữ là Ming nhưng nói thì đọc là Minh)  Dì : M’đai ming  Cô : Ming khang âu-púc  Cậu : Mia khang m’đai  Chồng : P’đây hoặc Xoa-mây (Xva-mây)  Vợ lớn : Pro-pun đơm  Vợ bé : Pro-pun chông  Đàn ông góa vợ : Puôs-mai   Đàn bà góa chồng : Mê-mai  Độc thân : Liu  Cô đơn : Nơ liu.  Mồ côi : Com P’ria.  Con : Côn hoặc Bôt  Con đầu lòng : Côn ch’boong  Con út : Con pâu (hoặc đọc là pơ)  Con đẻ : Côn-boong cớt  Con nuôi : Côn thoar   Anh nuôi  : Boong thoa;  Em nuôi : P’ôn thoa)  Con dâu : Côn pro-xa x’rây  Con rể : Côn pro-xa prôs  Con trai : Côn prôs hoặc Bôt-t’ra [2].  Con gái : Côn-x’rây hoặc Bôt-t’rây [3]  Cháu : Chau   Cháu (xưng hô) : Kh’muôi  Ông bà gọi cháu nội, cháu ngoại, thì dùng tiếng Chau. Còn khi ta gọi các em nhỏ cỡ tuổi con cháu mình hoặc con của anh, chị, em mình thì dùng tiếng Kh’muôi. Khi viết hay nói trước quần chúng : Chúng ta phải hành động cho xứng đáng con cháu Bà Trưng, Bà Triệu thì tiếng con cháu ở đây phải dùng tiếng Côn Chau,    Ví dụ : Puốc dơng t’râu thuơ oi xom chia côn chau rô-bos đôn Trưng, đôn Triệu.  Cô (gái chưa chồng) : Niêng cro mum hoặc Niêng canh-nha  Hài nhi : Tia-ruôc (téa-rok) Thiếu nhi : Cô-mar  Nam thiếu nhi : Cô-ma ra  Nữ thiếu nhi : Cô-ma-rây.  Nam thiếu niên : Cô-mar chum-tuông  Thiếu nữ : Cô-ma-rây chum tuông.  Thanh niên : Du-văn hoặc Du-vec-chun  Thanh nữ : Du-vec-tây hoặc Du-vec-nia-ri  Ông : Lôôc (Lok)  Tiếng Lôôk để chỉ những người lớn tuổi, người có chức tước.  Ví dụ : Ông chủ tịch : Lôôc prothiên; Ông sư (tiểu đồng người giữ chùa) : Lôôc nên; Ông bác : Lôôc um…  Bà : Lôôc x’rây hoặc Nec x’rây hoặc Lôôc Chum-tiêu  (Tiếng Lôôc Chum-tiêu dùng để chỉ các phụ nữ có chức tước, giống như tiếng Madame của Pháp)  Ví dụ : Bà Phó Thủ tướng : Lôôc Chum-tiêu Up-pạk-nia-duôc Rot-mun-t’rây.              Bà Bộ trưởng : Lôôc Chum-tiêu Rót-mun-t’rây.  Ngài : Ec-âu-đom (còn đọc là Ec Út-đom).  Ví dụ: Ngài Tỉnh trưởng : Ec-ut-đom Ạ-phi-pal khet.  Ông cụ : Ta (Lôôk tà)  Bà cụ : Di-ây (tiếng di-ây đọc nhanh, dính nhau nghe như Dây)  Chúng ta : Puôc-dơng hoặc Dơng  Chúng tôi : Dơng Kh’nhum  Nó : Via  Thằng : A (còn đọc là À)  Ví dụ: A Ba tâu na bắt hơi = Thằng Ba đi đâu mất tiêu rồi.  Ông ấy (ổng), bà ấy (bả), anh ấy (ảnh) : Coat (Dùng chung cho ngôi thứ ba số ít). Riêng chữ Hắn gọi là Kê.  Gia đình : Crua-xar (Tiếng crua-xar còn có nghĩa là vợ chồng).  Anh (chị) đã có vợ (chồng) chưa? : Boong miên cru-xar tôôch (nhỏ) hơi nâu?  Ông chú di đâu đó : Lôôc pu onh-chơnh tâu na? (Tiếng onh-chơnh dùng ở đây để tỏ sự kính trọng đối với những người lớn).  Cháu đi đâu đó? : Kh’muôi tâu na? (Ở đây không dùng tiếng onh-chơnh vì người mình hỏi thuộc hàng con, cháu).  Anh (chị) có mấy người con : Boong miên côn pôn-man nec. Tôi có 03 con, hai trai, một gái : Kh’nhum miên côn bây: prôs pir, x’rây muôi hoặc nói : Kh’nhum miên bôt bây : bôt t’ra pir, bôt-t’rây muôi.  Anh là con thứ mấy trong gia đình? Boong chia côn ti bôn

Giáo Trình Tự Học Tiếng Khmer

Giáo Trình Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tự Học Tiếng Khmer, Giao An Day Tieng Khmer, Tai Lieu Hoc Tieng Khmer, Download Tài Liệu Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay Nhất, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm, Giáo Trình Học Tiếng Trung Giao Tiếp, Giáo Trình Học Giao Tiếp Tiếng Trung, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Headway, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp New Headway Tập 2, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Văn Phòng, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Theo Chủ Đề, Giáo Trình Giao Tiếp Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Download Giáo Trình Tiếng Anh Trình Độ B, Khmer, Văn Hóa Người Khmer, Từ Điển Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Vus, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Là Gì, Giáo Trình Học Tiếng Anh Mất Gốc, Giáo Trình Tự Học Tiếng Anh ở Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Tại Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 3, Giáo Trình B Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em, Giáo Trình Học Tiếng Tây Ban Nha, Giao Trinh Tieng Anh, Giáo Trình Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh 1, Giáo Trình 60 Bài Tiếng Hàn, Giáo Trình Học Tiếng Đức A1, Giáo Trình Tiếng Anh 10, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Cơ Bản, Mua Giáo Trình Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh We Can!, Giáo Trình Tự Học Tiếng ý, Giáo Trình Học Tiếng ý, Giáo Trình Tiếng Anh Tự Học, Giáo Trình Tiếng ê Đê, Giáo Trình Tiếng Hàn, Giáo Trình Tiếng Anh 1 Đại Học, Giáo Trình Học Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em Hay, Giáo Trình ôn Thi Cao Học Môn Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 5, Giáo Trình ôn Thi Đại Học Môn Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Lào, Giáo Trình Học Tiếng Hoa, Giáo Trình ôn Thi Tiếng Anh B1, Mua Giáo Trình Tiếng Hàn, Giáo Trình Tiếng Anh 11, Giáo Trình Học Tiếng Anh Cho Trẻ Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Của Ila, Giáo Trình Tiếng Anh Cấp 3, Giáo Trình Tiếng Anh Cấp 2, Giáo Trình Học Tiếng Anh Cho Trẻ Mầm Non, Giáo Trình Học Tiếng Anh Từ A Đến Z, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Sơ Cấp 1, Giáo Trình Tiếng Anh Du Học, Giáo Trình Tiếng Anh C, Giáo Trình Tiếng Anh Đại Học, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản 2, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản 1, Giáo Trình Tiếng Anh Cho Trẻ Lớp 1, Giáo Trình Tiếng Anh 2 Đại Học, Giáo Trình Tiếng Anh Cho Trẻ Em, Giáo Trình Học Tiếng Anh Cho Bé, Giáo Trình Tiếng Anh 3 Đại Học, Học Tiếng Hoa Giáo Trình 301, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 4, Giáo Trình Học B2 Tiếng Đức, Giáo Trình Học Nói Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Đại Học Fpt, Giáo Trình Tiếng Anh Bé, Giáo Trình Tiếng Anh 8, Giáo Trình Tiếng Anh 7, Giáo Trình Tiếng Anh 6, Giáo Trình Tiếng Anh 5, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh 4, Giáo Trình Tiếng Anh 3, Giáo Trình Tiếng Anh 2, Giáo Trình Tiếng Anh 123 Lớp 10, Giáo Trình Tiếng Anh 123, Giáo Trình Tiếng Anh 9,

Giáo Trình Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tự Học Tiếng Khmer, Giao An Day Tieng Khmer, Tai Lieu Hoc Tieng Khmer, Download Tài Liệu Học Tiếng Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay Nhất, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm, Giáo Trình Học Tiếng Trung Giao Tiếp, Giáo Trình Học Giao Tiếp Tiếng Trung, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Headway, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp New Headway Tập 2, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Văn Phòng, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Theo Chủ Đề, Giáo Trình Giao Tiếp Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Dạy Tiếng Anh Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cấp Tốc, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Tại Nhà, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Hay, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Giao Tiếp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Pdf, Giáo Trình Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản, Download Giáo Trình Tiếng Anh Trình Độ B, Khmer, Văn Hóa Người Khmer, Từ Điển Khmer, Giáo Trình Tiếng Anh Vus, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Học Tiếng Anh Là Gì, Giáo Trình Học Tiếng Anh Mất Gốc, Giáo Trình Tự Học Tiếng Anh ở Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Tại Nhà, Giáo Trình Học Tiếng Anh Lớp 3, Giáo Trình B Tiếng Anh, Giáo Trình Học Tiếng Anh Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh Trẻ Em, Giáo Trình Học Tiếng Tây Ban Nha, Giao Trinh Tieng Anh, Giáo Trình Tiếng Hàn Sơ Cấp, Giáo Trình Tiếng Anh 1, Giáo Trình 60 Bài Tiếng Hàn, Giáo Trình Học Tiếng Đức A1, Giáo Trình Tiếng Anh 10, Giáo Trình Học Tiếng Hàn Cơ Bản, Mua Giáo Trình Tiếng Anh, Giáo Trình Tiếng Anh We Can!, Giáo Trình Tự Học Tiếng ý, Giáo Trình Học Tiếng ý,

Tự Học Viết Tiếng Nhật Căn Bản Chữ Hiragana Pdf

Tự học viết tiếng Nhật căn bản Hiragana là công cụ hữu hiệu để làm quen với chữ viết tiếng Nhật, giúp người học nhanh chóng nắm vững bộ vần 46 ký tự Hiragana trong tiếng Nhật.

Chữ viết tiếng Nhật bao gồm hai bộ vần biểu âm là Hiragana và Katakana, và bộ Kanji dựa trên những chữ Hán biểu ý. Tự học viết tiếng Nhật căn bản Hiragana được biên soạn kỹ lưỡng nhằm giúp học viên có thể dễ dàng và nhanh chóng nắm vững bộ vần 46 ký tự Hiragana, thường được dùng để viết tất cả những chữ thuần Nhật không viết bằng Kanji. Hiragana là công cụ rất hữu hiệu để bắt đầu quá trình nắm vững chữ viết tiếng Nhật.

Tự học viết tiếng Nhật căn bản Hiragana được biên soạn khoa học, hình thức trình bày hấp dẫn, dễ tiếp cận và nhấn mạnh vào vai trò chủ động của học viên nhằm giúp học viên dễ dàng và nhanh chóng học được cách viết đẹp và nhanh 46 mẫu tự trong bộ vần Hiragana.

Tự học viết tiếng Nhật căn bản Hiragana có một số ưu điểm nổi bật sau đây: – Mẫu tự được trình bày theo 3 dạng: viết bằng bút lông truyền thống, viết tay và chữ in – Chữ được in mờ để học viên tập đồ theo nét – Bài tập đa dạng – Giải thích bổ sung, gồm cả giới thiệu ngắn gọn về nguồn gốc của từng mẫu tự để nâng cao khả năng nhận diện mặt chữ. – Nhiều hình ảnh và ví dụ minh họa – Với những ưu điểm trên, Tự học viết tiếng Nhật căn bản Hiragana là sách luyện viết tiếng Nhật không thể thiếu đối với học viên đang học tiếng Nhật ở mọi lứa tuổi.

Download ebook: PDF

Tiếng Việt Gốc Khmer Trong Ngôn Ngữ Của Miền Tây Nam Bộ

Khu vực miền Tây Nam Bộ có rất nhiều người sử dụng tiếng Khmer vì vậy tiếng Khmer đã được Việt hóa. Mời các bạn tham khảo bài viết, được sưu tập bởi giáo viên tiếng Khmer của trung tâm tiếng Khmer Sài Gòn Vina.

Tiếng Việt gốc Khmer trong ngôn ngữ bình dân ở miền Tây Nam Bộ – Nhìn từ góc độ ca dao:

1. Những tiếng Khmer còn giữ nguyên gốc trong tiếng Việt.

Sim lo (hay sum lo) là món canh của người Khmer nấu bằng bầu, hay lá bình bát dây, đặc biệt nó được nêm bằng mắm bò hóc (prahok), đây là từ người Việt mượn nguyên mẫu để sử dụng.

Vai mang cái nóp tay xách cái lọp cái lờ

Cái lộp theo tiếng Khmer là dụng cụ đan bằng tre, dùng để bắt cá tôm. Một đầu của lộp có hom bện bằng tre vót cỡ chiếc đũa ăn, hình phễu, cá tôm, rùa rắn vào được nhưng không thể ra. Nông dân miệt này ai cũng biết, cũng dùng lộp để bắt thuỷ sản.

2. Những từ Khmer được Việt hoá.

Từ tiếng Khmer nhưng khi đi vào tiếng Việt, người Việt, người Hoa có cách phiên âm của riêng mình. Dần dần nó bị chuyển cả về hình thức ngữ âm, lớp từ này khá phổ biến trong ngôn ngữ bình dân vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Có điều người ta nói, người ta viết nhưng ít khi chú ý nguồn gốc của nó có từ đâu.

Cà Mau khỉ khọt trên bưng

Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là Tuk Khmau, nghĩa là nước đen mà thành. Nguyên cớ là vùng rừng U Minh gồm Cán Gáo, Tân Bằng, Trèm Trẹm, Cái Tàu và phía bên hữu ngạn sông Ông Đốc, nước ngập quanh năm, nước tích tụ lâu ngày chảy ngang qua rừng đầy lá mục của dừa nước, tràm, gừa ráng, choại, dớn, lát, sậy, năn, cỏ nước mặn nên nước màu vàng đậm như nước trà, nhiều khi đen, có mùi hôi và vị phèn chua, mặn.

Chợ Sóc Trăng chà gạo lộn trấu càng,

Theo Lê Hương thì Sóc Trăng là do tiếng Khmer đọc trại ra từ chữ Srok Tréang có nghĩa là bãi sậy vì ngày xưa đất Sóc Trăng có nhiều lau sậy hoang vu. Ông còn nêu truyền thuyết khác, theo đó thì đất này (tại ấp Sóc Vồ ngày nay) vào thời Nguyễn, giặc Xà Na Téa và Xà Na Tua dùng làm kho chứa bạc, kho chứa vũ khí, kho chứa lương thực chống lại triều đình. Do đó Sóc Trăng là do chữ Srok Kh’leang đọc trại mà ra.

Vương Hồng Sển lại cho rằng: Theo quyển Petit Cours de Géographie de la Basse Cochinchine par Trương Vĩnh Ký thì Sốc Trăng (Sóc Trăng) là tên dân gian của Nguyệt Giang tỉnh (tỉnh Sông Trăng). Tên này có nguồn gốc Khmer là Péam prêk sròk khlẵn (di cảo Trương Vĩnh Ký trong le Cisbassac).

Péam là vàm, prêk là sông, sròk là sốc, khlẵn (kh’leang) là kho bạc. Nguyên đời vua Cơ Me (Khmer) có đặt một kho chứa bạc nơi đây. Đến đời vua Minh Mạng, đổi tên chữ ra Nguyệt Giang tỉnh vì triều đình đã ép chữ sốc biến ra chữ sông, chữ kh’leang ra trăng và đổi thành nguyệt. Nhà học giả này còn khẳng định Sóc phải viết có dấu ô, tức Sốc mới đúng!

Bến Tre nhiều gái má hồng

Theo cụ Vương Hồng Sển thì Bến Tre vốn là xứ sinh sản và sản xuất nhiều cá tôm, cho nên xưa, người Khmer gọi là Srok treay (đọc là sốc tre), nhưng sau này người Khmer gọi theo người Kinh là bến có nhiều tre để phân biệt với địa danh Cần Thơ, cũng có nhiều tre, người Khmer gọi tre là rusei, nên có hai địa danh rành rẽ: prêk rusei (sông tre): chỉ Cần Thơ/prêk kompong rusei để chỉ Bến Tre.

Hội nghiên cứu cổ học Đông Dương, năm 1903 ấn hành quyển khảo cứu đặc biệt (monographia) về tỉnh Bến Tre trong đó có đoạn (lược dịch): Bến Tre xưa, người Khmer gọi là sốc tre, vì trong xứ trên các giồng có tre mọc đầy. Cụ Sển cho biết thêm “theo tôi (tức Vương Hồng Sển) đây là dịch sai hai chữ Bến Tre. Tre đây là treay của Khmer, phải dịch là cá (…). Lẽ đáng gọi Bến Tre là Ngư Tân, hoặc Bến Cá: srok kompong treay”.

Mỹ Lồng là địa danh nổi tiếng với nghề làm bánh tráng ở đây (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc). Mỹ Lồng có nguồn gốc từ chữ Srok Mi Lôn = xứ, xóm của nàng tên Lôn.

Anh về xứ Chắc Cà Đao

Chắc Cà Đao: Tên một con rạch và cũng là tên một chợ nhỏ (nay là thị trấn An Châu) gần thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Học giả Vương Hồng Sển, ghi lại hai giải thích là:

Theo ông Nguyễn văn Đính, thì địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khmer chắp kdam (bắt cua) mà ra vì vùng nầy xưa kia có nhiều cua. Theo nhà văn Sơn Nam, Chắc Cà Đao do chữ Prek Pedao; Prek = rạch; pédao = loại dây mây; rạch có nhiều dây mây.

Và ông nghĩ rằng giả thuyết của Nguyễn Văn Đính hợp lý hơn.

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Người Khmer thời trước gọi vùng đất Mỹ Tho là srock mé sa, mi so (di cảo Trương Vĩnh Ký trong le Cisbassac). Nghĩa là xứ (srock) có nàng con gái (mé) có nước da trắng (sa, so). Khi sang Việt ngữ, dân gian gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ srock,chỉ còn giữ lại mi so và biến âm sang mà thôi.

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng Phong Điền

Vương Hồng Sển khẳng định chắc chắn rằng Cái Răng là vùng kênh rạch ngày trước có nhiều ghe của người Khmer chở cà ràn đi bán. Cà ràn là lò bằng đất nung, có hai phần, phía trước rộng là chỗ chứa củi đang chụm, vừa là nơi chứa tro và than đỏ để làm thành cái bếp nướng (nướng kẹp tre), và phần lò lửa, trên miệng có gắn 3 cái chấu (ông táo) để bắc nồi ơ.

Cà ràn thông dụng trong vùng Tân Châu, Châu Đốc, ở nhà sàn, đáy của cà ràng giữ vai trò bảo vệ cái sàn chống hỏa hoạn. Tương tự, cà ràng cũng rất được dân chài lưới, hoặc những ghe có người sống như nhà lưu động ưa dùng vì tiện lợi. Chính từ cà ràn được các bản đồ thời Pháp phiên âm thanh caran và biến âm dần thành Cái Răng như ngày nay.

Vàm có nguồn gốc từ tiếng Khmer: péam = cửa sông, nơi một con sông nhỏ (rạch) chảy vào con sông lớn. Ở đồng bằng miền Tây Nam Bộ có nhiều sông rạch, do đó có rất nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ vàm như Vàm Cống (thuộc Gò Công), Vàm Nước Trong (Kiến Hòa), Vàm Sông Thượng (Cần Thơ), Vàm Nao (An Giang), Vàm Tấn ở Sóc Trăng.

Anh qua Vàm Tấn anh đến Cù Lao

Trương Vĩnh Ký có nói chữ péam trong tiếng Khmer có nghĩa là vàm thì theo ông Vương Hồng Sển, dẫn theo La Cochichine et ses habitants của Baurac, trang 362 thuật lại rằng trào đàng cựu, cho đến lối 1858, vàm Đại Ngãi còn được gọi là Vàm Tấn (péam senn), là một bến nước quan trọng tiếp đủ các thuyền đi biển đủ hạng từ trung Quốc, Tân Gia Ba, Xiêm La, Cam Bốt tụ tập rất náo nhiệt để trao đổi, mua chác lúa gạo, tơ lụa, hàng vải, cá mắm, mắm muối, đồ gốm, chén bát, sừng trâu, ngà voi, lông chim, sáp, mật ong. Đại Ngãi là từ Hán Việt của địa danh này.

Nước Ba Thắc chảy cắt như dao

Theo di cảo của Trương Vĩnh Ký, Ba Thắc là Păm prek Bàsàk. Đây là tên gọi tiếng Khmer của một vị thần hay còn gọi là nặc tà, ông tà của người Khmer, có miếu thờ ở Bãi Xàu cũ. Đại danh Ba Thắc bên Campuchia cũng có.

Tương truyền ông Ba Thắc là một vị hoàng tử người Lào đến sống vùng đất trên đường đi Tham Đôn, Mỹ Xuyên ngày nay. Khi ông chết người dân quanh vùng lập miếu thờ. Lúc đầu miếu được cất theo kiến trúc Khmer bằng cây nhưng về sau, năm 1927, ông Lê Văn Quạnh và một số thân hào trong vùng đã cất lại miếu theo kiến trúc Trung Hoa dạng bán cổ bán kim và đề là Ba Thắc Cổ miếu. Di tích này đến nay vẫn còn.

Vĩnh Long ( đất này người cố cựu còn gọi là đất Vãng gần với Vũng. Từ địa danh Vũng Luông – Kompong Luông; biến dần ra Vũng Luông, rồi Vãng Luông. Tên Vĩnh Long có từ năm 1832 khi vua Minh Mạng đổi ra Hán tự).

Đồng Tháp Mười (tiếng Khmer là Thnor Mo Roy nghĩa là đường lộ (thnor), số 100 (mo roy), Đồng Tháp Mười còn có tên khác nữa là Présah Préam Loveng); tiếng Việt gọi Đồng Tháp Mười tức chỉ vùng đồng có cái tháp mười tầng, hiện tháp đã không còn, chỉ còn lại vết tích của nền đất và trong ký ức của những lão nông tri điền.

Châu Đốc (người Khmer gọi là srôk (xóm, xứ) méât (miệng mồm) cruk (heo): xứ miệng heo); Kế Sách, một huyện của Sóc Trăng, nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hoá tiếng Khmer: k’sach.

Sa Đéc, thị xã của tỉnh Đồng Tháp xuất phát từ Phsar Dek, phsar là chợ, dek là sắt); Trà Vang hoặc Trà Vinh xuất phát từ âm Khmer: Préah trapéang, và gắn liền với sự tích: không biết có từ bao giờ, năm đó, trong một trận nước lụt dân làng thấy một tượng Phật trôi tấp vào bờ ao, liền rước về một gò cao, cạnh đó xây chùa thờ phượng.

Chùa được đặt tên Bodhisalareaj, nay gọi là chùa Ông Mẹt, tên vị sư cả đầu tiên. Trapéang được Việt hóa thành âm Trà Bang, rồi Trà Vang, sau bị nói trại thành Trà Vinh. Ở vùng Ngã Năm (Sóc Trăng) đi Long Mỹ (Hậu Giang) cũng có địa Trà Ban (trapéang: ao vũng) cùng nét nghĩa và nguồn gốc vừa phân tích.

Những danh từ chỉ động, thực vật, đồ vật.

Ngoài những địa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer đã được Việt hoá còn có những từ gốc Khmer khác chỉ các loài động, thực vật hay đồ vật cũng đi vào ngôn ngữ tiếngViệt và tham gia bình đẳng trong các hoạt động giao tiếp thường nhật.

Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

Cá chốt, tiếng Khmer là trey kanchos, khi đi vào ngôn ngữ phổ thông nó đã được Việt hóa thành chốt.

Trời mưa mát đất, con cá lóc nó thoát khỏi nò

Tiếng Khmer có trêy rot chỉ một loại cá nước ngọt, cá này có rất nhiều ở vùng đồng bằng Cửu Long. Ở Bắc, Trung Bộ gọi là cá chuối, cá quả, cá tràu.

Bầu dùng chỉ một loại ghe lớn. Tiếng Khmer có xòm pầu tức ghe bầu; nói chi xòm pầu nghĩa là đi ghe bầu. Ca dao có câu:

Con quạ nó đứng đầu cầu

Một loại ghe khác là ghe chài, danh từ ấy cũng được kết hợp hết sức độc đáo:

Chú tôi trồng mía trồng khoai

Thím ghe chài là hình ảnh hoán dụ chỉ người đàn bà đi trên ghe. Ghe chài là loại ghe có trọng tải lớn. Khmer có từ tuk pokchay. Tuk là tiếng Khmer nghĩa là ghe; còn pokchay nghĩa là chở đủ thứ, đó là tiếng Triều Châu đã được Khmer dùng như là tiếng Khmer.

Người Việt dịch chữ tuk ra chữ ghe, nhưng lại mượn chữ pokchay đọc thành chài. Theo Bình Nguyên Lộc người Khmer còn gọi ghe chài là thwe.

Trắng da vì bởi má cưng

Bưng được Việt hóa từ chữ trapéang: vũng, ao; lúc đọc là trà bang, trà vang, sau rút lại còn bang rồi biến âm thành bưng. Bưng lại kết hợp với từ Hán Việt biên (bờ phía ngoài) rồi đọc thành bưng biền.

Những từ ngữ không xác định được nguồn gốc.

Đây là những từ vừa đồng âm vừa đồng nghĩa với tiếng Việt. Chúng tôi tra cứu nhiều tài liệu và đồng thuận với nhiều ý kiến cho rằng khó bề xác định những từ này có gốc từ tiếng Khmer được tiếng Việt vay mượn hay ngược lại nó có nguồn gốc từ tiếng Việt, được đồng bào Khmer vay mượn. Xin nêu một số ví dụ tiêu biểu sau đây:

Chuối non vú ép chát ngầm

Ép là đẩy dính sát vào nhau, làm áp lực, người Kinh dùng từ ấy, trong khi người Khmer có tiếng ép, bòng-ep, cùng nghĩa.

Canh chua điên điển cá linh

Cá linh (không rõ Khmer – Việt hay Việt – Khmer, bởi trong ngôn ngữ Khmer cũng có từ linh: chỉ loài cá!).

Xuống lên lên xuống đã quen

Trong ngôn ngữ Khmer có tòn tenh oi cham, tức lặp đi lặp lại nhiều lần cho dễ nhớ, chuyển sang chữ tòn ten của Việt ngữ có nghĩa là lủng lẳng. Không biết ngôn ngữ nào vay mượn của ngôn ngữ nào?

Bình Đông là xứ quê mùa

Tiếng Khmer kêu cà na là kana. Cà na là loại cây có loại màu đen, có loại màu xanh lợt, có loại màu trắng. Cà na trong tiếng Việt còn được gọi là tráp (Bắc Bộ). Cà na là từ ngữ trở thành tên gọi của một chi trong khoa học thảo mộc (canarium), bắt nguồn từ tiếng Nam Dương (Indonesia), Khmer hoặc Việt?

Thầy anh lên xuống xuống lên

Hên: may mắn. Khmer có hêng, vừa đồng âm vừa đồng nghĩa. Như vậy hên chắc chắn là từ ngữ của miền Nam, có phải gốc Khmer hay không thì chưa chắc chắn.

Ngó lên con ác lăng xăng

Người Việt nói ém: dấu mất, Khmer cũng nói ém cùng nghĩa. Chúng ta hãy xem câu ca mang chức năng hài hước sau đây:

Anh như du kích ém quân

Kết luận:

Một là, ngoài hệ thống từ Hán Việt, các từ vay mượn từ tiếng Anh, tiếng Pháp thì tiếng Khmer là một bộ phận có mặt và tồn tại trong ngôn ngữ tiếng Việt. Có số ít vẫn được dùng được dạng thức phiên âm, số khác được chuyển sang ngữ âm Việt ngữ.

Chúng có nguồn gốc từ Khmer, nhưng chúng ta dùng quá lâu đời nên đã hoàn toàn Việt hóa, chúng ta không hề nghĩ đến đó là những chữ ấy có nguồn gốc từ đâu. Nhiều hơn cả là lớp từ vựng mà cả tiếng Việt lẫn tiếng Khmer đều tồn tại, vấn đề ai mượn của ai tức nguồn gốc chính xác của nguyên ngữ là vấn đề được đặt ra những không dễ giải quyết thấu đáo. Hy vọng sẽ đi sâu hơn đề tài này vào một dịp khác.

Hai là, qua ngôn ngữ, cụ thể hơn là ngôn ngữ ấy ẩn chứa trong những câu ca lời hát của bình dân miền quê Tây Nam Bộ chúng ta có thể nhận định sự giao lưu văn hóa, ngôn ngữ diễn ra một cách tự nhiên của hai chủng tộc sống gần nhau, và là một điểm đặc thù của nền văn hóa các tộc người trên thế giới.

Hy vọng sự sưu tập này sẽ giúp các bạn học viên đang theo học tại trung tâm tiếng Khmer Sài Gòn Vina có thêm tài liệu để tham khảo. Các bạn vui lòng liên hệ:

Nguồn: https://saigonvina.edu.vn