Thực Trạng Sách Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • 3 Thách Thức Trong Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam
  • Chương Trình Thí Điểm Tiếng Anh Cho Giảng Dạy Ở Việt Nam
  • “đau Đầu” Về Cách Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam
  • Chính Sách Về Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam Được Xây Dựng Từ Đâu?
  • Dạy Bé Cách Đánh Vần Tiếng Việt Đúng Cách
  • Sách là nguồn cung cấp tri thức và bất tận cho chúng ta ở bất kì lĩnh vực nào. cũng không thể đạt hiệu quả cao nếu thiếu đi những cuốn sách bên mình. Các cuốn sách dạy tiếng Anh ở Việt Nam vô cùng phong phú về loại sách và các kĩ năng cho người học tham khảo. Tuy nhiên những cuốn sách dạy tiếng Anh ở Việt Nam có một số hạn chế nhất định làm ảnh hưởng tới việc học ngoại ngữ này.

    Hạn chế trong những cuốn sách dạy tiếng Anh ở Việt Nam

    Theo nhiều người đánh giá các loại sách học tiếng Anh ở nước ta mặc dù được thiết kế khá bắt mắt hấp dẫn nhưng nội dung thường không viết theo đặc thù cách học ngôn ngữ của người Việt. Người Việt Nam thường mắc phải những lỗi đặc thù do ngôn ngữ mẹ đẻ trong quá trình học tiếng Anh vì vậy những cuốn sách cần được viết riêng theo kiểu Việt Nam.

    Các cuốn sách dạy tiếng Anh ở Việt Nam chưa có sự bám sát trong tương quan giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Hệ thống , âm sắc ngữ điệu giữa tiếng Anh và tiếng Việt có sự khác nhau cơ bản vì vậy đòi hỏi các tác giả nhìn nhận chính xác đề xuất bản những cuốn sách cho phù hợp, gần gũi với cách học của người Việt

    Một vấn đề gặp phải trong các cuốn sách dạy tiếng Anh ở nước ta thường mắc phải chính là cấu trúc các bài học thường giống nhau. Các bài học thường lặp đi lặp lại các phần từ vựng, , nghe, viết…dẫn đến sự nhàm chán với cả người dạy và học. Các cuốn sách cần được xây dựng theo hướng khác lạ, đêm lại hứng thú cho người học và dạy sẽ đem lại hiệu quả cao hơn

    Ngoài ra các cuốn sách dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng của ta thường tập trung quá nhiều vào phần ngữ pháp, điều đó khiến cho kỹ năng khác như nghe, nói, viết bị xem nhẹ làm cho người học quá tập trung vào ngữ pháp, phát triển không đều các kĩ năng còn lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam Không Hiệu Quả?
  • Top 9 Phần Mềm Dạy Viết Tiếng Trung Miễn Phí Trên Ios, Android
  • Top10 App, Phần Mềm Học Tiếng Trung Trên Máy Tính Và Điện Thoại (Update 2022)
  • Giới Thiệu Về App Bé Vui Học Chữ Tiếng Việt
  • Những App Học Tiếng Việt Tốt Nhất Cho Trẻ Độ Tuổi Mầm Non
  • Thực Trạng Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Học Tiếng Anh Ở Việt Nam Kém Hiệu Quả
  • Phương Pháp Dạy Học Từ Vựng Tiếng Anh Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Thực Trạng Sử Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Ở Trung Học Phổ Thông (Thpt) , Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Lý Do Học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng
  • Tuyển Giáo Viên Dạy Tiếng Việt Cho Người Hàn Quốc Tại Việt Nam Làm Việc Từ Xa
  • THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH HIỆN NAY

    Hiện nay, số lượng cơ sở dạy ngoại ngữ tăng theo từng năm và chiếm hơn 40% tổng số các cơ sở dạy văn hóa ngoài giờ của cả nước, các trung tâm, loại hình giảng dạy ngoại ngữ cũng tăng đáng kể, tổng số học viên học ngoại ngữ chiếm gần 70% lượt người tham gia học các loại hình văn hóa ngoài giờ. Điều này cho thấy nhu cầu học và dạy ngoại ngữ ngày một tăng nhanh.

    Nhu cầu học ngoại ngữ tăng nhanh – đâu là nguyên nhân?

    Ngày nay, tiếng Anh là được công nhận là ngôn ngữ quốc tế được sử dụng chung và phổ biến trên toàn thế giới. Kể từ khi Việt nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, ngày càng nhiều tập đoàn, công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam mở rộng thị trị trường và hợp tác kinh doanh. Vì vậy, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực bắt buộc ngoài điều kiện có trình độ chuyên môn cao thì khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc và giao tiếp phải chuyên nghiệp, đây chính là vần đề nghiêm trọng của người lao động và người sử dụng lao động. Do vậy việc giao tiếp tốt bằng tiếng Anh sẽ giúp cho mọi người có nhiều cơ hội làm việc tại các công ty nước ngoài với mức lương cao và có thể thăng tiến nhanh hơn trong công việc.

    Chị N.H.A, 29 tuổi, hiện đang công tác tại một công ty nhập khẩu thiết bị máy móc chia sẻ: ” Một lần giám đốc công ty có một cuộc giao dịch với khách hàng là người nước ngoài nên đã đề xuất mình đi cùng. Tuy nhiên, do khả năng tiếng Anh còn hạn chế, bản thân không tự tin nên đã nhường cơ hội đó cho người khác và từ đó ít được sếp để ý và cất nhắc trong công việc “. Đó là một trường hợp điển hình chứng tỏ tầm quan trọng của ngoại ngữ trong đời sống và công việc hiện nay.

    Một thực tế đáng lo ngại là hiện nay việc áp dụng các giáo trình dạy tiếng Anh tại các trường trung học phổ thông mang lại hiệu quả không cao, khiến cho các bậc phụ huynh và học sinh không hài lòng.Đa số học sinh sau 7 năm học tiếng Anh ở bậc phổ thông,các em không thể nghe, nói, đọc, viết. Nhiều cuộc khảo sát gần đây cho thấy kết quả rất bi quan: sau khi học hết trung học cơ sở (lớp 9), học sinh chỉ có thể nghe nói được những thông tin cơ bản như chào hỏi, tên tuổi, chứ không thể kể lại được một câu chuyện khoảng 100 từ. Nhận biết về điều này, nhiều phụ huynh đã chủ động đưa con em mình đến các trung tâm, trường ngoại ngữ để trẻ có thể tiếp xúc với các chương trình học thực tế để rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.

    Tiếng Anh đã trở thành môn học thiết yếu ngay cả trong môi trường tiểu học

    Phần lớn người đi làm đều cho rằng kiến thức tiếng Anh mà mình đã hấp thụ từ trường lớp không đủ để ứng dụng vào thực tế giao tiếp, vì lý do đó, dù rất bận rộn với công việc và gia đình nhưng nhiều người đi làm vẫn cố gắng dành thời gian để học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng.

    Chuyện những sinh viên sắp ra trường ” chạy đôn chạy đáo” đi lo chứng chỉ tiếng Anh không phải vấn đề mới, song để thực trạng này chấm dứt thì còn phụ thuộc vào ý thức của mỗi người, nhiều bạn có trong tay tấm bằng cử nhân nhưng cũng chỉ vì kém tiếng Anh mà thất nghiệp. Hiện nay, nhiều người cho rằng để kiếm được việc làm lương cao thì tiếng Anh chính là “chiếc chìa khóa vàng” để mở ra cánh cửa tiến thân đối với không ít các bạn trẻ.

    Theo một chuyên viên tuyển dụng của công ty Navigosearch – công ty chuyên cung cấp nhân lực cao cấp cho các tập đoàn, công ty của nước ngoài cho biết “… ngoài yếu tố bằng cấp, kinh nghiệm, kiến thức, thì hiện nay thông thạo ngoại ngữ (nghe, nói, đọc, viết) đã trở thành yêu cầu hàng đầu của các nhà tuyển dụng đối với các ứng viên…”.

    “Loạn” trung tâm ngoại ngữ

    Hiện nay, với chủ trương xã hội hóa giáo dục, không chỉ ở thành phố Hồ Chí Minh mà ở tất cả các tỉnh, thành phố lớn khác, người người đua nhau học ngoại ngữ. Nhưng phải khẳng định rằng, không ở nơi đâu có số lượng trung tâm ngoại ngữ nhiều, phong phú, đa dạng như ở Sài Gòn. Các trung tâm đào tạo tin học, ngoại ngữ đã đua nhau mọc lên như nấm. Thế nhưng, số lượng nhiều, chất lượng lại đang bị… thả nổi, thậm chí nhiều địa chỉ treo bảng đào tạo, nhưng lại không có chương trình đào tạo bài bản nào mà vẫn sẵn sàng cấp chứng chỉ khi học viên có nhu cầu. Đó là thực trạng khá phổ biến hiện nay.

    Xã hội có “cầu” ắt sẽ có “cung”, do vậy trước nhu cầu quá lớn của xã hội, việc các trung tâm, trường ngoại ngữ mọc lên như nấm là điều hiển nhiên. Nhìn ở khía cạnh nào đó thì phải công nhận việc gia tăng đáng kể số lượng trường ngoại ngữ đã góp phần rất lớn trong việc đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho người dân. Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn của Nhà nước, việc gia tăng số lượng trường, trung tâm ngoại ngữ hiện nay cũng không nằm ngoài chủ trương đó, tuy nhiên đào tạo cái gì, đào tạo như thế nào thì chỉ có trung tâm và người học mới biết được. Trong khi đó, các đơn vị quản lý vẫn mặc nhiên cấp phép, dù biết chắc rằng, sẽ không quản lý nổi một khi các trung tâm này đi vào hoạt động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Ngoại Giao Nói Về Việc Tình Nguyện Viên Mỹ Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam
  • Kinh Doanh Giáo Dục Anh Ngữ Tại Việt Nam
  • Dạy Tiếng Anh Sẽ Trở Nên Lỗi Thời?
  • Chiến Lược Đại Dương Xanh (P4: Case Study: Thị Trường Dạy Học Ngoại Ngữ)
  • Top 10 Trung Tâm Dạy Tiếng Anh Tốt Quận 6,2020
  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Học Đường Là Gì? Thực Trạng Văn Hóa Học Đường Hiện Nay
  • 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm
  • Văn Hóa Học Đường: Bản Chất, Nội Dung Và Biện Pháp Xây Dựng
  • Thế Nào Là Văn Hóa Học Đường
  • Từ Vựng Tiếng Anh Về Văn Hóa
  • Văn hoá học đường là một môi trường rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp, vấn đề xây dựng văn hoá học đường phải được coi là trọng tâm và quan trọng nhất trong từng trường học. Nếu môi trường học đường thiếu văn hoá thì không thể làm được chức năng truyền tải những giá trị kiến thức nhân văn cho thế hệ trẻ.

    Môi trường giáo dục là nơi đào tạo những lớp người có tri thức để phục vụ xã hội. Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là giường cột của nước nhà. Môi trường giáo dục lành mạnh là điều kiện tiên quyết để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân tốt có tài năng, đạo đức. Trường học là nơi rèn đức, luyện tài, trang bị kiến thức cho học sinh. Trong môi trường này, học sinh phải biết về trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân đối với thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ khác.

    Vậy thực trạng văn hoá học đường ngày nay như thế nào? Phần lớn thế hệ trẻ trong nhà trường hiện nay có kiến thức rất rộng, nhanh nhạy trong nắm bắt thông tin có sức khoẻ tốt, tinh thần cầu thị trong học tập, khả năng ứng dụng những kiến thức học vào thực tiễn cao, quý trọng thầy cô, đoàn kết với bạn bè sống có kỷ cương, không ngừng phấn đấu vươn nên trong học tập và trong cuộc sống. Nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ đang ứng xử một cách vô văn hoá. Nhà tư vấn tâm lý Phạm Thị Thuý cho rằng: Văn hoá ứng xử học đường Việt Nam đã ở vào cấp độ báo động đỏ. Quá nhiều hành vi thiếu văn hoá của cả học sinh và giáo viên. Văn hoá học đường đang xuống cấp nghiêm trọng, là sự xuống cấp đáng sợ nhất của một nền giáo dục. Hiện có rất nhiều người đồng tình với ý kiến này khi cho rằng văn hoá ứng xử học đường đang bị xem nhẹ. Nhà trường chỉ tập trung vào việc dạy kiến thức tự nhiên xã hội mà quên đi giáo dục nhân cách sống cho học sinh. Thực tế cho thấy trong môi trường học đường, nơi văn hoá được coi trọng, đượcxây dựng và phát huy lại đang diễn ra những điều thiếu văn hoá. Trong môi trường giáo dục hai mối quan hệ chính là quan hệ giữa thầy và trò và quan hệ giữa các trò với nhau. Trong đó mối quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ cốt lõi nhất để xây dựng môi trường giáo dục. Theo thống kê của Bộ giáo dục đào tạo, từ đầu năm học 2009-2010 đến nay cả nước đã xảy ra gần 1600 vụ học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học, trong đó có các vụ án hình sự ngày càng gia tăng. Học sinh đánh nhau không chỉ dùng chân tay hay cặp sách nữa mà là những hình ảnh các học em sinh mặc đồng phục tuổi từ 10 đến 18 cầm dao, phớ, kiếm và cả súng tự chế hay súng mua chui trên thị trường để “Xử nhau” chỉ vì những lí do rất trẻ con như “nhìn đểu”, không cho chép bài, nói xấu, ghen tuông hoặc chỉ đơn giản là đánh cho bõ ghét.

    Không dừng lại ở việc đánh lộn lẫn nhau học trò hiện nay yêu quá sớm, yêu nhiều và quan niệm yêu gắn liền với tình dục đã để lại những hậu quả khó lường. Có những bạn trẻ đứng trước nguy cơ vô sinh hoặc đã bị vô sinh do nạo hút thai ở tuổi dậy thì, sức khoẻ giảm sút, tâm lý tổn thương….Đã có rất nhiều bậc phụ huynh khi đưa con gái vào bệnh viện vì con đau bụng dữ dội mới tá hoả khi nhận được tin dữ con gái họ đã mang thai. Không ít những cô cậuđã phải làm cha, làm mẹ ở độ tuổi “ăn chưa no lo chưa tới” do quan niệm quá thoáng về tình yêu.

    Văn hoá ứng xử giữa học trò với nhau ngày nay mang nhiều màu sắc biến tướng. Tình trạng kết bè, kết phái tạo thành băng, hội cũng là vấn đề nhức nhối nó không những làm ảnh hưởng đến môi trường giáo dục mà còn làm cho xã hội quan tâm lo lắng. Hiện tượng lập băng nhóm rồi đi cướp, trấn lột, dằn mặt lẫn nhau, thanh toán ân oán cá nhân của học trò làm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với các nhà làm công tác giáo dục và quản lí giáo dục.

    Từ trước đến nay, chúng ta vẫn nghe nhiều về đạo thầy – trò (Đạo làm thầy và đạo làm trò). Quan hệ thầy trò xưa kia là mối quan hệ đáng kính và đáng chân trọng. Người xưa có câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” nghĩa là dạy một chữ cũng là thầy mình mà dạy nửa chữ cũng là thầy và lấy ông thầy làm trung tâm, học trò nhất nhất phải nghe theo, coi thầy là tấm gương để học theo. Cách đây hơn hai nghìn năm Khổng Tử bàn đến mối quan hệ Quân – Sư – Phụ (Vua – thầy – cha)tức là học trò kính thầy như kính vua, kính cha. Những quan niệm coi thầy là cha còn ăn sâu tới nỗi khi thầy chết học trò để tang như để tang cha mẹ. Mỗi khi muốn hỏi thầy hoặc trao đổi vấn đề gì phải thưa gửi lễ phép đàng hoàng. Đứng trước mặt thầy phải chỉnh tề, nhã nhặn, gặp thầy phải cúi chào từ xa, khoanh hai tay trước ngực khi nào thầy trả lời mới được ngửng lên. Nhưng ngày nay học trò của chúng ta đã không thể làm đủ lễ nghi với thầy cô họ lại còn xuyên tạc, làm biến tướng các nghi lễ, thiếu sự tôn trọng với thầy cô, coi thường việc học. Ví dụ như: Cách chào của học trò khi gặp thầy cô, họ vừa đi thậm chí là chạy ù ù qua thầy cô vừa chào “cô ạ”, “thầy ạ” để tiết kiệm từ và nói cho nhanh hơn nữa học trò chào thầy cô (nếu là cô giáo) “Quạ! Quạ!”, (nếu là thầy) “Thạ! Thạ!” rồi cười hô hố rất phản cảm làm cho giáo viên chẳng thể hiểu học trò chào mình hay chào cái gì?. Sau lưng học trò gọi thầy cô mình là ông nọ, bà kia tệ hại hơn là gọi bằng đại từ nhân xưng “nó”. Khi làm bài kiểm tra không tốt bị thầy cho điểm kém không vừa ý mình học trò sẵn sàng lôi bài kiểm tra ra xé trước mặt thầy cô để tỏ thái độ. Có trường hợp trò vì mâu thuẫn nhỏ, xung đột ý kiến hoặc bị giáo viên phạt mà quay ra thù thầy cô, tạt a-xít vào thầy cô, cả kể việc thuê người giết chết thầy cô mình. Nhìn lại xem đây là lối ứng xử gì?

    Những năm gần đây hiện tượng tiêu cực trong giáo dục không phải là ít. Những sự việc như học trò biếu phong bì cho thầy cô đổi lại thầy cô cho học trò điểm cao (mặc dù bài làm rất kém) để học trò đỡ tốn công học. Biếu xén thầy cô để tránh bị kỷ luật…nó đã góp phần làm biến tướng và thương mại hoá quan hệ thầy trò, làm cho thầy không còn là thầy, không được tôn trọng, không uy nghiêm, được học trò coi là tấm gương để noi theo học tập, trò cũng chẳng phải trò, chẳng lễ phép, kính trọng thầy và chăm chỉ học hành tu dưỡng. Ở đâu đó chúng ta còn thấy những thầy giáo không đủ tư cách làm tấm gương, những cô giáo thiếu tinh thần trách nhiệm, những học trò bàng quan với việc học với tương lai, cuộc đời, chúng ta có thể thấy rằng việc giáo dục giới trẻ hiện nay đang là vấn đề cấp thiết được cả xã hội quan tâm. Việc xây dựng được môi trường giáo dục mà ở đó thầy đúng nghĩa là thầy, trò đúng nghĩa là trò, trong môi trường giáo dục đó chỉ có tình yêu thương, sự kính trọng, bao dung biết ơn và hoà hiếu đó là mơ ước của tất cả mọi người. Nhưng đáng buồn thay thực trạng văn hoá ứng xử của thế hệ trẻ trong nhà trường đang xuống cấp một cách nghiêm trọng cả về đạo đức lối sống và ý thức sống.

    Đã đến lúc chúng ta phải thấy được sự cần thiết của việc giáo dục tư tưởng đạo đức và lối ứng xử có văn hoá cho thế hệ trẻ. Xây dựng một thế hệ trẻ có sức khoẻ, có trí lực, lòng nhiệt huyết, luôn trau dồi về lý tưởng và đạo đức cách mạng. Ngoài ra trong cuộc sống luôn chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, gương mẫu trong cộng đồng, làm tròn bổn phận của người công dân.

    Đinh Thị Thanh Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Môn Học Bằng Tiếng Anh & Bài Viết Về Môn Học Yêu Thích
  • Viết Về Môn Học Yêu Thích Bằng Tiếng Anh: Toán, Văn, Tiếng Anh, Lịch Sử Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Viết Về Môn Học Yêu Thích Bằng Tiếng Anh Thật Dễ Dàng
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Môn Học Yêu Thích Hay Nhất
  • Viết Một Đoạn Văn Về Môn Học Yêu Thích Bằng Tiếng Anh.
  • Người Nước Ngoài Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Sư Người Nước Ngoài Dạy Tiếng Anh Chất Lượng
  • Làm Việc Bằng Tiếng Anh Ở Nhật
  • Tổng Hợp Các Trường Đại Học Dạy Bằng Tiếng Anh Ở Nhật Tốt Nhất
  • Làm Thế Nào Để Tìm Được Việc Làm Giáo Viên Tiếng Anh Tại Nhật Bản?
  • Obama ‘dạy Tiếng Anh’ Ở Nhật
  • I. Lựa chọn làm việc tại Việt Nam của người nước ngoài.

    1. Cơ hội việc làm tăng cao

    Là một nước đang phát triển với tốc độ tăng trưởng cao ở Đông Nam Á, nhu phổ cập tiếng anh để hội nhập quốc tế của Việt Nam đang tăng mạnh kèm theo đó là nhu cầu lớn về 1 lượng giáo viên tiếng anh người nước ngoài ở Việt Nam. Từ đó tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người nước ngoài, đặc biệt là người bản địa. Gần như mọi lứa tuổi Từ các các lớp mẫu giáo, mầm non cho đến các bậc tiểu học trung học cơ sở, đại học, người đi làm đều rất cần tiếng anh. Ngoài ra nếu bạn giỏi chuyên môn nào đó khác việc giảng dạy thì cũng có rất nhiều cơ hội việc làm khác tại Vietnam ví dụ như quản lý, giám sát hoặc chuyên viên kỹ thuật …

    2. Khí hậu thuận lợi và cảnh quan đẹp

    Việt Nam là 1 nước có khí nhiệt đới gió mùa ôn hòa ít thiên tai, thời tiết khá dễ chịu để sinh sống. Thiên nhiên còn ưu đãi cho Viet Nam nằm ở vị trí giáp biển đông với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng nhiều danh lam thắng cảnh đẹp khiến cho Việt Nam thực sự là một thiên đường để sống và làm việc. Bên cạnh đó, đi kèm với khí hậu thuận lợi là sự giàu có về các loại nông sản và trái cây giúp cho người nước ngoài sinh sống và làm việc ở Việt Nam được thưởng thức các loại thực phẩm thơm ngon bổ dưỡng với chi phí vô cùng hợp lý.

    So với các quốc gia láng giềng khác trong khu vực, Viet Nam là một trong những quốc gia an ninh tốt trên thế giới. Ở Việt Nam hầu như ít khi xảy ra bạo động khủng bố. Tỉ lệ tội phạm cũng rất ít, nhờ vào khả năng kiểm soát của chính phủ cực tốt. Đây là một lợi thế thu hút người nước ngoài vì rõ ràng họ sẽ cảm thấy yên tâm khi làm việc và sinh sống tại Việt Nam.

    Hiền lành, thân thiện, cởi mở, mến khách là những đặc trưng về tính cách của người dân Việt Nam. Không có sự phân biệt đối xử màu da, sắc tộc, giới tính, tôn giáo. Ở Việt Nam, các giáo viên da màu vẫn dạy tại các trung tâm bình thường. Giới tính thứ 3 cũng là một thứ gì đó hết sức tự nhiên. Và mọi sự đề nghị giúp đỡ đều luôn được phản hồi. Với điều kiện bạn cũng phải tỏ cởi mở thân thiện với họ.

    II. Người nước ngoài dạy tiếng anh tại Việt Nam cần chuẩn bị những gì

    Việc thay đổi môi trường dạy học đối với các giáo viên cần được suy tính từ trước đặc biệt đối với các giáo viên nước ngoài đến Việt Nam dạy học. Trước khi đưa ra bất cứ quyết định nào, việc đầu tiên cần đánh giá lại bản thân. Liệt kê lại những kỹ năng, kinh nghiệm trong khoảng thời gian làm việc trước đây. Và hơn hết là lập mục tiêu cụ thể tại nơi làm việc mới.

    1. Đánh giá lại bản thân

    2. Yêu cầu cho người nước ngoài về chuyên môn dạy tiếng anh ở Việt Nam

    2.1 Giọng nói chuẩn và có khả năng truyền đạt

    Giọng nói chuẩn và khả năng truyền đạt là yếu tố quan trọng để xác định năng lực của một giáo viên, từ đó quyết định mức lương phù hợp với khả năng của người đó. Ở Việt Nam, giọng của người bản địa rất được ưa chuộng vì rõ ràng họ phát âm chuẩn và hay. Tuy nhiên nếu bạn không phải là người bản địa mà có giọng nói tốt thì vẫn được các trung tâm sẵn sàng chiêu mộ.

    2.2 Có bằng đại học hoặc chứng chỉ sư phạm:

    Tuy không phải là bắt buộc, tuy nhiên rất nhiều trung tâm tiếng anh tại Việt Nam xem bằng đại học hoặc chứng chỉ sư phạm như một giấy tờ không thể thiếu để ứng viên trở thành giáo viên tiếng anh của trung tâm. Đây giống như là minh chứng ứng viên giáo viên người nước ngoài không phải là người vô gia cư, di cư đến Việt Nam để kiếm một công việc tạm thời

    2.3 Chứng chỉ giảng dạy quốc tế :

    TESOL, CELTA, TEFL là các chứng chỉ giảng dạy quốc tế, đương nhiên nó cũng có hiệu lực tại Viet Nam, khi có các chứng chỉ này cơ hội tìm kiếm được việc làm của các ứng viên lên đến 70-80%. Gần như tất cả các trung tâm sẽ hỏi đến chứng chỉ giảng dạy quốc tế trong các buổi phỏng vấn.

    2.4 Đã có kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh tại Việt Nam hoặc các nước trên thế giới.

    Không chỉ riêng công việc giảng dạy, bất cứ ngành nghề nào cũng đều cần có kinh nghiệm. Sẽ là một lợi thế nếu ứng viên nước ngoài từng đứng lớp, từng có khả năng truyền đạt kiến thức đến cho người khác. Nếu không có kinh nghiệm, các nhà tuyển dụng sẽ phải đào tạo lại từ đầu, sẽ mất nhiều chi phí và thời gian cho việc đào tạo, chính vì thế, nếu ứng viên đã có kinh nghiệm dạy học trước đó thì nó sẽ là điểm nổi bật đối với rất nhiều các ứng viên khác trong đánh giá của nhà tuyển dụng.

    2.5 Giấy tờ cần để hợp thức hóa lao động ở Vietnam

    Để trở dạy tiếng Anh tại Việt Nam, ứng viên cần có có Visa thường là được hỗ trợ làm từ nhà tuyển dụng xin visa để trở thành nhân viên hợp pháp. Trong nhũng phỏng vấn với nhà tuyển dụng bạn cần đề xuất với nhà tuyển dụng về vấn đề Visa để chắc chắn loại visa nào bạn nên có để làm việc cho nhà tuyển dụng.

    2.5.2 Giấy phép lao động (Work permit)

    Giấy phép lao động là giấy phép hợp pháp để làm việc tại Việt Nam. Giấy phép làm việc sẽ có hiệu lực trong tối đa 24 tháng (2 năm). Sau khi hết hạn Giấy phép lao động 45 ngày, nhân viên cần gia hạn. Ở Việt Nam, thông thường, các nhà tuyển dụng là công ty hoặc trung tâm ngoại ngữ sẽ hỗ trợ giấy phép làm việc cho ứng viên. Một lần nữa, bạn nên hỏi nhà tuyển dụng của bạn về tất cả các tài liệu pháp lý để làm việc bao gồm cả Giấy phép làm việc. Để có thể đảm bảo làm việc một cách hợp pháp tại Việt Nam.

    2.5.3 Lý lịch tư pháp (Police check)

    Lý lịch tư pháp là bản khai do Sở Tư pháp tại Việt Nam hoặc nước bạn cấp. Lý lịch tư pháp cung cấp thông tin tội phạm cá nhân của bạn để đảm bảo bạn không phạm tội hình sự và có thể làm việc hợp pháp tại Việt Nam.

    Người nước ngoài đã sống ở Việt Nam ít nhất 6 tháng có thể đăng làm lý lịch tư pháp. Bạn có thể nộp đơn trực tuyến hoặc đến Sở Tư pháp địa phương nơi bạn đang ở tại Việt Nam.

    Thẻ tạm trú tại Việt Nam cho người nước ngoài được cấp bởi Cục quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an; giấy tờ này là minh chứng rằng bạn ở lại Việt Nam trong một thời gian dài một cách hợp pháp.

    Nếu bạn muốn nộp đơn xin thẻ tạm trú, bạn sẽ cần liên hệ với cơ quan di trú để hoàn thành đơn đăng ký của bạn. Nhà tuyển dụng sẽ cung cấp tất cả các giấy tờ bạn sẽ cần để xử lý nó.

    Các giấy tờ cần phải được chuẩn bị:

    • Văn bản đề nghị cấp giấy tạm trú
    • Tờ khai đề nghị cấp giấy tạm trú cho người nước ngoài
    • giấy tờ chứng minh xem xét tạm trú như : giấy phép lao động, các giấy tờ khác có giá trị chứng minh đủ điều kiện cấp giấy tạm trú

    Người nước ngoài có thể tự đăng ký tạm trú hoặc thuê các dịch vụ ngoài đăng ký.

    III Các vị trí bạn có thể ứng tuyển

    Sau khi có đã có đủ điều kiện để giảng dạy, việc bạn cần làm là xem xét vị trí công việc phù hợp với khả năng và sở thích của bạn. Sẽ có 1 số vị trí công việc sau.

    1. Giáo viên ở các trung tâm:

    Bạn có thể lựa chọn dạy tiếng anh tại các trung tâm anh ngữ. Phần lớn các trung tâm anh ngữ ở Vietnam có nhu cầu rất cao về giáo viên dạy IELTS hoặc giáo viên dạy giao tiếp.Số lượng trung tâm dạy tiếng anh ở Vietnam lên đến hàng ngàn, đây là nguồn việc làm chính dành cho giáo viên người nước ngoài tại Việt Nam

    2. Giáo viên ở các trường công:

    Sự lựa chọn khác dành cho giáo viên người nước ngoài là dạy tại các trường công. Khác với dạy học tại trung tâm, số lượng học viên thường chỉ 10-15 người lớp thì mỗi lớp trường công học viên thường lên đến 30-40 học sinh / lớp. Giáo trình dạy phải theo yêu cầu chung của các trường công ở Việt Nam. Điều lưu ý khi dạy ở trường công là bạn sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn giáo viên về năng lực và hồ sơ pháp lý một cách đầy đủ vì giáo viên ở trường công luôn bị thanh tra và kiểm tra thường xuyên

    Trở thành gia sư tiếng anh ? Tại sao không ? Mặc dù phải nói thật là nhu cầu về gia sư người nước ngoài ở Vietnam không cao. Tuy nhiên lựa chọn trở thành một gia sư dạy tiếng anh không phải là sự lựa chọn tệ. Nhiều gia đình có điều kiện sẽ thuê gia sư nước ngoài với mức lương khá tốt.

    4. Dạy tiếng anh tại doanh nghiệp

    Ở Vietnam rất nhiều doanh nghiệp với chính sách tốt mong muốn phát năng lực tiếng anh cho nhân viên, nhu cầu này không quá lớn nhưng lựa chọn dạy tiếng anh cho các doanh nghiệp cũng là một hướng đi đầy triển vọng khi mà mức lương cho vị trí này không hề thấp. Chương trình dạy cho doanh nghiệp khá linh động và thông thường sẽ là chương trình tiếng anh thương mại hoặc tiếng anh giao tiếp công sở.

    5. Giáo viên dạy tiếng anh online người nước ngoài:

    Ở kỷ nguyên 4.0, việc dạy và học online đã trở nên hết sức phổ biến. Đặc biệt với tình trạng dịch bệnh Corona thì nhu cầu học online lại càng tăng cao. Dự đoán trong thời gian tới sẽ nhu cầu dạy online tại Việt Nam sẽ bùng nổ. Nhiều cơ hội hơn cho người nước ngoài muốn dạy tiếng anh tại Vietnam. Ngoài ra để có thể dạy tiếng anh online bạn cũng có thể sử dụng 1 số nền tảng để đăng ký dạy online ví dụ như

    IV. Làm sao để có thể kiếm được việc dạy tiếng anh ở Vietnam

    Để có thể tìm được một công việc như ý muốn, ứng viên có thể sử dụng một số cách thức hiệu quả sau.

    1. Tìm kiếm trên các công cụ tìm kiếm

    2. Website tuyển dụng

    3. Tham gia vào các cộng đồng tìm kiếm việc làm cho giáo viên nước ngoài tại Việt Nam ( facebook, linkedin, twitter…)

    -Ứng viên có thể tìm kiếm từ khóa ‘English teaching jobs in vietnam’ sẽ xuất hiện các hội nhóm dành riêng cho các giáo viên đang tìm kiếm công việc giảng dạy. Tại các nhóm này, rất nhiều tin đăng tuyển dụng sẽ được cập nhập mới mỗi ngày, cơ hội có được một công việc phù hợp với yêu cầu của ứng viên là rất cao ở các trang mạng xã hội như vậy.

    -Ngoài ra các ứng viên có thể chủ động bằng cách tự giới thiệu bản thân và nguyện vọng của mình lên các hội nhóm này, sẽ có các nhà tuyển dụng sẽ liên hệ với các ứng viên sau khi đọc được bài viết của các ứng viên đăng tải lên các hội nhóm này.

    V. Lương, chi phí sinh hoạt

    1. Lương cho giáo viên nước ngoài dạy tiếng anh ở Việt Nam

    Việt Nam là đất nước đang phát triển, đặc biệt chú ý đến việc giáo dục, trong đó ngoại ngữ là một trong những môn học được quan tâm hàng đầu tại đất nước này. Do nhu cầu học ngôn ngữ lớn, việc có được một công việc dạy học tại một trung tâm tiếng anh, hoặc 1 trường công nào đó đối với giáo viên nước ngoài là tương đối dễ dàng. Mức lương như sau

    • Giáo viên bản ngữ (Native) lương giáo viên dạy tiếng anh trung bình từ 1500$-2000$ mỗi tháng. Thậm chí có nhiều vị trí mức lương có thể lên đến 4000$ một tháng.
    • Giáo viên không phải là bản ngữ (non-native) mức lương có thể sẽ thấp hơn từ 10%-20% hoặc thậm chí không thấp hơn nếu giáo viên đó có kỹ năng tốt và biết cách deal lương.

    2. Chi phí sinh hoạt cho người nước ngoài khi ở Việt Nam dạy học

    Ngoài mức lương cao, chi phí thấp tại Vietnam là một điểm cộng lớn. Tại Việt Nam, mức sống tương đối thấp so với mặt bằng chung trên thế giới. Một số giáo viên đang làm việc và sinh sống tại việt nam cho biết 1 ngày họ có thể chỉ cần sử dụng 7-10 USD cho chi phí việc ăn uống và nhu cầu cơ bản. Họ hoàn toàn có thể tiết kiệm được từ 500-600 USD mỗi tháng sau khi trừ đi các chi phí như tiền nhà, ăn uống, vui chơi,…. Chi phí thuê một căn hộ tại Vietnam cũng thấp so với các nước cùng khu vực chỉ khoảng từ 200-350$/ tháng. Và cũng như các chi phí khác, du lịch tại Vietnam cũng rất vừa vặn với túi tiền của đa số các giáo viên nước ngoài.

    VI. Những nơi làm việc tốt nhất ở Việt Nam

    Tại Vietnam, các giáo viên nước ngoài có thể lựa chọn địa điểm làm việc tùy theo sở thích. An ninh Vietnam tương đối an toàn cho người dân nơi đây. Để tìm kiếm một mức lương cao, giáo viên nước ngoài có thể tìm đến các thành phố lớn tại Vietnam như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng….

    1. Thành Phố HCM

    Thành phố HCM là thành phố lớn nhất tại Vietnam và cũng là thành phố đông dân cư nhất tại Vietnam. Nơi đây cũng là nơi thu hút số lượng lớn người nước ngoài đến sinh sống và làm việc. Thành phố HCM nằm ở miền nam Vietnam, hầu hết các trung tâm tiếng Anh trong nước đều đặt chi nhánh ở thành phố này. Vì thế nhu cầu nhân sự nơi đây là rất lớn, cơ hội việc làm lớn cho người nước ngoài có ý định chọn Việt Nam.

    Là thủ đô của Việt Nam, thành phố này nằm ở phía Bắc Việt Nam. Cũng như thành phố HCM, Hà Nội cũng là một trong những thành phố thu hút đông đảo giáo viên nước ngoài đến Việt Nam, văn hóa và ẩm thực nơi rất nổi tiếng. Tổng thống mỹ nhiệm kỳ trước Barack Obama đã từng đặt chân đến đây thưởng thức món bún chả, cafe đá. Ông đã nhận xét món bún chả với giá 6 USD bằng từ “Xuất sắc”.

    Nằm trong top các thành phố lớn tại Vietnam, Đà Nẵng thành phố biển nằm ở miền trung Việt Nam, là một thành phố phát triển, sở hữu đường bờ biển sạch đẹp, không những có cơ hội việc làm tốt, nơi đây còn là địa điểm du lịch hấp dẫn tại Việt Nam. Rất nhiều người nước ngoài thích biển đã chọn Đà Nẵng là chỗ làm việc và định cư lâu dài. Nơi đây có nguồn hải sản phong phú, hoạt động du lịch làm cho nơi đây luôn nhộn nhịp. Đà Nẵng được mệnh danh là thành phố đáng sống nhất tại Việt Nam.

    4. Các tỉnh nhỏ lẻ

    Nếu không thích sự náo nhiệt ở thành thị, người nước ngoài hoàn toàn có thể lựa chọn các thành phố hoặc thị xã nhỏ. Cuộc sống ở các vùng quê này thường bình yên, giao thông, tiếng ồn, không khí tốt hơn rất nhiều so với cuộc sống tại các thành phố lớn. Nhưng mật độ các trung tâm sẽ thưa thớt hơn, sẽ không có cộng đồng người nước ngoài đông đảo tại những nơi này. Bù lại người dân nơi đây rất thân thiện và hiếu khách, ẩm thực các vùng quê tại Vietnam luôn đem đến nhiều sự bất ngờ cho các thực khách quốc tế. Có thể kể đến một số tỉnh tiêu biểu như Lâm Đồng, Đồng Tháp, Quảng Ninh, Sơn La, Bình Thuận….

    VII. Những khó khăn người nước ngoài gặp phải khi dạy tiếng anh tại Vietnam

    1. Rào cản ngôn ngữ

    Vì ngôn ngữ chính của Vietnam là tiếng việt trong khi không phải ai cũng biết tiếng anh nên thời gian đầu khi đến Vietnam, việc giao tiếp với giáo viên nước ngoài khá là khó khăn. Không chỉ trong sinh hoạt mà còn cả trong lớp học. Bạn sẽ phải thường xuyên sử dụng ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt điều bạn muốn nói. Và tôi tin chắc bạn sẽ phải nhiều lần thất bại trong việc giao tiếp cách này. Lời khuyên là hãy học 1 vài câu nói tiếng Việt, không chỉ giúp việc giao tiếp dễ dàng mà bạn còn đang ghi điểm rất nhiều với người Vietnam.

    2. Shock văn hóa

    Tất nhiên rồi ! Bước chân đến 1 quốc gia khác văn hóa với bạn, vấn đề bị shock văn hóa là điều thường xuyên xảy ra. Ở Việt Nam bạn sẽ gặp phải nhiều tình huống rất khó chịu ví dụ như: việc ăn thịt chó là chuyện bình thường ở Vietnam, ăn phải dùng đũa. Hay là việc ăn nhậu tràn lan ở Việt Nam. Đừng lo, làm quen được với những vấn đề này bạn sẽ thấy bình thường thôi, đặc biệt một số văn hóa sẽ khiến bạn thú vị ví dụ như việc ăn bằng đũa.

    3. Giao thông

    Ở Việt Nam, tình trạng giao thông khá là kém, mặc dù đang được cải thiện từng ngày nhưng điều bạn sẽ không thể tránh khỏi là tình trạng kẹt xe giờ cao điểm. Đây cũng không phải là vấn đề quá lớn, vì nếu quen tuyến đường và khung giờ ở Việt Nam bạn sẽ biết cách chọn lựa phương án giao thông và thời điểm lưu thông tốt nhất để tránh tình trạng kẹt xe.

    Thời tiết ở Việt Nam chắc chắn sẽ không thể giống với nơi mà bạn sinh sống trước đó. Đặc biệt một số khu vực ở Việt Nam có thời tiết thay đổi nhanh và khắc nghiệt sẽ khiến bạn mệt mỏi trong thời gian đầu sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Lời khuyên, hãy kiểm tra thời tiết mà khu vực bạn chuẩn bị đến để có phương án chuẩn bị tốt nhất. Tuy nhiên đây cũng chỉ là vấn đề nhỏ với giáo viên người nước ngoài.

    VIII. Một số câu hỏi thường gặp

    1. Không có bằng cấp có thể dạy tiếng anh ở Vietnam được không?

    Phần lớn các trung tâm sẽ yêu cầu chứng chỉ TESOL, TEFL, CELTA.. để có thể được dạy học. Tuy nhiên trong một số trường hợp bạn có kinh nghiệm tốt thì vẫn được các trung tâm đón tiếp

    2. Các đơn vị tuyển dụng có hỗ trợ làm Visa, hay giấy phép lao động không?

    Phần lớn các trung tâm sẽ hỗ trợ bạn xử lý vấn đề giấy tờ hồ sơ để làm việc. Tuy nhiên thường sẽ có ràng buộc đi kèm, ví dụ bạn phải cam kết dạy 1 thời gian nhất định chẳng hạn. Lời khuyên dành cho bạn là nên tìm hiểu chính sách nhà tuyển dụng về vấn đề này trước khi ứng tuyển

    3. Người da màu có được dạy tiếng anh ở Việt Nam không?

    Ở Việt Nam, hoàn toàn không có sự phân biệt đối xử chủng tộc, tôn giáo, văn hóa… Chính vì thế người da màu vẫn được chào đón bình thường ở các trung tâm. Quan trọng nhất là bạn phải có kỹ năng chuyên môn thật tốt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng Anh: Giáo Viên Người Nước Ngoài Dễ Dàng Có Việc
  • Giáo Viên Nước Ngoài Dạy Tiếng Anh Tại Nhà
  • Thuê Người Nước Ngoài Dạy Tiếng Anh
  • Địa Chỉ Dạy Học Tiếng Anh Với Người Nước Ngoài Uy Tín Tại Hà Nội
  • Hướng Dẫn Đăng Ký Học Tiếng Anh Với Người Nước Ngoài Tại Nhà Tphcm
  • Người Việt Nam Có Thực Sự Hiếu Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Phần Mềm Anki
  • Mind Map Vocabulary – Học Từ Vựng Tiếng Anh Bằng Sơ Đồ Tư Duy
  • Phần 1: Tất Cả Các Chức Năng Trong Thẻ Home
  • Học Từ Vựng Qua Danh Ngôn
  • 4 Mẹo Học Tiếng Anh Du Kích Đơn Giản Mà Hiệu Nghiệm…
  • Chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

    Khi còn đi học, chúng ta thường dạy rằng dân tộc Việt Nam ta có truyền thống “hiếu học” bên cạnh hàng loạt các đức tính khác như yêu nước nồng nàn, cần cù siêng năng, yêu hòa bình… để rồi lớn lên với niềm tự hào về những đức tính được dạy học thuộc lòng đó. Nhưng điều đáng nói là chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

    Từ trước đến nay, truyền thống hiếu học của chúng ta được xây dựng dựa trên một mô-típ khá kinh điển, những người học trò nghèo không có tiền đi học nhưng vẫn cố gắng học giỏi để đỗ trạng nguyên. Những mẩu truyện mang tính chất truyền kỳ kiểu “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để học bài” được kể đi kể lại qua bao nhiêu thế hệ mà không hề nhận được bất cứ một lời phản biện về sự phi lý của nó. Hoang đường không kém là chuyện học ngoại ngữ bằng cách lấy cuốn tự điển ra mỗi ngày học mười từ cứ thế mà giỏi được bao nhiêu thứ tiếng. Dù cứ nhắm mắt tin những chuyện như vậy là thật đi nữa thì chúng cũng chỉ nói lên được sự vượt khó học giỏi và năng lực phi thường của một vài cá nhân mà thôi, không thể từ đó mà suy ra rằng cả dân tộc đều hiếu học.

    Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi rằng tại sao một dân tộc hiếu học như Việt Nam lại không có một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà khoa học nào trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm và cũng không hề có một hệ tư tưởng riêng hay một phát minh khoa học nào đáng kể cống hiến cho nhân loại? Một dân tộc hiếu học tại sao lại không có một công trình kiến trúc hay một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, âm nhạc nào mang tầm vóc thế giới? Một dân tộc hiếu học ham học sao lại có thể có những câu ca dao kiểu: “Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè”?

    Một dân tộc hiếu học thì sao lại có thể đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn khư khư ôm giữ cái lối thi cử truyền thống quanh quẩn với Tứ Thư Ngũ Kinh mà bài xích khoa học, triết học phương Tây và kỳ thị những người Tây học trong khi Nhật Bản trước đó rất nhiều năm đã mở toang cánh cửa cho những tư tưởng tiến bộ tràn vào. Hiếu học thì sao các ông nghè ông cống ngày xưa ngoài việc nhai lại những “chi, hồ, dã, giả” trong sách Thánh Hiền để chờ ngày vác lều chõng đi thi vì ít bổng lộc và chức tước để làm rỡ ràng dòng họ và ấm thân chưa ai dám thoát ly ra bên ngoài để nhìn thế giới rộng lớn như thế nào? Ngoài việc uống rượu uống trà, ngâm vịnh “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, tìm câu trích chữ để bắt bẻ nhau qua từng câu đối để tự cho mình là tài giỏi thanh cao thì có mấy nhà khoa bảng khi xưa tự vấn bản thân rằng cái học của mình nó vô dụng và lạc hậu lắm rồi.

    Trong khi phương Tây thế kỷ thứ 18, các nhà tư tưởng lớn như Voltaire, Montesquieu hay John Locke đã bàn tới “tam quyền phân lập” và “khế ước xã hội”, những nhà khoa học như Faraday hay Newton đã nghiên cứu điện từ trường và lực hút trái đất thì ở Việt Nam, các nhà Nho đầu thế kỷ thứ hai mươi vẫn ôm lấy bút nghiên và đèn dầu để dạy lũ học trò “tấc đất ngọn rau ơn chúa” và “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Một dân tộc hiếu học thực sự chắc chắn sẽ không thể nào chấp nhận việc nhai lại và tôn sùng những cuốn sách được viết cách đó mấy nghìn năm mà không hề mảy may có một chút thắc mắc phản biện cũng như không quan tâm đến sự thay đổi của thế giới ở ngoài.

    Cách đây hơn 100 năm, chí sĩ Phan Chu Trinh đã viết về “mười điều bi ai của dân tộc” như sau:

    1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
    2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
    3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
    4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
    5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
    6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
    7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
    8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
    9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
    10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng.

    Đọc xong mười điều này, có ai còn dám tự hào vỗ ngực nói đây là tính cách của một dân tộc luôn tự cho mình là “hiếu học”?

    Có thể cho rằng các vị khoa bảng ngày xưa ở nước ta siêng học, chăm học nhưng không thể cho rằng họ “hiếu học” vì một người hiếu học thực sự học vì niềm say mê kiến thức thực sự và sự khao khát tìm tòi cái hay cái mới chứ không phải học ngày học đêm những kiến thức cũ rich vì công danh và quyền chức. Cái học của các cụ cử ngày xưa chính là nô lệ cho sự học chứ không phải học để giải phóng bản thân. Không phải vô duyên vô cớ mà cụ Phan Chu Trinh lại đặt “khai dân trí” là một trong ba mục tiêu quan trong không kém “chấn dân khí và hậu dân sinh”. Cụ nhắn nhủ: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật quý báu xin tặng cho đồng bào là “chi bằng học”. Nếu dân tộc ta thực sự “hiếu học” và biết cách học đúng hướng, cụ Phan chắc không phải tâm tư những điều như thế này.

    *

    Ngày nay thì sao? Sau hơn một trăm năm vật đổi sao dời, lối thi cử khoa bảng Nho học tuy đã không còn và chữ Hán cũng đã được thay bằng chữ quốc ngữ. Các trường đại học mọc lên như nấm sau mưa, cử nhân, thạc sĩ lên đến con số triệu, còn tiến sĩ cũng phải mấy vạn người. Nhưng đừng tưởng như vậy thì chúng ta đã có thể gọi là có những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục để xứng đáng với hai từ “hiếu học”. Trái lại, chúng ta vẫn chăm chỉ học với tư duy “học để làm nô lệ” chứ không phải học để làm chủ và tự hào với sự chăm học đó.

    1. Chương trình giáo dục từ phổ thông tới đại học nặng về lý thuyết nhưng lạc hậu và thiếu thực tế. Học sinh được dạy theo kiểu nhồi vịt học thuộc lòng chứ không được khuyến khích tìm tòi khám phá và phản biện.
    2. Trình độ và nhân cách giáo viên ngày càng tệ hại, hậu quả tất yếu của việc lấy điểm đầu vào quá thấp của ngành sư phạm. Chưa bao giờ tình trạng giáo viên trù dập, bạo hành và xâm phạm học sinh nhiều như hiện nay.
    3. Học sinh sinh viên ngày nay học vì điểm chứ không học vì tri thức. Ngoài những môn học gạo để đi thi, thường thức tự nhiên, thường thức xã hội, và trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật của đại đa số những người có bằng cấp gần như là một con số không to tướng.
    4. Những người “có học” và “có bằng cấp” không hể có sự ham học và lại càng không có khả năng tự học. Tuy ngày nay tài liệu và phương tiện học tập vô cùng phong phú, đa dạng và miễn phí, việc tự học dường như là chuyện không tưởng đối với phần lớn các bạn sinh viên và học sinh.
    5. Những người tự coi là trí thức ngoài việc học để có kiếm tiền và dùng học hàm học vị của mình để thăng tiến trong con đường danh lợi hầu như không hề có một nghiên cứu khoa học hay phát minh gì có thể ứng dụng vào đời sống.
    6. Lối sống của đại đa số người Việt Nam hiện đại cũng không khác gì lối sống của người Việt thời cụ Phan là mấy: hèn nhát, lười biếng, ích kỷ, tham lam, lọc lừa, thích sĩ diện, gia trưởng, tầm nhìn hạn hẹp…
    7. Trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, năng suất lao động và hiệu quả công việc của những “trí thức trẻ” đều yếu kém hơn rất nhiều so với các bạn trẻ cùng độ tuổi và cùng trình độ trên thế giới. Nhưng điều đáng buồn là họ không hề mảy may cảm thấy điều đó là đáng hổ thẹn. Dường như đối với họ, có cái bằng là đủ, còn chuyện cái bằng đó có ý nghĩa gì hay không không hề quan trọng.
    8. Cách cư xử của người Việt trong đời sống hằng ngày càng lúc càng trở nên thiếu văn minh lịch sự và hung hăng dữ tợn. Họ không tiếc những lời thô tục nhất bệnh hoạn nhất để rủa xả nhau trên mạng xã hội và sẵn sàng gây án mạng chỉ vì một va chạm nhỏ ngoài đời. Học sinh không những ra tay đánh nhau tàn bạo như kẻ thù mà còn đánh luôn cả thầy cô.

    Nếu người nào vẫn còn chưa thấy thực trạng giáo dục của nước nhà hiện tại đến mức báo động mà vẫn còn tin vào câu” người Việt Nam có truyền thống hiếu học” thì hãy nhìn lại sự kiện nâng điểm vào đại học kinh hoàng trong mùa thi năm ngoái ở các tỉnh phía Bắc với những màn phù phép biến điểm liệt thành điểm thủ khoa cho các thí sinh mà phần lớn đều là con ông cháu cha. Hãy tưởng tượng những kẻ không hề có chút kiến thức và nhân cách này sau này sẽ trở thành thẩm phán, chủ tịch, cán bộ cao cấp, bác sĩ, kỹ sư… và hậu quả tồi tệ mà đất nước này phải gánh chịu.

    Huỳnh Chí Viễn (Giáo viên, Dịch giả)

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Kiện: Chính Trị, Quốc Phòng An Ninh, Kinh Tế, Thể Thao
  • Bài Học: Giá Trị Văn Học Và Tiếp Nhận Văn Học
  • Nhà Khoa Học Máy Tính Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tổng Quan Ngành Khoa Học Máy Tính
  • Ngành Khoa Học Máy Tính
  • Mô Hình Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đôi Điều Bàn Luận Về Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Bậc Thpt
  • Nhận Xét Về Sự Thất Bại Của Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Chính Quy Ở Việt Nam
  • Những Điều Đáng Bàn Về Việc Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em
  • Thầy Nguyễn Quốc Hùng: Vì Sao Người Việt Kém Tiếng Anh?
  • Thực Trạng Và Yêu Cầu Ngoại Ngữ Trong Ngành Giáo Dục
  • Hoàng Hữu Phước, Nhà Ngữ Sử Học

    13-10-2020

    A – Dẫn nhập thực trạng Việt Nam

    B – Phân biệt “Tiếng Mẹ Đẻ” và “Ngoại Ngữ”

    C – Quy Trình Học “Tiếng Mẹ Đẻ” Của Nhân Loại

    D – Quy Trình Học “Tiếng Mẹ Đẻ” Của Nhân Loại Theo Hoàng Hữu Phước

    E – Mô Hình Hoàng Hữu Phước Về Học Tiếng Anh Của Việt Nam Cộng Hòa

    F – Kết Luận

    A- Dẫn Nhập Thực Trạng Việt Nam

    Người Việt Nam từ thời nhận biết ra rằng hóa ra ngoài Tiếng Tàu ” hảo lớ hảo lớ” có thanh âm thuộc loại đứng đầu nhóm tệ hại nhất thế gian – tất nhiên là về mặt phát âm, trong đó có Tiếng Thái LanTiếng Cambodia, v.v. – trên thế giới còn có một thứ ngôn ngữ mà họ gọi trang trọng theo kiểu Hán Việt là ” Anh Văn” và sau này gọi theo kiểu bình dân mà họ lầm tưởng là “thuần Việt” thành ” Tiếng Anh” (chứ không biết đó là kiểu gọi quê mùa nửa nạc nửa mỡ tức “ba rọi” vì “tiếng” có thể là “thuần Việt” nhưng “Anh” thì hết sức thuần Tàu từ kiểu gọi Hán Viêt xưa là “Anh-Cát-Lợi”), cho đến nay chưa hề có bất cứ ai trên cõi ta bà này – dù ở Việt Nam hay ở bất kỳ ngõ ngách nào trên thế giới đầy hoan lạc loạn lạc lầm lạc này – có bất kỳ nghiên cứu nào dù bằng mồm miệng hay bằng chữ viết về các ” mô hình dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam ” cả.

    Chiến tranh khốc liệt đã làm Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chỉ có thể có một vài thông dịch viên tiếng Anh phục vụ yêu cầu ngoại giao, tình báo, và truyền thông radio, chứ không thể nào trong chiến tranh lại có đủ lực lượng giáo viên trung học giảng dạy trên toàn quốc cho tất cả các lớp trung học dù cấp trung học chỉ có từ lớp 6 đến lớp 9. Còn ý thức hệ tuyên giáo hoàn toàn tầm bậy tầm bạ phản khoa học rằng ” phải học tiếng nói của Lê Nin – tức Tiếng Nga – để hiểu được chủ nghĩa Mác-Lê” đã khiến sau 75 năm kể từ ngày lập quốc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cho đến khi xóa hẳn tên Việt Nam Cộng Hòa trên bản đồ thế giới ngày 30-4-1975 lập nên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thống nhất cho đến nay là năm 2022 thì cái học ” tiếng nói của Lê Nin” đã không những ( a) chưa từng tạo nên một lực lượng học sinh/sinh viên “giỏi” Tiếng Nga, mà còn ( b) loại bỏ hẳn Tiếng Nga Tiếng Pháp ra khỏi các chương trình trung học chính quy cấp Nhà Nước để chỉ tập trung cho Tiếng Anh, đã vậy ( c) chưa hề có được một lực lượng lao động trẻ hùng hậu nào thuộc “cổ cồn trắng” hay “cổ cồn xanh” mà “giỏi” được Tiếng Anh cả, cũng như dẫn đến sự thật là ( d) chủ nghĩa Mác-Lê đã chưa từng được “hiểu” do đảng viên không học tiếng nói của Lê Nin nên ngày càng có đông hơn các đại quan đảng viên Cộng Sản chen nhau dành cuộc đời sau chấn song bền vững thay vì phục quốc – tức phục vụ quốc gia – và phụng quốc – tức phụng sự quốc gia – vững bền.

    Với sự tổng hợp của hai thực tế sau 30-4-1975 rằng

    1) Miền Bắc chưa hề có đủ lực lượng giáo viên Tiếng Anh cho cấp trung học (chỉ đến lớp 9) trước 30-4-1975 – chưa kể lực lượng giáo viên có thể có thì lại chỉ học đến lớp 9 là lên đại học nên không bao giờ có đủ trình độ đúng nghĩa về Tiếng Anh để mà giảng dạy để vừa có thành phẩm để chứng minh năng lực vừa có kinh nghiệm để có tư cách soạn sách giáo khoa Tiếng Anh và ngự ngôi cao trong Bộ Giáo Dục để cho ra các quyết sách về phương pháp dạy và học Tiếng Anh – nay lại phải gánh vác đại sự kéo dãn chương trình theo mô hình trung học đến lớp 12 như Miền Nam, còn

    Bài này, do đó, thuộc chuyên ngành Ngữ Sử Học do Hoàng Hữu Phước khai sinh để lần đầu tiên tại Việt Nam và trên thế giới ghi nhận thực tế dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam để làm sử liệu các lối tư duy dựa trên thực tế thành công ở Việt Nam Cộng Hòa, từ đó hình thành cơ sở phản biện nghiêm túc hầu chấn chỉnh cách dạy và học Tiếng Anh ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để nhờ vậy sau 300 năm nữa ( tất tri tam bách dư niên hậu) Việt Nam chắc chắn sẽ có được lực lượng học sinh/sinh viên “giỏi” Tiếng Anh, trở thành lực lượng lao động có trình độ “giỏi” Tiếng Anh có phẩm giá cao trong nền kinh tế quốc dân ngay tại Việt Nam để các nữ nghị sĩ toàn chức sắc thạc sĩ/tiến sĩ Âu Mỹ không để Chủ Tịch Quốc Hội phải hạ mình xin nữ thủ tướng nước bạn rèn giúp Tiếng Anh.

    B- Phân Biệt “Tiếng Mẹ Đẻ” Và “Ngoại Ngữ”

    Như đã rất nhiều lần nêu lên trong nhiều bài viết cũng trên blog này, tôi hay nhấn mạnh yếu điểm của Tiếng Việt trong tương quan với Tiếng Anh là đối với các từ ngữ mang tính học thuật hàn lâm Âu Mỹ thì việc lệ thuộc quá lớn vào chữ Hán đã biến ý nghĩa chuyển sang Hán-Việt tức sau khi thông qua một ngôn ngữ trung gian là Tiếng Tàu đã không còn mang nội hàm của từ Tiếng Anh nguyên bản (chẳng hạn từ Hán-Việt “dân chủ” dẫn đến ý nghĩa thuần Việt của “dân làm chủ” trong suy nghĩ của 100% người Việt, mà “dân làm chủ” thì hoàn toàn không hề là ý nghĩa của “democracy”, khiến từ tư duy chủ đạo của “dân làm chủ” thuần Việt mà người Việt không thể hiểu nội hàm đúng của “democracy” của Âu Mỹ là gì, v.v.).

    Tương tự, ” mother tongue” có ý nghĩa duy nhất đúng là “ngôn ngữ mà một người sử dụng từ thủa ấu thơ đến khi lớn lên” ( the language which a person has grown up speaking from early childhood) hoặc là “ngôn ngữ chính tức first language của người ấy từ lúc sinh ra” ( the language that a person has been exposed to from birth). Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa không dùng từ ” ngoại ngữ” mà dùng ” sinh ngữ 1” và ” sinh ngữ 2” vì học sinh trung học từ lớp 6 phải chọn Tiếng Anh hay Tiếng Pháp làm ” sinh ngữ 1” và từ lớp 10 phải chọn thêm một ” sinh ngữ 2” giữa Tiếng Anh và Tiếng Pháp khác với “ngoại ngữ” đã chọn trước đó (nếu chọn Tiếng Hoa hoặc Tiếng Nhật chẳng hạn thì phải tự học, chỉ khi thi Tú Tài mới sẽ có đề thi riêng của Bộ Giáo Dục chứ không nằm trong hệ thống giáo dục quốc gia). Như vậy, theo định nghĩa gọi ” mother tongue” là ” first language” thì ” ngoại ngữ” được Việt Nam Cộng Hòa gọi là ” second language” vốn hoàn toàn hợp lý và đúng với ngay cả cách gọi của người Anh Mỹ trong thực tế vì họ cũng gọi ” ngoại ngữ” là ” second language “.

    Do ý nghĩa từng từ một của ” mother tongue” là ” mẹ+ngôn ngữ“, người Việt dịch thành ” tiếng mẹ đẻ ” và đây là nguồn cơn của mọi sai lầm tư duy.

    Tiếng Mẹ Đẻ” nếu được nghĩ đó là ” ngôn ngữ của người mẹ sinh ra mình” thì sai ở 5 điểm gồm

    ( a) mother là “chính/chủ lực” chứ không là “mẹ”,

    ( b) ” ngôn ngữ của người mẹ sinh ra mình” phải được viết thành ” mother’s language” hay ” mother’s tongue” chứ không phải ” mother tongue “,

    ( c) mother tongue phải qua quá trình học/sử dụng chính trong cả cuộc đời trong khi tiếng mẹ đẻ trong tư duy người Việt thì lại hàm ý ngôn ngữ đương nhiên mà một người Việt có được dựa vào việc mẹ người ấy nói Tiếng Việt kể cả khi người đó từ nhỏ đã được gởi ra nước khác (hoặc sinh ở nước khác do cha mẹ công tác tại Đại Sứ Quán Việt Nam ở nước khác) và học tập/lớn lên với việc sử dụng ngôn ngữ nước khác ấy,

    ( d) tại sao phải gọi là tiếng mẹ đẻ mà không là tiếng cha đẻ, và

    ( e) việc một người giỏi xuất sắc một “ngoại ngữ” và dùng “ngoại ngữ” ấy trong công việc hàng ngày hoàn toàn không có nghĩa đó là “ngôn ngữ chính” (tức “tiếng mẹ đẻ”) của người ấy mà muôn đời vẫn chỉ là “second language” (tức “ngoại ngữ”) của người ấy mà thôi.

    Như vậy, quá trình đúng và thuận quy luật tự nhiên thích hợp cho sự phát triển tư duy để một người Việt Nam ở Việt Nam học Tiếng Anh thành công, do đó, là chỉ sau khi người ấy học xong cấp tiểu học ở Việt Nam để có thể yên tâm về “ngôn ngữ chính” ( mother tongue) tức Tiếng Việt của người ấy. “Ngôn ngữ chính” là để hình thành ý thức về ngữ nghĩa, ngữ cảnh, ngữ dụng, ngữ biểu, ngữ cảm, ngữ tạo, và ngữ biến, từ đó làm đà tiếp nhận ngôn ngữ để áp dụng một cách vô thức từ đó có cơ may “giỏi ngoại ngữ”.

    Việc học ngoại ngữ, do đó,

    – chỉ phát huy tác dụng tối ưu cho học sinh từ lớp 6 trung học;

    – nếu học Tiếng Anh từ mẫu giáo đúng bài bản chất lượng cao theo chương trình đặc thù tuyệt đối triệt để trong-môi-trường-hoàn-toàn-không-có-Tiếng-Việt do toàn các chuyên gia thạc sĩ/tiến sĩ trực tiếp giảng dạy thì chỉ là công đoạn đào tạo sẵn lực lượng gián điệp tương lai có ” tiếng mẹ đẻ” khác, có hoạt động nói/viết/suy nghĩ/mớ ngủ/mê sảng/buộc miệng đều bằng ” tiếng mẹ đẻ ” khác ấy, nghĩa là Tiếng Việt trở thành “ngoại ngữ” không quen thuộc, nhằm cài cắm họ vào các quốc gia khác sống y như người bản xứ không thể bị phát hiện;

    – nếu học Tiếng Anh từ mẫu giáo hay tiểu học được dạy bởi những giáo viên buộcphải-dạy-Tiếng-Anh-mẫu-giáo-và-tiểu-học-chỉ-vì-học-kém-hơn-cấp-cử-nhân, trong môi trường sống có đến gần 90% thời gian sử dụng toàn Tiếng Việt, thì tất nhiên không bao giờ là bài bản đúng để có thể kỳ vọng những đứa bé ấy khi “già đầu” sẽ “giỏi ngoại ngữ”.

    Trong công tác hàn lâm lĩnh vực ngôn ngữ mà không phân biệt được chính-phụ“tiếng mẹ đẻ”-“ngoại ngữ” thì muôn đời thất bại.

    Các đặc công thủy hoặc đặc công người nhái tinh nhuệ có kỹ năng tuyệt luân sinh tồn dưới sông sâu biển cả trong các nhiệm vụ đặc biệt tấn công/phá hoại/tiêu diệt đối phương. Nhưng họ đương nhiên không bao giờ là cá để ăn tôm cá sống hay xác trôi sông/ngủ say dưới nước/vệ sinh dưới nước/uống nước sông nước biển/sinh hoạt tình dục lưu truyền nòi giống dưới sông dưới biển, chưa kể dù có chiến đấu giỏi bơi nhanh như chớp và lặn sâu lâu không cần dưỡng khí thì họ chỉ được thu nạp vào đội ngũ chỉ khi chứng tỏ có sức khỏe tuyệt luân ở trên bờ. Từ đó suy ra người ta chỉ có thể “giỏi ngoại ngữ” sau khi đã nắm vững “tiếng mẹ đẻ” mother tongue, và vấn đề, do đó, tùy vào quyết định xem ngôn ngữ nào là “tiếng mẹ đẻ” và ngôn ngữ nào là “ngoại ngữ” để có phương pháp học tập phù hợp để trở thành “người Việt giỏi ngoại ngữ” (để phục vụ các ngành kinh tế quốc dân sau này) hoặc “người Việt có tiếng mẹ đẻ không phải Tiếng Việt” (để phục vụ công tác gián điệp sau này – nhưng người Việt ấy ắt phải tuyển chọn từ trẻ em tại các cô nhi viện). Chỉ có người khỏe trên bờ làm người nhái chứ không có chuyện con nhái làm người nhái. Chỉ có chuyện ” người Việt giỏi Tiếng Việt mẹ đẻ thành người giỏi kiệt xuất Tiếng Anh ngoại ngữ” chứ không có chuyện ” người Việt giỏi Tiếng Anh mẹ đẻ làm người giỏi kiệt xuất Tiếng Anh ngoại ngữ”. Đó là cái cơ sở lý luận đặt trên nền tảng của commonsensenesscủa Hoàng Hữu Phước.

    Tất cả những người trưởng thành/thương nhân Âu Mỹ và các quan chức các tổ chức quốc tế hoặc cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam giỏi Tiếng Việt vì họ đã không bao giờ học “ngoại ngữ” Tiếng Việt từ mẫu giáo hay tiểu học, mà chỉ học Tiếng Việt ngoại ngữ sau khi họ đã nắm vững ngôn ngữ chính mother tongue của họ và đặc biệt khi họ đã trưởng thành trong tư duy để làm chủ phương pháp học ngoại ngữ nhanh nhất, bài bản nhất, hiệu quả nhất. Đó là cái cơ sở lý luận đặt trên nền tảng của commonsenseness của Hoàng Hữu Phước.

    Cái commonsenseness mà Hoàng Hữu Phước (và các danh nhân nước ngoài – kể cả gã Khổng Khâu tức Trọng Ni – từ thời thượng cổ đến nay) luôn cổ súy/khoe khoang/dạy đời/áp dụng ở đây sẽ phải là:

    học sinh Việt Nam ở Việt Nam chỉ có cơ hội giỏi ngoại ngữ Tiếng Anh nếu không bao giờ học ngoại ngữ Tiếng Anh từ cấp mẫu giáo hay cấp tiểu học nghĩa là chỉ học ngoại ngữ Tiếng Anh sau khi đã nắm vững ngôn ngữ chính mother tongue của họ nếu đó là Tiếng Việt hoặc tiếng nào khác không phải Tiếng Anh.

    C- Quy Trình Học Tiếng Mẹ Đẻ Của Nhân Loại

    Có lần trên báo Tuổi Trẻ (hay Người Lao Động – rất tiếc tôi chưa tìm ra tờ báo cũ để chụp hình bài viết) có đăng bài biện luận của tôi về học ngôn ngữ theo nhà ngôn ngữ học Mỹ giáo sư tiến sĩ Noam Chomsky, người đã từng đến Hà Nôi trong thời gian chiến tranh chống Mỹ còn học thuyết về văn phạm phái sinh của ông đã được lớp tôi nghiên cứu tại Đại Học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, và ngay lập tức có vị độc giả nọ viết thư phản ảnh trên báo rằng chính Noam Chomsky có bảo đó là ” học Tiếng Anh từ năm đầu đời“. Tôi vội viết thêm một bài cho Tuổi Trẻ (hay Người Lao Động?) giải thích rằng vị độc giả ấy hoàn toàn sai vì Noam Chomsky người Mỹ nên đã tiến hành nghiên cứu với hàng ngàn gia đình Mỹ và đương nhiên người Mỹ nói Tiếng Anh nên mô hình sau hoàn toàn đúng khi nói về trẻ em Mỹ học Tiếng Anh (tức “tiếng mẹ đẻ” của các bé ấy) và mô hình đó cũng hoàn toàn trùng lặp vơi quy trình học “tiếng mẹ đẻ” của toàn nhân loại:

    nghĩa là trẻ em sơ sinh Việt tại gia đình Việt trên đất Việt có “tiếng mẹ đẻ” là Tiếng Việt sẽ phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cũng tuần tự qua các quy trình trước-sau của Nghe-Nói-Đọc-Viết.

    Đó là quy trình tự nhiên về “tiếng mẹ đẻ” của hài nhi. Tiếc là ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận ra đó là quy trình học tiếng mẹ đẻ của trẻ thơ ở bất kỳ quốc gia nào chứ hoàn toàn không phải quy trình học ngoại ngữ của trẻ thơ và người lớn ở bất kỳ quốc gia nào.

    D- Quy Trình Học Tiếng Mẹ Đẻ Của Nhân Loại Theo Hoàng Hữu Phước

    Cũng vì tất cả người Việt nào đọc Noam Chomsky theo kiểu vị độc giả ba-chớp-ba-nháng trên cũng cứ hễ thấy chữ “Tiếng Anh” là vội quy chụp ngay đó là “ngoại ngữ” rồi quy kết ngay đó là “quy trình học Tiếng Anh”, từ đó dẫn đến tư duy sai rằng tại trường lớp dạy Tiếng Anh tất phải theo quy trình Nghe-Nói-Đọc-Viết ấy của hài nhi Tây, khiến liên tục phạm sai lầm khi xem Viết Tiếng Anh English Writing là công đoạn cuối cùng của tiến trình học Tiếng Anh, nên dành thời gian chủ yếu tập trung cho Luyện Nghe ListeningLuyện Nói Speaking, xem nhẹ Viết Tiếng Anh khiến không bao giờ giỏi Viết Tiếng Anh mà một khi đã kém Viết Tiếng Anh thì không bao giờ giỏi hùng biện Tiếng Anh tức Nói Tiếng Anh Cao Cấp, làm 45 năm sự nghiệp dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam từ ngày thống nhất trở nên hỏng bét:

    Tôi buộc phải hợp lý hóa chi tiết cái mô hình hàn lâm của Noam Chomsky như sau dưới tên gọi chính xác ” Mô Hình Học Tiếng Mẹ Đẻ ” để làm rõ cái công thức tối giản của Noam Chomsky để đồng bào Việt hiểu rằng ở Việt Nam toàn bộ các đại quan phụ trách phát triển việc dạy và học Tiếng Anh đã hoàn toàn sai do đần độn không có chút hiểu biết nào để nhận ra sự thật và bản chất vấn đề:

    theo đó, hài nhi “nghe” các âm thanh thốt ra từ miệng của mẹ/cha/nhũng người chung quanh, dần dần “lập lại” một cách máy móc mà không hiểu các ý nghĩa từ vựng, thời gian sau sẽ “nói chủ động” câu ngắn mỗi khi có đòi hỏi hoặc muốn kêu gọi, để rồi khi có thêm vài tuổi được cha mẹ dạy cho tập đồ chữ cái/phát âm chữ cái/nhận diện chữ, quy trình ấy dần nâng cao theo cấp lớp học thành viết chữ/đọc câu/đọc bài/chép bài/học thuộc lòng bài/trả bài, rồi trả lời miệng các câu hỏi tức “đọc hiểu”, trả lời viết cho phần “đọc hiểu” để hình thành viết luận văn tức viết thành bài hoàn chỉnh với ba phần nhập đề-thân bài-kết luận. Tất cả cho thấy không có sự tách bạch trước-sau của Nghe-Nói-Đọc-Viết trong phát triển “tiếng mẹ đẻ”của con người từ giai đoạn hài nhi trở lên, mà chính ra là – theo Hoàng Hữu Phước – có sự hòa quyện, bổ sung, song song tồn tại, nâng cấp trước-sau, nâng cấp đồng loạt, của cả 4 kỹ năng Nghe-Nói-Đọc-Viết trong phát triển “tiếng mẹ đẻ” tự nhiên nơi trẻ em.

    Tuyệt Đối Đúng: Nghe-Nói-Đọc-Viết chỉ đơn thuần là 4 kỹ năng được liệt kê tuần tự trước-sau theo thứ tự xuất hiện trong quá trình phát triển tự nhiên toàn thời gian đối với “tiếng mẹ đẻ” tại gia đình và trong môi trường sống của con người lúc còn nằm nôi. Thứ tự ấy biến mất sau khi trẻ em tiến vào giai đoạn số 5 của mô hình Hoàng Hữu Phước nghĩa là lúc trẻ em cầm chiếc bút chì để tập đồ chữ cái để đưa 4 kỹ năng ấy vào giai đoạn đồng hành xuyên suốt của hòa quyện, bổ sung, song song tồn tại, nâng cấp trước-sau, nâng cấp đồng loạt.

    Tuyệt Đối Sai: Nghe-Nói-Đọc-Viết là công thức tuần tự trước-sau các bước phải theo để một người Việt Nam học ” ngoại ngữ” ở Việt Nam dù mỗi ngày học một ít giờ ” ngoại ngữ” tại lớp học nội/ngoại ở Việt Nam, dù không theo tự nhiên của toàn nhân loại, và dù con người Việt Nam ở Việt Nam ấy còn là học sinh ở Việt Nam hay đã đủ sức tháo nôi vác đi bán ve chai hoặc lui cui lắp ráp nôi cho đứa con mới sinh của anh ta/chị ta tại Việt Nam.

    E- Mô Hình Hoàng Hữu Phước Về Học Tiếng Anh Của Việt Nam Cộng Hòa

    Như đã nói trong bài trước rằng commonsenseness đối với việc dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam nhất thiết phải là

    ( a) không được dựa theo sự thăng hoa ý tưởng của những thạc sĩ/tiến sĩ học thiếu năm ở trung học – chỉ đến lớp 9, không giỏi Tiếng Anh, không viết được bất kỳ bài nào ra hồn bằng Tiếng Anh từ khi mang danh thạc sĩ/tiến sĩ mà “cư dân mạng” từng biết đến, không có kinh nghiệm giảng dạy thành công Tiếng Anh dù tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà phải

    ( b) dựa vào những phương pháp/giáo trình đã được chứng minh thành công trong thời gian dài tại Việt Nam Cộng Hòa vì nó tương tự như các vũ khí chiến thuật và chiến lược tối tân của Mỹ cùng kho ngoại tệ và vàng tịch thu được của “Mỹ Ngụy” mà theo commonsenseness thì “cách mạng” phải ra sức bảo vệ thay vì đốt bỏ.

    Mô hình sau là thứ vũ khí tối tân/vàng/ngoại tệ tịch thu được của ” Ngụy Quân & Ngụy Quyền ” lẽ ra đã phải được bảo quản, duy tu, đánh bóng, sử dụng, phát huy, nâng giá bán của thành phẩm trên thị trường quốc tế:

    Bộ veston nam đã đạt đến độ tuyệt mỹ của nó như thành tựu cao nhất và cuối cùng của nhân loại nên mọi sự cách tân – nếu có – của bộ veston nam sẽ chỉ là thứ kỳ quái không-tồn-tại-lâu cho hạng celebrity kỳ quái không-tồn-tại-lâu chứ không bao giờ được mặc bởi giới quý tộc nam, giới tỷ phú nam, giới chính khách nam, và giới lãnh đạo doanh nghiệp nam.

    Mô hình dạy và học Tiếng Anh thành công ở Việt Nam Cộng Hòa đã đạt đến độ tuyệt hảo như thành tựu cáo nhất và cuối cùng của người Việt Nam nên mọi sự cách tân – nếu có – của phương pháp dạy và học Tiếng Anh ở Việt Nam sẽ chỉ là trò hề kỳ quái tồn tại lâu chừng nào càng đẩy đất nước Việt Nam vào bế tắc không có học sinh/sinh viên/người lao động giỏi Tiếng Anh.

    F- Kết Luận

    Bài Thí Sinh Lỡ Cơ Hội Vào Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh Vì Chứng Chỉ Tiếng Anh Ư? đã nêu các chi tiết phân loại về các chứng chỉ Tiếng Anh Michigan Proficiency, TOEFL, IELTSTOEIC cấp cho người học Tiếng Anh ở Việt Nam và tại các nước không-nói-tiếng-Anh tức những nơi mà Tiếng Anh chỉ là ngoại ngữ (second language/foreign language) chứ không là ngôn ngữ chính (mother tongue), phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của họ. Trong khi đó, TESOL (tức Teaching English to Speakers of Other Languages – Dạy Tiếng Anh Cho Người Nói Các Ngôn Ngữ Khác) là loại chứng chỉ về phương pháp giảng dạy Tiếng Anh dành cho người dạy Tiếng Anh tại Việt Nam và những quốc gia mà nơi đó Tiếng Anh chỉ là ngoại ngữ (second language/foreign language) chứ không là ngôn ngữ chính (mother tongue). Điều này khẳng quyết luận điểm của Hoàng Hữu Phước là hoàn toàn đúng : không bao giờ có một phương pháp chung cho việc dạy và học Tiếng Anh cho cả người có “tiếng mẹ đẻ” là Tiếng Anh tại những nước nói Tiếng Anh, và cho người có “tiếng mẹ đẻ” không-phải-Tiếng-Anh tại những nước không-có-ngôn-ngữ-chính-là-Tiếng-Anh, chưa kể phương pháp dạy “tiếng mẹ đẻ” cho trẻ em thuần dựa theo tự nhiên phải nghiên-cứu-để-nhận-diện-cái-bài-bản-đang-tự-nhiên-tồn-tại lại hoàn toàn khác với phương pháp dạy “ngoại ngữ” cho người-không-còn-là-hài-nhi thuần dựa theo bài-bản-phải-đề-ra-để-nghiên-cứu-và-áp-dụng.

    Tóm lại, Nghe-Nói-Đọc-Viết là quy trình tự nhiên trong phát triển ngôn ngữ chỉ nơi trẻ nằm nôi.

    Tóm lại, hiện trạng thê thảm của trình độ Tiếng Anh của học sinh Việt Nam sau 45 năm đầu tư tập trung của Nhà Nước chứng minh rằng Việt Nam chưa từng có các quan chức ra hồn về phát triển dạy/học Tiếng Anh ở Bộ Giáo Dục. Đó là kết luận dựa trên commonseness.

    Tóm lại, do chưa từng có bất kỳ nghiên cứu nào ra hồn ở Việt Nam về dạy/học Tiếng Anh ở Việt Nam, cái commenseness đương nhiên sẽ là: mô hình Hoàng Hữu Phước về quy trình học Tiếng Anh ở Việt Nam là duy nhất đúng, duy nhất khả thi, duy nhất có thể chứng minh nếu áp dụng thì năm 2040 tức chỉ sau 20 năm nữa thôi thì tình hình chất lượng Tiếng Anh của học sinh/sinh viên Việt Nam tại Việt Nam sẽ tốt hơn rất nhiều lần cái kết quả chả ra gì của năm 2022 vốn chỉ cho thấy sự thất bại hoàn toàn của việc dạy và học Tiếng Anh chính quy ở Việt Nam. Đó là kết luận dựa trên commonseness.

    Tóm lại, do chưa từng có bất kỳ thạc sĩ/tiến sĩ Việt Nam nào ở Việt Nam hay đã tẩu thoát khỏi Việt Nam viết nên bất kỳ thứ gì bằng Tiếng Anh mà chất lượng ” xém” bằng, ngang bằng, hay tốt hơn bài Thư Gởi Giáo Hoàng Francis của Hoàng Hữu Phước, nên Hoàng Hữu Phước là người duy nhất ở Việt Nam có thẩm quyền nói về phương pháp dạy/học Tiếng Anh ở Việt Nam, và tất nhiên Hoàng Hữu Phước không công nhận giá trị bất kỳ các phản biện của bất kỳ ai nhất là khi nó được viết không bằng Tiếng Anh và không bởi người có tư cách nói về dạy/học Tiếng Anh. Đó là kết luận dựa trên commonseness.

    Tóm lại, đây là bài viết duy nhất có giá trị thực tiễn về dạy/học Tiếng Anh ở Việt Nam cho người Việt Nam. Đó cũng là kết luận dựa trên commonseness.

    Tóm lại, một chính phủ thông minh thực tâm vì nước vì dân và chống tham nhũng luôn đương nhiên sử dụng Hoàng Hữu Phước trong quản lý sự nghiệp phát triển dạy/học Tiếng Anh cho người Việt ở Việt Nam. Đó đương nhiên cũng là kết luận tự nhiên dựa trên commonseness.

    Và tóm lại, Hoàng Hữu Phước đã đúng về mọi cái “tóm lại” ở trên. Và đó đương nhiên cũng là kết luận dựa trên commonseness.

    Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-sư Anh-văn (Nguyên giảng viên English Lexicology, British Civilization & Literature, English Composition, Business English, Interptation & Translation, và English Grammar tại các trường Cao Đẳng Sư Phạm TP HCM, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan, Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Trung Tâm Ngoại Ngữ -Tin Học FOSCO KM, và Trường Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ, v.v.), Nhà Biện-thuyết, Nghị-sĩ Khóa XIII.

    Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2022 bằng tiếng Anh)

    Parler: @hoanghuuphuoc (tham gia từ 2022 bằng tiếng Anh)

    GAB: @HoangHuuPhuocVietnam (tham gia từ 2022 bằng tiếng Anh)

    Anphabe: https://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt)

    LinkedIn: https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt)

    WordPress (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt): https://hoanghuuphuocvietnam.wordpss.com

    Commonsenseness: Commonsenseness 31-8-2020

    Giáo Hoàng Francis: Letter to His Holiness Pope Francis 01-8-2017 (bản dịch Tiếng Việt: Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis 01-8-2017)

    Sự thất bại hoàn toàn của việc dạy và học Tiếng Anh chính quy ở Việt Nam: Nhận Xét Về Sự Thất Bại Của Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Chính Quy Ở Việt Nam 23-9-2020

    Thạc sĩ/tiến sĩ Việt Nam: Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam 30-12-2015

    Trọng Ni: “Thiên bất sinh Trọng Ni, vạn cổ như trường dạ; Thiên hữu sinh Lăng Tần, thiên tuế như cửu đán (Trời mà không sinh ra Trọng Ni, thì vạn kiếp biến đêm dài; Trời đã tạo được Lăng Tần, để vạn thủa hóa hừng đông).

    Việt Nam bắt đầu đào tạo giáo viên Tiếng Anh sai bậy: Cao Minh Thì 28-6-2020

    Việt Nam Cộng Hòa: Việt Nam Cộng Hòa 13-9-2019

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Anh Ở Việt Nam ‘lạc Loài Thế Giới’
  • Tài Liệu Miễn Phí: Bảng Đánh Vần Tiếng Việt
  • Cách Nuôi Dạy Trẻ 6 Tháng Tuổi Thông Minh Và Phát Triển Toàn Diện
  • 5 Sai Lầm Thường Gặp Khi Dạy Trẻ Học Tiếng Anh
  • Phương Pháp Dạy Ngữ Âm Trong Một Tiết Dạy
  • Tiếng Việt Ở Úc: Du Học Sinh Việt Nam Dạy Tiếng Việt Ở Úc

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Phát Âm Tiếng Việt Cho Sinh Viên Úc
  • Lại Tiếng Việt Ở Hải Ngoại
  • Dạy, Học Tiếng Việt Tại Úc
  • Bộ Giáo Trình Dạy Piano Bằng Tiếng Việt Dành Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Phương Pháp Tự Học Lập Trình Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Hành trang cần có.

    Theo Hằng, hiện đang dạy tiếng Việt tại Melbourne, hành trang quan trọng hơn cả để giúp các bạn dạy tiếng Việt cho người Úc là vốn hiểu biết về văn hóa Việt Nam bởi vì ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ mật thiết. Cũng giống như việc dạy tiếng Việt ở các trung tâm, các bạn sinh viên cũng cần có giáo trình để dạy. Với những bạn đã từng ít nhiều có kinh nghiệm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam thì các bạn có thể nhờ người nhà mua sách ở Việt Nam và gửi qua Úc. Còn với các bạn chưa dạy bao giờ hoặc các bạn người Việt ở Úc như Bianca (Trang) ở Sydney thì chủ yếu các bạn tham khảo các giáo trình dạy tiếng Việt trên mạng Internet.

    Dạy tiếng Việt như thế nào?

    Sinh viên thường dạy theo kiểu một kèm một nên phương pháp dạy và giáo trình dạy nói chung linh hoạt hơn so với các trung tâm. Hằng cho biết: “Đa số người Úc học tiếng Việt là những người đang đi làm nên họ có rất ít thời gian để học và thường thích học nói hơn. Họ cũng không quá chú trọng vào ngữ pháp như cách người Việt Nam trong nước học tiếng Anh. Mình cố gắng dạy họ cách nói tự nhiên như người Việt Nam. Vì vậy, mình thường tự soạn giáo trình và đưa ra các tình huống để họ thực hành nói. Cứ nói đi nói lại rồi họ sẽ nhớ (cười).”

    Nhiều người thích học một kèm một để có sự linh hoạt về thời gian và học buổi nào trả tiền buổi đó. Loan cho biết thường thì người học không định trước là họ sẽ học bao lâu, nói chung là tùy theo hứng thú và khả năng sắp xếp công việc của họ, trừ những người học để đi du lịch và sang Việt Nam làm việc. Vì thế, các bạn sinh viên luôn cố gắng tạo hứng thú cho người học qua sự sáng tạo trong cách truyền đạt, các câu chuyện về văn hóa, lịch sử, phong tục, tập quán của Việt Nam.

    Bên cạnh đó, đối với người nước ngoài học tiếng Việt nói chung và người Úc học tiếng Việt nói riêng, đa số đều cho rằng cái khó nhất trong học tiếng Việt là phát âm. Một số người sau khi học ở trung tâm ngoại ngữ lại quyết định học riêng để luyện phát âm kỹ hơn và có nhiều cơ hội thực hành nói hơn. Angela đã từng học tiếng Việt ở một trung tâm ngoại ngữ ở Melbourne nhưng sau đó chị quyết định tìm một người dạy kèm để luyện nói tiếng Việt nhiều hơn.

    Dạy tiếng Việt có phải là một nghề thu nhập khá đối với sinh viên?

    Trao đổi về vấn đề thu nhập từ việc dạy tiếng Việt, đa số các bạn sinh viên cho rằng thu nhập không nhiều vì người học thường chỉ học từ một đến hai buổi một tuần, mỗi buổi kéo dài từ một đến hai tiếng. Hơn nữa, số người học không phải lúc nào cũng duy trì ở mức ổn định. Hoặc có khi nhiều người cùng đăng ký học một lúc nhưng không thể nhận dạy hết vì thời gian không cho phép. Cũng có khi không có học viên nào. Tuy nhiên, các bạn vẫn thích dạy tiếng Việt vì như Trang nói: “Đó là cơ hội để quảng bá ngôn ngữ và văn hóa, đất nước và con người Việt Nam.”

    Người Úc học tiếng Việt trên đất Úc có thể được chia thành các nhóm bao gồm: những người thường xuyên làm việc với người Việt tại Úc, những người đang có bạn trai/bạn gái người Việt, những người đang có nhu cầu lấy vợ người Việt, những người làm kinh doanh có quan hệ với đối tác Việt Nam, những người chuẩn bị sang Việt Nam làm việc, những người chuẩn bị sang Việt Nam du lịch, những người làm từ thiện, và những người thích học ngoại ngữ, những người thích tìm hiểu Việt Nam và một số muốn duy trì vốn tiếng Việt đã học được sau một thời gian sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Ngoài mục đích học ngôn ngữ để có thể giao tiếp, nhiều người đặc biệt quan tâm đến văn hóa Việt Nam.

    Đối với một số bạn sinh viên Việt Nam tại Úc, dạy tiếng Việt không chỉ là để tăng thu nhập mà quan trọng hơn là cơ hội để trao đổi văn hóa, nâng cao khả năng tiếng Anh và quảng bá tiếng Việt.

    Nguồn Bay Vut

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nỗ Lực Giữ Chương Trình Song Ngữ Tiếng Việt Ở Úc
  • Chương Trình Giảm Tải Môn Tiếng Việt Lớp 1 Chính Thức Của Bộ Giáo Dục
  • Bảng Giá Gia Sư Dạy Kèm Tiếng Việt Lớp 5 Tại Nhà Ở Hà Nội
  • “dạy Tiếng Việt Lớp 1” Trên Truyền Hình Vtv7 Cùng Cô Giáo Đào Thu Thủy ​​​​​
  • Vtv7 Mở Chương Trình Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Vào 9H Sáng Hàng Ngày
  • Thực Trạng Sử Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Ở Trung Học Phổ Thông (Thpt) , Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Do Học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng
  • Tuyển Giáo Viên Dạy Tiếng Việt Cho Người Hàn Quốc Tại Việt Nam Làm Việc Từ Xa
  • Gia Sư Dạy Tiếng Việt Cho Người Hàn Tại Nhà Cam Kết Chất Lượng
  • Chuyên Đề: “dạy Tiếng Việt Theo Mô Hình Vnen”
  • Trường Tiểu Học Lê Hồng Phong Tổ Chức Hội Nghị Chuyên Đề Môn Tiếng Việt Lớp 3 Theo Mô Hình Dạy Học Vnen Và Lớp Học Thông Minh
  • đặc biệt là tiếng Anh. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thống của 45 quốc gia, 1/3 dân số thế giới nói tiếng Anh, 75% chương trình truyền hình phát bằng tiếng Anh, 3/4 bưu kiện thư tín viết bằng tiếng Anh(1), bàn phím máy vi tính là bàn phím tiếng Anh, bất cứ hội nghị nào với tên gọi là hội nghị quốc tế thì ngôn ngữ làm việc của hội nghĩ đó nhất định cần phải dùng tiếng Anh…. Tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay được chính phủ và người dân chúng ta hàng năm bỏ ra rất nhiều công sức, tiền của vào việc dạy và học tiếng Anh. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO thì vai trò là cầu nối để giao lưu văn hóa, học hỏi, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước trên thế giới càng được nhấn mạnh. Do đó có thể khẳng định rằng việc dạy và học môn tiếng Anh chiếm vị trí rất quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta. Chính vì ý thức được tầm quan trọng của sự tác động to lớn của tiếng Anh đối với sự phát triển của xã hội, Nhà nước cũng như ngành Giáo dục đã đề ra các chính sách khuyến khích học tập, phổ biến chương trình dạy tiếng Anh rộng rãi đến từng các bậc học và gần đây là cả ở bậc tiểu học. Việc phổ cập tiếng Anh ở các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông ngày càng phát sinh những đòi hỏi ngày càng cao không chỉ về trình độ mà còn về phương pháp giảng dạy của giáo viên. Tuy vậy, trình độ ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức nước ta nhìn chung còn thấp, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp còn hạn chế, khả năng nghiên cứu, làm việc độc lập trong môi trường hội nhập quốc tế còn yếu. Nguyên nhân là do việc tổ chức dạy và học ngoại ngữ ở các cấp học còn nhiều hạn chế, một bộ phận giáo viên dạy ngoại ngữ còn yếu kém về năng lực chuyên môn, lạc hậu về phương pháp, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho việc dạy và học ngoại ngữ còn nghèo nàn, lạc hậu, …Vì vậy nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là làm thế nào để nâng cao được chất lượng đào tạo đặc biệt về mặt phương pháp giảng dạy tiếng Anh. Lý do chủ quan: Giáo dục THPT hiện nay đã và đang từng bước nâng chất lượng và hiệu quả giáo dục, song còn gặp nhiều bất cập đã được chỉ ra nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các trường THPT cần năng động, hiệu quả hơn trong việc sử dụng phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học tiếng Anh nói riêng. Là sinh viên chuyên ngành Sư phạm tiếng Anh luôn quan tâm về mặt phương pháp giảng dạy tiếng Anh đặc biệt ở các trường THPT và mong muốn góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới toàn diện giáo dục, cũng như góp phần đào tạo thế hệ trẻ có năng lực tiếng Anh phục vụ cho bối cảnh đất nước trước thềm hội nhập. Xét theo định hướng và tầm nhìn trên, đề tài “Thực trạng việc dạy học tiếng Anh xét về phương pháp giảng dạy, nguyên nhân và biện pháp” được thực hiện mong góp phần đẩy lùi các bất cập, tồn tại trên thực trạng. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương pháp giảng dạy tiếng Anh hiện nay tại các trường THPT. Từ đó đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng PPDH tiếng Anh tại các trường THPT. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu, tổng hợp lý luận phương pháp dạy học. Khảo sát thực trạng sử dụng PPDH tiếng Anh bậc THPT. Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên. Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp dạy học tiếng Anh bậc THPT. Khách thể và đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu Hoạt động giảng dạy tiếng Anh bậc THPT hiện nay. Đối tượng nghiên cứu Việc sử dụng phương pháp dạy học tiếng Anh bậc THPT hiện nay. Các phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm tài liệu lý luận về phương pháp dạy học và việc sử dụng phương pháp dạy học tiếng Anh bậc THPT Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu khảo sát với đối tượng khảo sát: học sinh. Phỏng vấn sâu giáo viên giảng dạy tiếng Anh. Thu thập, phân tích và thống kê số liệu. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG THPT Phương pháp dạy học Phương pháp: Có nhiều cách hiểu khác nhau về phương pháp vì nó là một khái niệm rất trừu tượng. Theo lý thuyết hoạt động phương pháp là cách thức của chủ thể tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện, là tổ hợp các bước mà chủ thể phải đi theo để đạt được mục đích. Phương pháp là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc dùng để chỉ đạo thành công. Phương pháp là hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung (Hêghen). Theo lý thuyết hệ thống thì hoạt động là một hệ thống bao gồm ba thành tố cơ bản: mục đích – nội dung – phương pháp. Phương pháp là con đường, là sự vận động của nội dung đến mục đích. Khi định nghĩa phương pháp không thể tách rời cái đích của nó. Một thành tố chỉ là phương pháp trong một hệ thống nhất định. Cũng thành tố ấy đặt trong một hệ thống khác có thể nó không còn là phương pháp nữa. Định nghĩa về phương pháp chỉ mang tính tương đối. Phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh do giáo viên tổ chức, điều khiển, học sinh tự tổ chức tự điều khiển nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. Phương pháp dạy học là sự kết hợp hữu cơ thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học. Phương pháp dạy học theo nghĩa rộng bao gồm: Phương tiện dạy học Hình thức tổ chức dạy học Phương pháp dạy học theo nghĩa hẹp Các đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học Phương pháp dạy học có tính mục đích: phương pháp dạy học bị qui định và chi phối bởi mục đích, mục tiêu giáo dục – đào tạo nói chung, các nhiệm vụ dạy học nói riêng. Ngược lại, phương pháp dạy học lại là cách thức, phương tiện, con đường nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học. Mối quan hệ giữa mục đích, nhiệm vụ dạy học với phương tiện dạy học là mối quan hệ giữa phương tiện và mục đích. Phương pháp dạy học có tính nội dung, nó là “hình thức về cách thức vận động bên trong nội dung”, là phương thức truyền tải nội dung từ người dạy, từ sách và các nguồn tài liệu tới người học cũng như là phương thức chiếm lĩnh các nguồn tài liệu đó của người học. Nó bị qui định và bị chi phối bới nội dung dạy học, mỗi môn học đều có phương pháp dạy học tương ứng. Khi lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học cần căn cứ vào đặc điểm, tính chất của các môn học, và nội dung các bài. Trong một bài học có thể phối hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm đạt kết quả tốt nhất. Phương pháp dạy học có tính hiệu quả: mục đích cuối cùng dạy học là phải mang lại chất lượng và hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định. Cho nên giáo viên và học sinh phải vận dụng các phương pháp dạy và học mang lại hiệu quả cao nhất. Phương pháp dạy học có tính hệ thống: các phương pháp dạy học không tồn tại biệt lập mà luôn hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh có mối quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Phân loại các phương pháp dạy học Phương pháp dạy học được tiếp cận nhiều quan điểm phức hợp. Xin giới thiệu một vài quan điểm phân loại phương pháp dạy học như sau: Dựa trên quan điểm hoạt động (đại diện I.K.Babanxki) chia phương pháp dạy học thành 3 nhóm: Nhóm phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động nhận thức – học tập Nhóm phương pháp kích thích và hình thành động cơ hoạt động nhận thức – học tập. Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá hoạt động nhận thức học tập Trong từng nhóm phương pháp tổ chức thực hiện hoạt động nhận thức – học tập bao gồm nhiều nhóm phương pháp dạy học bộ phận như: Nhóm phương pháp dạy học dùng lời Nhóm phương pháp dạy học trực quan Nhóm phương pháp dạy học thực hành Dựa trên mức độ, tính chất hoạt động nhận thức của học sinh (đại diện M.N.Scatkin, I.Ia.Lecne …): Phương pháp dạy học minh họa – giải thích Phương pháp dạy học tái hiện Phương pháp trình bày có tính chất vấn đề Phương pháp tìm tòi bộ phận Phương pháp nghiên cứu Dựa vào các mục đích dạy học cơ bản được thực hiện trong quá trình dạy học (đại diện M.A Đanhilôp, B.P.Exipôp …) Nhóm phương pháp hình thành tri thức (thuyết trình, đàm thoại, trực quan …) Nhóm phương pháp hình thành kỹ năng (luyện tập, làm thí nghiệm …) Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo học sinh. Dựa trên các bước phát triển của một bài dạy Nhóm phương pháp mở đầu (khởi động) bài dạy Nhóm phương pháp triển khai bài dạy Nhóm phương pháp kết thúc bài dạy Các nhà giáo dục học Việt Nam căn cứ vào mục đích dạy học cơ bản và phương tiện dạy học chủ yếu được sử dụng trong quá trình dạy học đã chia phương pháp dạy học thành 4 nhóm, đó là: Nhóm phương pháp dạy học dùng lời Nhóm phương pháp dạy học trực quan Nhóm phương pháp dạy học thực tiễn Nhóm phương pháp dạy học kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống Nhóm phương pháp dạy học dùng lời Phương pháp dạy học thuyết trình : Định nghĩa: là cách thức chuyển giao và tiếp nhận một khối lượng kiến thức lớn có hệ thống bằng ngôn ngữ nói của giáo viên trong những khoảng thời gian nhất định. Mục đích cơ bản là hình thành tri thức mới ở HS hoặc củng cố, hệ thống hóa tri thức, kỹ năng, kĩ xảo. Phân loại phương pháp thuyết trình: Dựa vào tính chất của nội dung thuyết trình – Giảng thuật: chứa đựng yếu tố miêu tả, trần thuật. PP này không chỉ được sử dụng trong việc dạy học các môn khoa học xã hội – nhân văn mà cả những môn khoa học tự nhiên khi mô tả thí nghiệm, hiện tượng … GV có thể sử dụng phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật (máy chiếu) để minh họa cho việc trình bày của mình, hoặc nêu câu hỏi nhằm thu hút sự chú ý của HS. – Giảng giải: sử dụng những luận cứ, số liệu để giải thích và chứng minh một hiện tượng, sự kiện, định luật, định lý … PP này chứa đựng yếu tố suy đoán, suy lý nên có nhiều khả năng phát triển tư duy logic của HS. Giảng giải thường được kết hợp với giảng thuật. – Diễn giảng: nhằm trình bày một vấn đề có tính phức tạp, trừu tượng và khái quát trong một thời gian tương đối dài, PP này ít được dùng ở trường THPT. Dựa trên mức độ, tính chất hoạt động nhận thức – Thuyết trình thông báo – tái hiện: có tính chất thông báotrong lời giảng của thầy và tính tái hiện sau khi lĩnh hội ở trò. PP này chỉ cho phép HS đạt đến trình độ tái hiện của sự lĩnh hội thôi nên sự hoạt động của trò là tương đối thụ động. – Thuyết trình nêu vấn đề: có cấu trúc thuyết trình, song phát triển theo một hướng tích cực hơn – trình bày mang tính “nêu vấn đề”. GV trình bày hệ thống tri thức theo một trình tự logic hợp lý dưới dạng nêu vấn đề gợi mở, “tính nêu vấn đề” thể hiện ở chỗ “vấn đề” được nêu ra không nhất thiết phải mang tính thường xuyên, liên tục và không phải là một giai đoạn, một bước hay một chu kì như dạy học nêu vấn đề. Việc “nêu vấn đề” ở đây mang tính định hướng cho tư duy của HS và định hướng cho sự trình bày của GV. Việc “nêu vấn đề” không làm thay đổi bản chất của phương pháp mà lại có khả năng kích thích được tư duy của HS. Ưu điểm, nhược điểm: Ưu điểm: + Cho phép trình bày nội dung lý thuyết khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà HS không tự tìm hiểu được. + Cho phép trình bày mô hình mẫu của tư duy logic, của cách trình bày và lí giải vấn đề một cách khoa học + Hình thành tư tưởng tình cảm tốt đẹp, niềm tin và hoài bão qua ngôn ngữ và nhân cách của giáo viên. + Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, tư duy bằng khái niệm ở HS. + Tính kinh tế cao. Nhược điểm: + Dễ làm người học thụ động, mệt mỏi. + Ít phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và kĩ năng. + Thông tin ngược không được đảm bảo tốt. Phương pháp đàm thoại: Định nghĩa: là cách thức GV đặt ra một hệ thống câu hỏi, tổ chức cho HS trả lời, có thể trao đổi qua lại, tranh luận với nhau và với giáo viên, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học Phân loại phương pháp đàm thoại – Dựa vào các khâu của quá trình dạy học: đàm thoại mở đầu, đàm thoại phát triển, đàm thoại củng cố và đàm thoại kiểm tra. – Dựa theo mức độ của quá trình nhận thức: đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích – minh họa và đàm thoại sáng tạo. Ưu điểm, hạn chế: – Kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của HS. – Bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học của học sinh. – Giúp GV thu tín hiệu ngược từ HS nhanh, kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học, HS cũng thu được tín hiệu ngược để kịp thời điều chỉnh hoạt động học tập – nhận thức của mình. – Nếu không vận dụng khéo léo dễ gây mất thời gian, biến đàm thoại thành đối thoại giữa GV với một số HS. Phương pháp làm việc với SGK và tài liệu tham khảo Trong quá trình làm việc tự lực với SGK và các tài liệu, sách báo khác, HS không chỉ nắm vững đào sâu và mở rộng tri thức mà còn hình thành kĩ năng, kĩ xảo để học tập suốt đời – học qua sách. Làm việc với SGK và tài liệu sách báo khác có thể diễn ra trên lớp và ngoài lớp. Nhóm phương pháp dạy học trực quan Định nghĩa: là PP sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học để hình thành, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ở HS. Phân loại phương pháp trực quan: phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan. Ưu điểm và hạn chế: – Giúp HS có thông tin đầy đủ và sâu sắc về đối tượng nghiên cứu trên cơ sở huy động nhiều giác quan tham gia vào quá trình tri giác đối tượng nhận thức, từ đó phát triển tư duy trừu tượng, hình thành khái niệm về đối tượng … – Làm thỏa mãn và phát triển hứng thú người học. – Làm cho tài liệu học tập vừa sức hơn đối với HS. – Tăng cường lao động của người học và bằng cách đó nâng cao nhịp điệu nghiên cứu tài liệu học tập. – Nếu lạm dụng HS sẽ phân tán sự chú ý, thiếu tập trung vào các dấu hiệu bản chất hạn chế phát triển tư duy trừu tượng. Nhóm các phương pháp thực hành PP GV tổ chức cho HS trực tiếp hoạt động thực hành, thực tiễn để tìm tòi tri thức mới hay vận dụng tri thức vào thực tiễn nhằm củng cố, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo … nhóm PP này bao gồm PP luyện tập, ôn và PP làm việc trong phòng thí nghiệm. Nhóm này gồm có: + Luyện tập. + Độc lập làm thí nghiệm. + Ôn tập. Ưu điểm Nhóm phương pháp này rèn cho học sinh được kỹ năng, kỹ xảo và qua đó củng cố, mở rộng những tri thức đã học nhằm rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo, hình thành cho người học một số phẩm chất như tính độc lập, tinh thần trách nhiệm, tính sang tạo, tính tập thể. Nhược điểm – Nếu khâu chuẩn bị không chu đáo sẽ gây ra tình trạng học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo một cách máy móc, giáo điều. Một số phương pháp dạy học hiện đại Dạy học giải quyết vấn đề: Là một cách tiếp cận trong lĩnh vực phương pháp. Nó là một tập hợp nhiều phương pháp dạy học mà trung tâm là phương pháp bài toán (bài toán nhận thức). Ưu điểm và nhược điểm của dạy học giải quyết vấn đề: Giúp HS nắm tri thức và phát triển hoạt động trí tuệ một cách sâu sắc và vững chắc, đặc biệt là phát triển năng lực tư duy độc lập sáng tạo. Nâng cao hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng tìm kiếm, phát hiện vấn đề, năng lực vận dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, bước đầu làm quen với phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học. Bồi dưỡng phẩm chất, tác phong người làm khoa học. Tốn nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu học tập. Khó thực hiện đối với tất cả nội dung dạy học Khó thực hiện đối với HS yếu Đòi hỏi GV có sự chuẩn bị bài công phu và kinh nghiệm tổ chức. Dạy học theo nhóm nhỏ Dạy học theo nhóm nhỏ là kiểu PP dạy học, trong đó HS được chia thành nhóm và dưới sự chỉ đạo của GV, trao đổi những ý nghĩ, nguồn kiến thức, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Ưu điểm và nhược điểm Các thành viên cùng có cơ hội tham gia chia sẻ ý kiến. Có thể thay đổi cấu trúc của các nhóm, tạo cơ hội cho các thành viên có dịp trao đổi nhiều người với nhau. Tạo cơ hội để hội họp các ý kiến và quan điểm khác nhau, giúp quá trình giải quyết vấn đề. Xây dựng ý thức làm việc theo nhóm. Một hoặc hai thành viên của nhóm có thể trội hơn thì các thành viên khác có thể bị co lại. PP này tốn nhiều thời gian để có sự tham gia của tất cả thành viên. Không phù hợp với lớp đông sinh viên. Dạy học theo dự án Dạy học theo dự án gọi tắt là dạy hoc dự án (DHDA) được hiểu như một phương pháp dạy học hướng HS đến việc tiếp thu tri thức và kĩ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống, được gọi là một dự án (project) mô phỏng môi trường các em đang sống và sinh hoạt. Ưu điểm và nhược điểm HS là người chịu trách nhiệm chính của việc học và tự xây dựng kiến thức của mình Thiết lập mối liên hệ với cuộc sống ở ngoài môi trường lớp học. Hướng đến các vấn đề của thế giới thật. Phát triển kĩ năng sống Tạo điều kiện cho nhiều phong cách học khác nhau được triển khai Nhiệm vụ học đến được với tất cả HS Công nghệ thông tin được tích hợp vào quá trình học tập Tuy nhiên, dạy học theo dự án cần có các điều kiện như phương tiện và điều kiện dạy và học, tốn thời gian và đôi khi việc giải quyết dự án không gắn với nội dung môn học trong chương trình dạy. Tóm lại: Mỗi phương pháp đều có ưu điểm, nhược điểm riêng, không có phương pháp nào là vạn năng vì vậy trong quá trình dạy học, người giáo viên phải vận dụng, phối hợp nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp dạy học tiếng Anh Một số phương pháp dạy học tiếng Anh Phương pháp Ngữ pháp – Dịch Phương pháp Ngữ pháp – Dịch (Grammar – Translation Method) hay còn gọi là phương pháp Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 cho đến tận những năm 1990. Về bản chất, theo PP này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kĩ năng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ). Quy trình thực hiện: Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn. Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là cơ bản. HS được học về ngữ pháp rất kĩ trên cơ sở các hiện tượng ngữ pháp cơ bản được rút ra từ các bài khóa. Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài khóa sang tiếng mẹ đẻ. HS không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay. Ưu điểm: HS được rèn luyện rất kĩ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn. HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc bài khóa mẫu. HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản. Hạn chế: Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy- thầy giảng giải, nói nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè. Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều – HS hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kĩ năng nói của HS bị hạn chế. Một số lưu ý: Ở chừng mực nào đó, GV vẫn có thể áp dụng Phương pháp Truyền thống, ví dụ: khi muốn kiểm tra sự hiểu chính xác về một văn bản (đoạn văn, câu thơ…trong bài đọc hiểu) hoặc một cấu trúc câu phức tạp khác với cấu trúc câu trong tiếng Việt, GV có thể yêu cầu HS dịch sang tiếng Việt. Việc kiểm tra sự thông hiểu qua hoạt động dịch không nên tiến hành thường xuyên vì sẽ tạo thói quen cho HS phải tư duy qua tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) trước khi phát ngôn. Như vậy sẽ cản trở sự lưu loát (fluency) của HS trong giao tiếp. Việc đánh giá kết quả học tập của HS thông qua các hoạt động trả lời các câu hỏi về nội dung các bài khóa; dịch các bài khóa, các đoạn văn trích (dịch sang tiếng Việt, và dịch ngược sang tiếng Anh); thực hành các bài tập ngôn ngữ máy móc (thường là luyện tập các mẫu câu). GV giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, có nhiệm vụ chuẩn bị bài khóa, câu hỏi và các bài tập ngữ pháp, giảng giải qui tắc ngôn ngữ. HS được yêu cầu tập đọc bài khóa, học thuộc lòng từ vựng, các đoạn văn mẫu và giải thích một cách tường minh hiện tượng ngữ pháp. Phương pháp tự nhiên (hay trực tiếp) Vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát triển tới trình độ cao, chủ nghĩa đế quốc đã lan tràn khắp thế giới do đó nhu cầu giao lưu mọi mặt giữa các nước, khu vực ngày càng tăng và càng thâm nhập vào nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là trong giới kinh doanh thương mại. Tình hình đó đòi hỏi ngày càng nhiều người nhanh chóng nắm được những ngoại ngữ thông dụng nhất để làm phương tiện phục vụ đời sống hàng ngày, chứ không chỉ dừng lại những giáo lí, những thông tin sách vở như trong nhiều thế kỉ trước. Phương pháp dạy-học ngoại ngữ cổ truyền của phương Đông và phương Tây đều không thỏa mãn được những đòi hỏi bức thiết của thời kì mới. Qua thực tiễn giao tiếp hàng ngày giữa những cư dân nhiều dân tộc trong các cộng đồng xã hội ở chính quốc, cũng như các nước phụ thuộc, người ta nhận thấy việc học tập tiếng nước ngoài (trước hết là tiếng Anh và tiếng Pháp) qua con đường tiếp xúc tự nhiên, trực tiếp có hiệu quả thiết thực hơn trước. Từ đó các nhà giáo dục ngoại ngữ đề xuất một phương pháp dạy-học mới đó là Phương pháp Tự Nhiên hay Trực Tiếp. Về bản chất: mô phỏng con đường hình thành ngôn ngữ ở trẻ con, kể cả tiếng mẹ đẻ lẫn tiếng nước ngoài. Mục đích của phương pháp này đối lập lại các phương pháp truyền thống, lấy tiếng nói sinh động trong đời sống sinh hoạt hàng ngày làm đối tượng chiếm lĩnh chủ yếu (nên người ta thường gọi là học sinh ngữ) chứ không phải các văn bản viết như trước nữa. Để đảm bảo thực hiện triệt để mục đích, yêu cầu nêu trên, người ta đề ra một số luận điểm có tính nguyên tắc như: Bắt chước trực tiếp tiếng nói tự nhiên của người nước ngoài. Loại trừ tiếng mẹ đề ra khỏi quá trình dạy học, tuyệt đối cấm phiên dịch trong giờ học. Tạo tình huống học tập bằng các đồ dùng và thao tác trực quan để giải thích ý nghĩa của từ ngữ và nội dung câu nối. Tăng cường luyện tập thực hành (bắt chước máy móc), tránh giải thích lí thuyết ngôn ngữ dài dòng. Quy trình thực hiện: Liên tưởng ngữ nghĩa tiếng Anh một cách trực tiếp thông qua vật minh họa, hình ảnh, hoặc sự diễn đạt bằng điệu bộ. HS được nói nhiều bằng tiếng Anh.Ngữ pháp được giảng dạy theo phương pháp qui nạp. Sử dụng từ vựng trong những câu chưa hoàn chỉnh. Ngôn ngữ là “nói”, không phải “viết”. Vì vậy, HS học tiếng Anh thông dụng hằng ngày. Từ vựng được nhấn mạnh nhiều hơn ngữ pháp. Kỹ năng cơ bản là kỹ năng nói. Kỹ năng đọc và viết dựa trên kỹ năng nói, phát âm được chú trọng ngay từ ban đầu. HS tự sửa lỗi của mình bất kì khi nào có thể. Ưu điểm: Phù hợp để áp dụng trong các trường tư thục có khả năng tài chính để mời các giáo viên người bản xứ. Cung cấp những phương thức học tiếng Anh hứng thú thông qua các hoạt động. Phương pháp này có hiệu quả trong sự phát triển tốt kĩ năng nghe và nói đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học vì trẻ em có khả năng bắt chước tốt. Hạn chế: Yêu cầu chi phí cao để trả cho lớp học với số lượng HS nhỏ, quan tâm được từng cá nhân HS và nghiên cứu chuyên sâu, không phù hợp với các trường công có số lượng HS lớn trong một lớp học, ngân quỹ hạn chế và sự đào tạo giáo viên. Phụ thuộc nhiều vào giáo viên. GV phải thành thạo tiếng Anh vào khéo léo sử dụng tiếng Anh để diễn giải ý nghĩa mà không sử dụng tiếng Việt. Luyện tập thực hành mang tính máy móc không có tính hệ thống. HS không đủ tài năng không thể tạo được sự liên tưởng trực tiếp giữa các tình huống và cụm từ nước ngoài. Phương pháp này thực sự đã làm đổi mới cách dạy, học ngoại ngữ và mang lại hiệu quả cụ thể, thiết thực so với phương pháp ngữ pháp – phiên dịch và từ ngữ – phiên dịch, do đó nó nhanh chóng được phổ biến rộng rãi tại nhiều nước ở châu âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Tuy nhiên dần dần phương pháp trực tiếp cũng bộc lộ những nhược điểm rất lớn cả trên cơ sở lí thuyết (ngôn ngữ học, tâm lí học, xã hội học), lẫn kết quả thực tiễn, mà về sau các nhà giáo học pháp một mặt vẫn thừa kế những điểm mạnh, mặt khác từng bước khắc phụ những điểm yếu cơ bản để đưa ngoại ngữ vào giảng dạy tại các trung tâm ngoại ngữ có chất lượng cao hơn. Từ đó xuất hiện những trường phái giáo học pháp ngoại ngữ tự nhiên (trực tiếp) như phương pháp nghe – nói, phương pháp nghe – nhìn v.v… Phương pháp Nghe – Nói Về bản chất: Phương pháp Nghe – Nói (Audiolingual Method or Audio-Oral Method) nhấn mạnh vào việc dạy kĩ năng nói và kĩ năng nghe trước kĩ năng đọc và kĩ năng viết. Như vậy, khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch, phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình thành và phát triển cả bốn kĩ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết.Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nói ngăn cấm việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học. Quy trình thực hiện: Luôn luôn nhấn mạnh phát triển hai kĩ năng nói và nghe là chủ yếu.Việc dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu (structures) và qua các bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giống nhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn ngữ. Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/mẩu đối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữ cần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi…). Phương pháp này đòi hỏi GV chú ý sửa lỗi cho HS (lỗi phát âm, lỗi cấu trúc). Các bài đối thoại mẫu cần phải chuẩn mực, các bài nghe cần được luyện tập kết hợp với thực hành nói. Sau khi đã lĩnh hội tài liệu bằng khẩu ngữ, HS tiếp tục luyện tập để hình thành và phát triển kĩ năng đọc và kĩ năng viết. Ưu điểm: Phương pháp này có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS. HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: HS làm theo lệnh của GV hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản. Hạn chế: Đối với HS có trình độ cao việc học theo phương pháp này sẽ nhàm chán nếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết. HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Các em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù sau một thời gian dài học tập. Tuy nhiên, HS có thể nghe và nói thuần thục nếu các em được rèn luyện trong môi trường ngoại ngữ (language environment) mà điều kiện này bị hạn chế ở các trường học THPT. Một số lưu ý: Lớp học không nên quá đông (không quá 35 HS/lớp). Giờ học nên được tiến hành ở các phòng học tiếng có thiết bị nghe chuẩn; hoặc GV cần chuẩn bị băng cát-sét/ đĩa CD ghi âm các bài đối thoại mẫu có chất lượng cao để đảm bảo cho HS có thể nghe hiểu và thực hành nói đạt hiệu quả. Đối với HS tiểu học hoặc HS đầu cấp THCS, GV nên chuẩn bị nhiều tranh ảnh để tạo tình huống giao tiếp; chú ý tổ chức các hoạt động ngôn ngữ khác nhau như: trò chơi, câu đố… để gây không khí thoải mái trong học tập cho các em. Phương pháp Giao tiếp Phương pháp Giao tiếp (Communicative Approach) hay còn gọi là Đường hướng Giao tiếp được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thông tiếng Anh ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam đều được biên soạn dựa theo quan điểm giáo học pháp của Phương pháp Giao tiếp. Phương pháp này do các nhà ngôn ngữ ứng dụng người Anh phát triển hoàn toàn khác biệt với phương pháp dựa trên nền tảng ngữ pháp của Phương pháp Truyền thống. Về bản chất: Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào mục tiêu của việc học ngôn ngữ – đó là năng lực giao tiếp (communicative competence). Người ta coi năng lực ngôn ngữ là khả năng bẩm sinh của mọi con người bình thường. Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of communication). Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ (language function). Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp. Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắm chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kĩ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp. Quy trình thực hiện: Xuất phát từ bản chất của Phương pháp Giao tiếp, tài liệu giảng dạy theo đường hướng này cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu giúp người học có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như xin phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm, thích thú hoặc không thích v.v…. Để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks). Tiến trình giảng dạy diễn ra theo 5 bước: Giới thiệu ngữ liệu (psentation). Thực hành bài tập (Exercises). Hoạt động giao tiếp (Communicative activities). Đánh giá (Evaluation). Ưu điểm: Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó bao trùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kĩ năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và phát triển bốn kĩ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp.Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS ._.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Từ Vựng Tiếng Anh Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Vì Sao Học Tiếng Anh Ở Việt Nam Kém Hiệu Quả
  • Thực Trạng Việc Dạy Và Học Tiếng Anh Hiện Nay
  • Bộ Ngoại Giao Nói Về Việc Tình Nguyện Viên Mỹ Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam
  • Kinh Doanh Giáo Dục Anh Ngữ Tại Việt Nam
  • Tại Sao Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam Không Hiệu Quả?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Sách Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam
  • 3 Thách Thức Trong Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam
  • Chương Trình Thí Điểm Tiếng Anh Cho Giảng Dạy Ở Việt Nam
  • “đau Đầu” Về Cách Dạy Và Học Tiếng Anh Ở Việt Nam
  • Chính Sách Về Dạy Tiếng Anh Ở Việt Nam Được Xây Dựng Từ Đâu?
  • LTS: Chỉ ra một số nguyên nhân cũng như giải pháp nhằm giúp cho việc dạy tiếng Anh ở Việt Nam đạt hiệu quả hơn, Tiến sĩ Lê Quốc Chơn đã gửi tới Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết chia sẻ. Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Trước hết chúng ta cần khẳng định mục đích học tiếng Anh là để sử dụng và một phần vì niềm vui. Không ai trong số chúng ta học tiếng Anh để đi thi. Và thi chỉ là một hình thức đánh giá được sử dụng để kiểm tra chất lượng dạy và học mà thôi.

    Do đó, việc dạy và học tiếng Anh và hình thức đánh giá hiệu quả dạy – học cần được thực hiện để hướng đến mục đích sử dụng và vẻ đẹp của ngôn ngữ.

    Một số ích lợi của học tiếng Anh

    Học tiếng Anh quan trọng vì nó góp phần đưa người Việt tiếp xúc với văn hóa thế giới. Giỏi tiếng Anh cũng giúp người học dễ có việc làm hơn và cơ hội trong cuộc sống cũng nhiều hơn, đặc biệt trong thời giao thương toàn cầu như ngày nay.

    Hiện nay, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giao tiếp – ngôn ngữ thương mại.

    Người Việt học tiếng Anh từ khi nào và hiệu quả ra sao?

    Có thể, lần đầu tiên người Việt tiếp xúc với ngôn ngữ Anh là ở thế kỷ 19.

    Ông Trương Vĩnh Ký, người nổi tiếng và biết nhiều ngôn ngữ bậc nhất ở Việt Nam, học tiếng Anh không phải ở Việt Nam mà là ở Penang, Malaysia (theo Wikipedia).

    Dưới thời Pháp đô hộ, có thể người Việt bắt đầu học tiếng Anh chủ yếu trong trường thông ngôn (collège des interprètes) được thành lập năm 1860. , năm 2012 khả năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên còn yếu; chỉ khoảng 20-30% sinh viên có thể theo học tiếng anh ở trường đại học, phần còn lại phải học các lớp dự bị trước khi vào học lớp tiếng anh chính thức.

    Theo thông tin từ doanh nghiệp thì trình độ tiếng anh của sinh viên ra trường chưa đáp ứng tốt nhu cầu trong công việc; chủ yếu đọc hiểu được tài liệu, nhưng kỹ năng giao tiếp, viết, và thuyết trình còn yếu.

    Các hình thức đánh giá có phần khác nhau, nhưng phản ánh bức tranh chung về việc dạy và học tiếng Anh không hiệu quả trong hệ thống giáo dục nước ta.

    Vậy tại sao dạy và học tiếng Anh ở nước ta không hiệu quả mặc dù đã được đầu tư?

    Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng không hiệu quả

    Hình thức đánh giá hiệu quả dạy học chỉ tập trung vào đọc hiểu, nhất là các kỳ thi chuyển cấp. Do đó, cả hệ thống giáo dục chưa đầu tư thật sự hiệu quả để dạy kỹ năng thực hành ngôn ngữ như nghe, nói và viết.

    Các thầy cô giáo dạy tiếng Anh chỉ để thi là chính, nên họ không đầu tư kỹ năng khác đặc biệt là nghe và nói.

    Nguyên nhân này cũng góp phần làm cho chất lượng giáo viên dạy tiếng Anh thực hành giảm theo thời gian.

    Quy mô lớp học đông (trên 35 học sinh/lớp) và không có công nghệ hỗ trợ nên khó có thể dạy kỹ năng thực hành ngôn ngữ hiệu quả.

    Động lực học tiếng Anh của học sinh và sinh viên chủ yếu là học để vượt kỳ thi chứ chưa hướng đến kỹ năng thực hành ngôn ngữ trong thực tế.

    Tại sao học sinh và sinh viên không học các kỹ năng thực hành ngôn ngữ? Có thể họ muốn giỏi ngoại ngữ thực hành nhưng do áp lực thi cử buộc họ phải học để thi.

    Nhu cầu thực tế trong công việc có thực sự sử dụng tiếng Anh không? Tất nhiên người biết ngoại ngữ họ sẽ sử dụng cho công việc, nhưng vấn đề nằm ở chỗ dù không biết ngoại ngữ họ vấn có thể làm việc được và đặc biệt là đáp ứng được các tiêu chuẩn trong tuyển dụng.

    Như trong hệ thống hành chính công, Nhà nước quy định các bằng cấp anh văn như A, B, C mà không chú trọng đến năng lực thực hành và đa số các ứng viên đều đáp ứng được.

    Có thể thấy rằng, dường như yêu cầu về ngoại ngữ ở nơi làm việc thuộc Nhà nước quản lý chỉ là bằng cấp.

    Thực vậy, nghiên cứu của Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Thanh Hương năm 2012 tại Thái Bình và Đà Nẵng cho thấy trong số 282 công nhân viên chức, thì 70% trong số họ không sử dụng ngoại ngữ trong công việc.

    Trẻ em gốc Việt sinh ra và lớn lên ở Anh, Mỹ…họ nói tiếng anh lưu loát như người bản ngữ. . 2012; Available from: https://hbr.org/2012/05/global-business-speaks-english

    2. McCormick C. Countries with Better English Have Better Economies. Harvard Business Review . 2012 . 2022 . SGGP. 2022 . Migration Policy Institute. 2005 . 1991; Available from: https://www.nytimes.com/1991/01/06/education/growing-up-in-2-languages.html

    11. Tran A. How I never learned to speak Vietnamese. The Seattle Globalist [Internet]. 2014; Available from: http://www.seattleglobalist.com/2014/02/17/how-i-didnt-learn-to-speak-vietnamese/20698

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 9 Phần Mềm Dạy Viết Tiếng Trung Miễn Phí Trên Ios, Android
  • Top10 App, Phần Mềm Học Tiếng Trung Trên Máy Tính Và Điện Thoại (Update 2022)
  • Giới Thiệu Về App Bé Vui Học Chữ Tiếng Việt
  • Những App Học Tiếng Việt Tốt Nhất Cho Trẻ Độ Tuổi Mầm Non
  • Trường Mầm Non Việt Úc Montessori
  • 4 Soái Ca Dạy Tiếng Anh Nổi Tiếng Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cô Giáo Xuất Hiện Trong Clip Phát Âm Sai Tiếng Anh Có Thật Sự Từng Giành Học Bổng Danh Giá Của Chính Phủ Úc?
  • Elight Phát Âm Sai, Sự Việc Có Nghiêm Trọng Như Vậy?
  • Elsa Speak: Phần Mềm Liệu Có Tốt, Miễn Phí Như Quảng Cáo?
  • Top 10 Phần Mềm Học Tiếng Anh Được Đánh Giá Cao
  • Top 3 Phần Mềm Học Tiếng Anh Tốt Nhất Hiện Nay
  • Adi được nhiều người biết đến sau khi hình ảnh thầy đóng giả xe ôm để lấy tư liệu phục vụ cho công việc được các bạn share liên tục trên Facebook vào năm 2012. Từ đó, Adi gắn liền với cái tên rất đáng yêu: xe ôm Tây. Adi là gương mặt quen thuộc trong các chương trình truyền hình thực tế: Một ngày làm người Việt (VTC10), S – Việt Nam, Hương vị hè phố (VTV3), Camera giấu kín (AVG & ANTV),..

    Thậm chí còn có clip Dan chẳng hề dạy tiếng Anh mà chỉ ngồi đọc vài cái tên phổ biến ở Việt Nam cũng được các bạn khen là dễ thương rồi. Có rất nhiều lỗi sai trong cách chúng ta dùng tiếng Anh mà chỉ đến khi Dan nói ra nhiều người mới biết. Dan chia sẻ rằng, hiện tại, việc quay clip dạy tiếng Anh cho các bạn Việt đã trở thành một điều thật sự quan trọng và ý nghĩa trong cuộc sống của mình.

    Dan hiện đang là giảng viên tại Language Link, Hà Nội. Có một nhận xét rất thú vị về Dan: người Mỹ dạy tiếng Anh cho người Việt Nam bằng tiếng Việt.

    Thầy Dan lại xuất hiện lần 2 trên Edu2Review rồi đây!3. Võ Trọng Phúc

    Nổi lên từ VietNam’s Got Talent mùa 1, Võ Trọng Phúc gây ấn tượng với hình ảnh một chàng trai vừa đánh đàn guitar vừa hát nhạc Âu Mỹ cực chất. Không những vậy, ngoại hình của thầy cũng ghi điểm tuyệt đối với khán giả.

    Vốn là một giáo viên tiếng Anh nên không có gì bất ngờ khi thầy có khả năng hát tiếng Anh rất tốt. Thầy chia sẻ, thầy học khá nhất môn ngoại ngữ lúc còn đi học. Trả lời cho câu hỏi về khả năng phát âm chuẩn của mình, thầy nói rằng tất cả nhờ xem phim, nghe nhạc và nói tiếng Anh thật nhiều. Phương pháp sư phạm mà thầy sử dụng trong việc dạy học, ứng xử với học sinh là cố gắng gần gũi với các bạn để biết các bạn cần gì, muốn học gì trong lớp của mình và cả trong cuộc sống.

    Từ đó, thầy sẽ có những giúp đỡ cần thiết và hiệu quả cho các bạn. Thầy hay mang guitar vào lớp và hát tặng học trò mỗi cuối giờ. Thầy Phúc xem việc hát cho học trò “điền lời bài hát vào chỗ trống” cũng là một cách học tiếng Anh rất hiệu quả, sinh động và đầy hứng thú. Chính bởi tính nghệ sĩ và hết mình vì học trò như vậy mà thầy Phúc là thần tượng của biết bao nhiêu cô cậu – trẻ có, mà lớn cũng có. Sau đêm tỏa sáng trên sân khấu Got Talent, hễ vào lớp là thầy lại được học trò chào đón như một “hot boy”.

    Cách đây không lâu, thông tin thầy Phúc tham gia giảng dạy tại Đại học Huflit đã khiến bao nhiêu người ghen tị với các bạn sinh viên ở đây rồi đấy. Thú nhận đi, thầy vừa đẹp trai, vừa dạy giỏi lại còn hát hay, ai mà không muốn được học với thầy một lần chứ?

    Thầy Võ Trọng Phúc trong 1 MV ca nhạcEBIV4. Paul Geogre Harding

    Có lẽ đây là người ít được biết đến nhất trong số các nhân vật trong bài, nhưng chúng tôi tin rằng các bạn sẽ thật sự cảm động trước những hành động ý nghĩa của thầy.

    Vốn là lính dù thuộc Lữ đoàn không quân 173, tham chiến tại chiến trường Bình Định – Lâm Đồng, thầy quay lại Việt Nam dạy tiếng Anh miễn phí vì hối hận vì những gì mình đã làm trong quá khứ. “Những ký ức chiến tranh ám ảnh suốt cuộc đời tôi, phá hủy sự bình yên trong sâu thẳm trái tim tôi. Tôi thấy có lỗi với những gì đã làm ở Việt Nam và muốn quay lại như một sự chuộc tội”, thầy Paul cúi mặt cho biết và liên tục nói “xin lỗi”.

    Qua tìm hiểu, Paul nhận thấy nhu cầu học tiếng Anh của người Việt rất lớn nhưng chi phí cho một khoá học với người nước ngoài lại cao. Cựu binh Mỹ nảy ra ý tưởng, dạy ngoại ngữ miễn phí. Bất cứ ai, dù ở độ tuổi, trình độ nào cũng có thể tham gia lớp học của thầy. Tại đây Paul chủ yếu rèn kỹ năng nghe nói, phát âm tiếng Anh cho mọi người.

    Thầy cũng đặc biệt yêu thích, hay sưu tầm sách về các anh hùng dân tộc Việt như: Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Trỗi, Đặng Thuỳ Trâm… Paul kỳ vọng, việc dạy tiếng Anh bằng lịch sử sẽ giúp mọi người hiểu được tầm quan trọng của những yếu tố lịch sử và đương thời, gìn giữ ký ức về những anh hùng cách mạng đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của nước nhà.

    Các học viên dành nhiều lời khen cho cách giảng dạy của thầy. Nhiều bạn tự nhận thấy mình đã tiến bộ rõ rệt sau thời gian theo học tại lớp. Thầy Paul hy vọng sẽ phát triển thêm mô hình lớp học tiếng Anh miễn phí để giúp được nhiều người Việt Nam hơn.

    Chương trình “VÌ 1 TRIỆU NGƯỜI VIỆT TỰ TIN GIAO TIẾP TIẾNG ANH”. Edu2Review tặng bạn Voucher khuyến học trị giá lên tới 500.000đ, Nhận ngay Voucher Khả Vy tổng hợp [Edu2Review] – Tự Chọn Nơi Học Tốt Nhất Cho Bạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dan Hauer Đi Quá Xa Rồi, Anh Ta Không Xứng Đáng Làm Thầy
  • Thầy Dan Hauer Là Ai
  • Những Giáo Viên Dạy Tiếng Anh Hay Và “bá Đạo” Nhất (P1)
  • Từ Vụ Việc Dan Hauer: Lo Lắng Chất Lượng Giáo Viên Nước Ngoài Dạy Ngoại Ngữ
  • Chia Sẻ Bí Quyết Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Dễ Hiểu Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100