Top 8 # Xem Nhiều Nhất Học Tiếng Việt Rất Khó Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

10 Lí Do Tại Sao Nói Học Tiếng Hàn Rất Khó Là Không Đúng

Thành thật mà nói, trước khi học tiếng Hàn Quốc, tôi đã nghĩ là tiếng Hàn cũng dùng một hệ thống viết chữ như tiếng Trung hay tiếng Nhật. Tôi hoàn toàn mù mịt về việc chữ cái tiếng Hàn khó hay dễ như thế nào. Chữ Hàn thật sự trông rất giống chữ Trung hay chữ Nhật và tôi dám cá là nhiều người cũng không biết được chúng khác nhau ở điểm nào.

Học Hangul nhanh chóng  

Học Hangul nhanh chóng

Lịch sử tiếng Hàn Quốc và cách phát âm bảng chữ cái

Lí do 2: Ngữ pháp tiếng Hàn rất dễ học và dễ hiểu

Tôi đã từng nghiên cứu qua nhiều loại ngôn ngữ và tôi thấy rằng tiếng Hàn là một trong những ngôn ngữ có cấu trúc ngữ pháp dễ nhất. Có nhiều điểm tích cực trong ngữ pháp tiếng Hàn nhưng ở đây tôi sẽ nêu ra cho bạn một số ý chính sau:

– Bạn không cần phải băng khoăn về giới tính hay số lượng của chủ ngữ khi chia động từ. Trong tiếng Anh khi chia động từ bạn phải chia theo số lượng.

Ví dụ: 

Đối chủ ngữ ngôi 3 số ít là “He”, “She”, “It” bạn phải thêm “s/es” vào sau động từ như He playS football in the afternoon hay She goes shopping everyday.

Danh từ không thay đổi theo các trường hợp riêng biệt. Có nhiều ngôn ngữ (đặc biệt là tiếng Hy Lạp và tiếng Nga) thường có nhiều dạng danh từ dựa trên danh từ đó là gì và nó nắm giữa vai trò gì trong câu. Trong tiếng Hàn, Việc này được thay thế bằng các hậu tố cơ bản để đánh dấu để chia tách từng trường hợp. Ví dụ, 로 là một công cụ đánh dấu (bởi / với / sử dụng) vì vậy nếu tôi gắn nó vào cuối từ cho tiếng Hàn ( 한국말 + 로 ), nó có nghĩa là trong / bằng tiếng Hàn.  

Học ngữ pháp tiếng Hàn  

Học ngữ pháp tiếng Hàn

Nếu tôi đang đặt hàng kem và tôi muốn kem của tôi được đặt trọng một cái ly hình nón, tôi có thể đính kèm 로 vào cuối từ hình nón để có nghĩa là trong một hình nón. Khá dễ hiểu đúng không nào. Nếu bạn chưng từng gặp một ngôn ngữ nào có dạng kết hợp từ như thế này thì có thể sẽ mất chút thời gian nhưng cơ bản là nó khá dễ học. Trong khi tiếng Anh có động từ ToBe (이다 -đối với các câu như “I am so sorry about it”), tiếng Hàn không có động từ ToBe hoặc động từ mô tả. Ví dụ, “She is beautiful” chỉ nói đơn giản là “She beautiful”.

Những động từ trong thì quá khứ, tương lai đều theo một mẫu câu nhất quán và đồng bộ. Ngoài một số thay đổi nhỏ với động từ, thường chỉ là trong một số trường hợp riêng biệt thì sẽ có một số từ theo sau một số danh từ. Một khi bạn đã quen với những mẫu này rồi thì bạn sẽ nhận dạng ra chúng và sử dụng một cách dễ dàng. Những động từ bị động hay động từ chỉ nguyên nhân, các tính từ và trạng từ được chia theo các dạng cực kì cơ bản và ít có điểm khác thường.

Lí do 3: Phát âm tiếng Hàn là việc dễ như ăn bánh đối với những người đã học qua tiếng Anh

Đối với những người đã nói tiếng Anh, không có gì là quá xa lạ hay khó khăn trong việc phát âm tiếng Hàn. 

Không giống như phát âm của tiếng Hy Lạp hay Do Thái, phát âm tiếng Hàn không có âm thanh đáy. Không có cụm phụ âm như tiếng Georgian hoặc tiếng Ba Lan (những ngôn ngữ bạn sẽ phải dúng khoảng 4 cụm phụ âm trong một hàng). Tiếng Hàn cũng không có ngữ điệu của nhiều nước Đông Á khác. Phần lớn từ tiếng Hàn thường được đọc một cách chính xác như cách nó viết, không như tiếng Anh, có đầy rẫy những từ viết một đường nhưng đọc một nẻo.

Phát âm tiếng Hàn không khó với người biết tiếng Anh  

Phát âm tiếng Hàn không khó với người biết tiếng Anh

Ví dụ khác, 맞다 (đúng) không được phát âm là maj-da như cách nó viết vì nó quá ngượng ngùng để phát âm chính xác như vậy nên nó được phát âm là ma’-da. Đừng để những điều này làm bạn phân tâm vì những thay đổi ngữ âm cơ bản này rất dễ điều chỉnh với chút ít luyện tập và thậm chí còn dễ dàng hơn khi bạn biết tại sao nó lại xảy ra như vậy.  

Lí do 4: Nhiều từ Hàn được tạo nên từ những từ nhỏ và 1 âm tiết.

Tin tôi đi, việc này sẽ khiến việc học từ vựng tiếng Hàn của bạn chỉ như đi bộ trong công viên. Nhiều từ ghép của Hàn Quốc (đặc biệt là những từ mượn của Trung Quốc) thường được tạo nên từ những từ đơn âm tiết và bạn có thể dự đoán được nghĩa của từ đó nếu bạn nhận ra nó.

Chỉ có một một ngoại lệ duy nhất, giống như hầu hết các ngôn ngữ khác trên thế giới, đôi khi Hàn Quốc đồng hóa và bỏ sót những âm thanh khi kết hợp với những âm thanh khác. Điều này diễn ra trong khá nhiều các ngôn ngữ khác nhau và dù chỉ là một quá trình tiến hóa ngôn ngữ để người học tiếng Hàn thỏa mái hơn để học. Một số kết hợp chữ cái (ví dụ như đặt n/l gần nhau) chỉ là cảm thấy không đúng lắm khi nói ra thôi. Một ví dụ từ tiếng Hàn 편리 có nghĩa là thuận tiện. Nó được viết là pyeon-li nhưng được phát âm là pyeol-li , trong đó n trở thành âm thanh l. Kiểu thứ hai phát âm thuận miệng hơn nên đó là tại sao các loại từ này phát triển theo thời gian trong mọi ngôn ngữ.Ví dụ khác, 맞다 (đúng) không được phát âm là maj-da như cách nó viết vì nó quá ngượng ngùng để phát âm chính xác như vậy nên nó được phát âm là ma’-da. Đừng để những điều này làm bạn phân tâm vì những thay đổi ngữ âm cơ bản này rất dễ điều chỉnh với chút ít luyện tập và thậm chí còn dễ dàng hơn khi bạn biết tại sao nó lại xảy ra như vậy.

Nhiều từ tiếng Hàn có 1 âm tiết

Nhiều từ tiếng Hàn có 1 âm tiết

학 원 – học viện 학 교 – trường học 학 생 – học sinh 언어 학 – ngôn ngữ học (nghiên cứu ngôn ngữ) 과 학 – khoa học (môn học)

Đây là một điều làm tôi yêu các động từ Hàn Quốc chết đi được. Nhiều động từ Hàn Quốc được tạo nên bằng cách kết hợp một danh từ với đồng từ to-do(하다).

Thêm một ví dụ nữa, động từ 행복 하다 (to be happy ) là sự kết hợp giữa danh từ happiness + to-do = to be happy. Có một tip tôi hay dùng để học danh từ tiếng Hàn là tôi sẽ tìm kiếm trên Daum và Naver xem động từ to-do(하다) hay không. Đây quả thật là một mũi tên trúng 2 con chim. Tôi có thể vừa học được danh từ mới, vừa học được một động từ mới. À động từ với to-do(하다)còn có một điểm tuyệt vời nữa là nó được chia ở cùng một dạng khi hình thành các trạng từ, thể bị động,…

Lí do 6: Những hình thức tôn trọng trong cách nói tiếng Hàn không phải là vấn đề gì to tát cả. 

Người Hàn Quốc quan trọng việc tuổi tác, vai vế trong xã hội quan trọng hơn nhiều so với bạn tưởng đấy. Thoạt nhìn qua, Hàn Quốc nhìn có vẻ chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa các nước phương Tây nhưng có rất nhiều điều phức tạp theo cách mà người Hàn Quốc tương tác với nhau dựa trên nhiều yếu tố xã hội và điều này được phản ánh triệt để bằng ngôn ngữ của họ. 

Người Hàn Quốc rất coi trọng cấp trên  

Người Hàn Quốc rất coi trọng cấp trên

Tôi đã quan sát ở nơi làm việc của mình, dù tôi có một ông sếp dễ thương và hiền lành nhưng sự cách biệt giữa ông chủ-nhân viên là hữu hình và ai cũng có thể nhìn thấy được. Điều này có phần làm xa cách ông chủ với nhân viên của mình. Nhiều nhân viên người nước ngoài tại Hàn Quốc không hiểu được điều này và một số trong đó đã phải thôi việc ở công ty.

Trong các tài liệu tiếng Hàn cho người ngoại quốc, khi giản giải về sự tôn trọng thường tập trung vào việc sử dụng 요 (yo) ở cuối câu để thêm tính trang trọng cho câu nói, đơn giản vì việc này là vừa đủ để bạn có thể hiểu được. Tuy nhiên khi nói về sự tôn trọng trong tiếng Hàn Quốc thì còn khá nhiều thứ khác để học. Dù bạn có thích hay không thì điều này vẫn luôn tồn tại, vì vậy đây là một yếu tố bạn nên cân nhắc trong quá trình giao tiếp với người bản xứ.

Tuy nhiên, với vai trò lại một người ngoại quốc học tiếng Hàn, người bản ngữ sẽ k quá khắc khe với bạn trong vấn đề này. Họ thậm chí sẽ cảm thấy vui vẻ khi thấy bạn đang cố gắng giao tiếp một cách lịch sự. Do đó bạn không cần phải quá lo lắng về vấn đề này.

Lí do 7: Trật tự từ trong câu tiếng Hàn nhiều lúc khiến bạn hơi bực mình nhưng đây là cách bạn làm nó dễ “nhai” hơn.

Những Từ Tiếng Việt Khó Hiểu, Khó Học, Khó Phát Âm Nhất Thế Giới

Những từ tiếng Việt khó hiểu bạn nên biết

“Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”

Đây là một câu truyền miệng đã có từ lâu đời, ông bà ta nói quả chẳng bao giờ sai. Tiếng Việt được xếp top trong danh sách những ngôn ngữ khó học nhất thế giới 2017. Đối với người nước ngoài, để có thể sử dụng thành thạo tiếng Việt cần phải mất tới 44 tuần và 1100 giờ học liên tục. Và với cả người Việt Nam cũng gặp không ít rắc rối với ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, có rất nhiều từ mà dù học xong 12 năm phổ thông, tốt nghiệp đại học thì vẫn rất nhiều người sử dụng sai, bởi cái sai ở đây đơn giản “bị sai từ bé” và dần dần biến thành một thói quen vô cùng khó bỏ.

Tham khảo những từ tiếng Việt khó hiểu sau đây:

“Yếu điểm” và “Điểm yếu”

Yếu điểm: Là một điểm quan trọng nhất, có một ý nghĩa lớn lao nhất. “Yếu” chỉ từ gốc Hán. Chẳng hạn như: “Thiếu sức khỏe là một yếu điểm cho việc thi chạy ở trường”.

Điểm yếu: Là một điểm dễ bị tổn thương nhất. “Yếu” là từ thuần Việt. Chẳng hạn: “Thầy cô giáo thường hay hỏi học sinh là: Điểm yếu trong học môn toán của em là gì?”

Và từ nhược điểm sẽ được được sử dụng thường xuyên hơn thay vì “điểm yếu”.

“Chuyện” và “Truyện”

Chuyện: Là một thứ được kể ra bằng miệng, thuật lại một nội dung gì đó.

Truyện: Sẽ được tác giả viết ra và được đọc lại, đây là những tác phẩm sáng tác, mang tính hệ thống.

Và nếu như có ai đó đọc cuốn sách đó thì người đó đang đọc “truyện dân gian”

“Xán lạn”

Xán lạn: Là một từ Hán Việt ( từ gốc là tiếng Hán, du nhập vào Việt Nam được đọc theo kiểu người Việt). “Xán” là “rực rỡ”, “lạn” là “sáng sủa”. Kết hợp lại, xán lạn có nghĩa là tươi sáng rực rỡ.

“Sơ suất” và “Sơ xuất”

2 từ xuất và suất là hai từ Hán Việt có nghĩa khác nhau hoàn toàn.

Xuất: Có nghĩa là “đưa ra”, “cho ra”: xuất hiện, sản xuất, xuất hành, xuất ngoại.

Suất: Có nghĩa là một phần của dạng tổng thể nào đó, phần được chia ra (danh từ): Suất cơm (một phần cơm), suất ăn, tỉ suất, hiệu suất…

Do đó: Từ sơ xuất mới là từ đúng, nghĩa là phần thiếu sót nhỏ, không cẩn thận, không chú ý đúng mức để có sai sót: Sơ xuất trong phong cách nói chuyện.

“Giả thuyết” và “giả thiết”

Giả thiết: Là một mệnh đề được cho sẵn và không cần phải chứng minh.

Giả thuyết: Từ này (chưa được chứng minh hoặc kiểm nghiệm) để giúp giải thích một hiện tường nào đó và tạm thời được công nhận: Giả thuyết khoa học.

“Thúc dục” và “thúc giục”

Dục: Để chỉ về chức năng sinh lý của cơ thể hoặc ham muốn. Chẳng hạn: thể dục, giáo dục, dục vọng.

Giục: Để nói về sự hối thúc. Chẳng hạn: Giục giã, xúi giục.

Do đó, với 2 từ trên bạn cần phải sử dụng từ “thúc giục” mới đúng chính tả được.

Như vậy, chỉ với những từ tiếng Việt khó hiểu bên trên cũng sẽ khiến cho nhiều người nhầm lẫn và hiểu sai ý. Thế nên, bạn cần phải sử dụng đúng để tránh người nghe nhầm lẫn.

Học Tiếng Việt Có Khó Không?

Rất nhiều người nước ngoài học tiếng Việt khi mới bắt đầu học đều cho rằng tiếng Việt là một hệ thống ngôn ngữ phức tạp và khó có thể học thành thạo được. Tuy nhiên, các nghiên cứu về ngôn ngữ đã chỉ ra rằng tiếng Việt vẫn chỉ được xếp là ngôn ngữ khó trung bình trên thế giới mà thôi (theo Voxy.com).

Theo đó, mức độ khó của ngôn ngữ là khác nhau và được đánh giá trên một vài tiêu chí cụ thể, bao gồm khoảng cách giữa các ngôn ngữ với tiếng mẹ đẻ. Ngôn ngữ có ngữ pháp và cấu trúc càng gần như tiếng mẹ đẻ thì thường càng dễ nắm bắt hơn.Ví dụ, Tiếng Nhật và tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán nên người Nhật học tiếng Việt sẽ không gặp nhiều khó khăn bằng người Anh.

Ngôn ngữ đơn âm tiết

Có thể nói, ngôn ngữ đa âm tiết phát âm khó hơn ngôn ngữ đơn âm tiết. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn âm tiết nên dễ phát âm hơn. Chẳng hạn, từ “Mẹ” tiếng Việt chỉ đọc 1 âm duy nhất, còn tiếng Anh lại là “mother” – hai âm. Hơn nữa, tiếng Việt cũng không phát triển về thì thái giống như tiếng Anh, Pháp v.v…, mà chỉ thiên về biểu ý. Ví dụ như, động từ trong tiếng Việt không biến đổi cách viết theo sự thay đổi các thì quá khứ, tương lai; danh từ số nhiều trong tiếng Việt không thêm “s” hay “es” như tiếng Anh.

Từ đó có thể thấy được học tiếng Việt không khó như mọi người vẫn nghĩ phải không nào?

Tiếng Việt có nhiều thanh điệu

Mặt khác, tại sao lại nói việc học tiếng Việt khó khăn hơn so với những ngôn ngữ khác? Lý do là vì tiếng Việt có đến 6 thanh điệu, trong khi hầu như những ngôn ngữ khác thì không có. Ngoài tiếng Việt ra, Tiếng Trung và Lào cũng có thanh điệu nhưng ít hơn và tính chất của các thanh điệu cũng không tương đương. Thêm nữa, hiện tượng đồng âm, gần nghĩa, đồng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau và không thể thay cho nhau trong mọi ngữ cảnh cũng kháp hổ biến trong tiếng Việt là khá phổ biến.

Nhìn chung, bản thân việc học một ngoại ngữ là không hề dễ, mức độ khó dễ của ngôn ngữ tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là mục đích, động lực, và khả năng nhận thức của mỗi cá nhân. Nếu như bạn là người yêu thích tiếng Việt, văn hóa Việt và quyết tâm chinh phục ngôn ngữ này thì bạn hoàn toàn có thể sử dụng nó thành thạo chỉ sau một thời gian học tập.

Dạy Tiếng Việt: Dễ Hay Khó? (3)

1. Dạy ngôn ngữ thứ hai bao giờ cũng khó2. Khi ngôn ngữ thứ hai là một ngôn ngữ cộng đồng lại càng khó.3. Bản thân tiếng Việt rất khó (1)4. Bản thân tiếng Việt rất khó (2)NHQ

***

Bản thân tiếng Việt khó

Dạy ngôn ngữ thứ hai: Khó. Dạy ngôn ngữ thứ hai mà lại là ngôn ngữ cộng đồng: càng khó. Khi ngôn ngữ thứ hai và là ngôn ngữ cộng đồng ấy là tiếng Việt: Lại càng khó hơn nữa.

Khó vì bản thân tiếng Việt khó.

Thanh điệu

Khó, trước hết, là vì thanh điệu. Thật ra, trên thế giới cũng có khá nhiều ngôn ngữ có thanh điệu (tonal language). Các ngôn ngữ có thanh điệu thường được chia ra làm hai loại: đơn giản và phức tạp. Những ngôn ngữ có hai loại thanh điệu, cao và thấp, được xem là đơn giản (simple tone system). Có từ ba thanh trở lên được xem là phức tạp (complex tone system). Tiếng Việt có sáu thanh, bằng tiếng Quảng Đông, nhiều hơn tiếng Lào và tiếng Thái (5 thanh) và cả tiếng Quan Thoại (bốn thanh), được xếp vào loại phức tạp. Hơn nữa, bởi vì hầu hết các loại ngôn ngữ có thanh điệu đều tập trung chủ yếu ở châu Phi (đặc biệt vùng Sub-Saharan) và châu Á (đặc biệt Đông Á và Nam Á), chúng trở thành xa lạ, và từ đó, khó học với tất cả những người nói tiếng Tây phương, nơi hầu hết đều thuộc loại phi-thanh điệu. (Ở châu Âu và châu Mỹ, thật ra, cũng có một số ngôn ngữ có thanh điệu; nhưng hầu hết đều rơi vào một trong hai trường hợp: một, chỉ là thanh điệu đơn giản – như tiếng Na Uy, Thụy Điển, Lithuanian, Latvian, Serbo-Croatian; hai, thuộc ngôn ngữ của các thổ dân – như ngôn ngữ thổ dân ở vùng Alaska, Tây Nam Mỹ và ngôn ngữ thuộc nhóm Ota-Manguean ở Mễ Tây Cơ.)

Theo kinh nghiệm của tôi, phần lớn sinh viên Tây phương phải mấy ít nhất một hai năm học toàn thời (thật ra, ở đại học, mỗi tuần chỉ học có vài ba tiếng; một năm trung bình khoảng trên 70 tiếng), mới có thể làm quen với các thanh điệu trong tiếng Việt. Mới đây, trong học kỳ 2 của năm học 2011, tôi thử làm một kiểm tra nhỏ về khả năng phân biệt thanh điệu của sinh viên Úc trong lớp Tiếng Việt Trung Cấp (Intermediate Vietnamese). Đầu tiên, tôi nói: “Ông ấy là một nhà thơ”. Hầu hết các sinh viên đều hiểu. Tôi nói tiếp: “Chủ nhật nào ông ấy cũng đi nhà thờ.” Họ hiểu. Tôi nói tiếp: “Làm việc mệt quá, ông ấy ngồi thở.” Họ cũng hiểu. Tôi lảng sang chuyện khác. Khoảng năm, bảy phút sau, tôi nói với họ: “Nhà thơ và người thợ thở trong nhà thờ.” Không ai hiểu cả. Tôi lặp lại lần thứ hai. Vẫn không hiểu. Lần thứ ba. Vẫn không hiểu.

Vậy, tại sao mấy câu đầu họ hiểu? Họ hiểu không phải vì họ nghe rõ thanh điệu. Mà chỉ vì, dựa trên ngữ cảnh, họ đoán. Chữ “thơ” trong câu “Ông ấy là một nhà thơ” không thể bị lẫn lộn với “thợ” (vì chữ “thợ” không kết hợp với chữ “nhà”), hay với chữ “thở” (vì “thở” cũng không đi liền với “nhà”), hay “nhà thờ” (vì chủ từ của câu là “ông ấy”: một người không thể là một nhà thờ được!)

Trong câu “Nhà thơ và người thợ thở trong nhà thờ”, ngược lại, không chứa đựng nhiều thông tin đủ để tạo nên một ngữ cảnh rõ ràng để dựa theo đó, sinh viên có thể đoán được. Họ đành bí.

Hình thái học

Cái khó thứ hai là ở hình thái học (morphology). Trong tiếng Việt, mỗi âm tiết đều được viết rời. Trước đây, quen nhìn như thế, tôi không thấy có vấn đề gì. Tuy nhiên, từ khi dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai cho sinh viên ngoại quốc, tôi mới phát hiện ra đó là một vấn đề lớn và khó giải quyết đối với sinh viên. Thường, học các ngôn ngữ được viết theo mẫu tự La Tinh, chỉ sau vài ba giờ, sinh viên có thể tự tra từ điển được. Với tiếng Việt, thời gian để làm được cái việc đơn giản ấy mất ít nhất là vài ba chục giờ. Lý do đơn giản: Sinh viên không thể phân biệt được từ và từ tố. Ví dụ, đọc câu “khuôn mặt anh ấy vàng vọt”, thay vì tìm trong từ điển các từ “khuôn mặt”, “anh ấy” và “vàng vọt”, sinh viên thường có khuynh hướng tìm chữ “khuôn” (cast/mould), rồi chữ “mặt” (face), rồi chữ “anh ấy” (he/him/his), rồi chữ “vàng” (gold/yellow), và, cuối cùng, chữ “vọt” (spurt out). Ráp tất cả ý nghĩa ấy lại thành một câu, họ chẳng hiểu gì cả. Tại sao cái khuôn (để đúc) mặt anh ấy lại có vàng vọt lên? Một số người, suy nghĩ một cách thực dụng, giải thích: trong cái khuôn đúc có giấu vàng; một số người khác, giàu tưởng tượng và quen tư duy theo hình ảnh trong thơ, giải thích: mặt anh ấy rạng ngời lên như có một mỏ vàng mới được khám phá, v.v…

Những kiểu sai lầm như vậy cứ lặp đi lặp lại hoài. Học kỳ này sang học kỳ khác. Năm này sang này khác. Chỉ có điều là, may, mức độ càng ngày càng giảm.

Cách xưng hô

Trong các từ loại tiếng Việt, phức tạp nhất là đại từ xưng hô. Theo kinh nghiệm của tôi, phải mất ít nhất vài ba tháng, sinh viên ngoại quốc mới bắt đầu cảm thấy quen quen với cách xưng hô của người Việt, và có lẽ phải mất đến vài ba năm mới có thể sử dụng một cách tương đối thoải mái. Điều này cũng có thể thấy ngay trong giới trẻ Việt Nam sinh sống ở hải ngoại. Cũng vẫn lúng túng không biết xưng hô thế nào mỗi lần gặp người lạ.

Mà thật. So với hệ thống đại từ xưng hô của phần lớn các ngôn ngữ Tây phương, cách xưng hô của người Việt rắc rối hơn hẳn.

Thử so sánh hệ thống đại từ xưng hô trong tiếng Anh và trong tiếng Việt:

Số ít

Số nhiều

Ngôi thứ nhất

(I/We)

tôi / tớ / tao / ta / mình

chúng tôi / chúng tớ / chúng tao / chúng ta / chúng mình / mình

Ngôi thứ hai

(You)

mày / mi / ngươi / cậu

bay, chúng mày, tụi mày

Ngôi thứ ba (He/She/It/They)

Nó/hắn/y

Họ / chúng/ chúng nó /

Ngôi thứ nhất

Ngôi thứ hai

Trong gia đình

Ngoài gia đình

Con

Cha/ba/bố/tía/thầy

Dùng “cha” để gọi linh mục

Con

Mẹ/má/mạ/u/bầm

Anh

Em (em ruột, em họ hoặc vợ)

Dùng “em” để gọi những người nhỏ tuổi hơn

Chị

Em (em ruột hoặc em họ)

Dùng “em” để gọi những người nhỏ tuổi hơn

Em

Anh (anh ruột, anh họ hoặc chồng)

Dùng “anh” để gọi bạn trai hoặc người ở vai anh (trong dòng họ) hoặc đáng tuổi anh (lớn hơn mình)

Em

Chị (chị ruột hoặc chị họ)

Dùng “chị” để gọi những người ở vai chị hoặc đáng tuổi chị (lớn hơn mình)

Cháu

Ông/bà/bác/chú/cô/dì/dượng

Dùng các từ này để gọi những người ngang tuổi với những người tương ứng trong thân tộc

Ông/bà/bác/chú/

cô/dì/cậu/mợ/dượng

Con/cháu

Dùng “con” hay “cháu” để gọi những người nhỏ tuổi, thuộc thế hệ con hoặc cháu của mình

Với người ngoại quốc, để nhớ tất cả các danh từ thân tộc ở trên để xưng hô cho đúng phải mất rất nhiều thời gian. Mà nhớ hết cũng chưa chắc đã dùng đúng đối với những người ở ngoài quan hệ thân tộc. Trên nguyên tắc, các sách dạy tiếng Việt đều ghi: dùng “em” để gọi những người đáng vai em trong gia đình, tức nhỏ tuổi hơn mình. Nhưng nhỏ hơn bao nhiêu thì có thể gọi được là em?

Trả lời câu hỏi ấy không phải là điều dễ. Bởi có khá nhiều yếu tố khác.

Trước hết là tùy độ tuổi. Trong lần gặp đầu tiên, một thanh niên 20 tuổi dễ dàng xưng “anh” và gọi “em” một cô gái 15 tuổi. Nhưng thêm 10 năm nữa, một người đàn ông 30 tuổi thường có chút dè dặt khi muốn gọi một phụ nữ 25 tuổi là em. Thêm 10 năm nữa, việc một người đàn ông 40 tuổi gọi một phụ nữ 35 tuổi là “em” và xưng “anh” ngay lần đầu mới gặp mặt thường bị xem là suồng sã. Càng về sau, việc xưng hô như thế càng bị xem là suồng sã. Ở tất cả các trường hợp này, khoảng cách tuổi tác bằng nhau: 5 năm.

Nói chung, theo quan sát của tôi, càng lớn tuổi, người ta càng dè dặt trong cách xưng hô. Ở lứa thanh niên hay trung niên, người ta dễ dàng xưng “anh/chị/em” và gọi người khác là “em/anh/chị”. Phần lớn những người cao niên, ngược lại, gọi tất cả những người mình mới gặp, dù chỉ đáng tuổi con hay cháu mình, bằng “anh” hay “chị” và xưng “tôi”.

Sau đó là quan hệ xã hội. Ngay cả với những người nhỏ tuổi hơn mình nhiều nhưng lại có chức tước cao hơn, người ta cũng không thể bỗ bã gọi là “em” hay “cháu”. Môi trường cũng là yếu tố quan trọng: Cách xưng hô ở cơ quan khác ở một bữa tiệc. Ngay trong một bữa tiệc, cách xưng hô cũng khác, tùy người. Ví dụ, tôi đến nhà bạn thân của tôi. Với mấy đứa em của bạn tôi, dù chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, tôi cũng gọi là “em” và xưng “anh”. Nhưng cũng trong bữa tiệc ấy, với một số người hàng xóm của bạn tôi, dù nhỏ hơn tôi cả chục tuổi, tôi vẫn gọi là “anh” hay ‘chị” và xưng “tôi”.

Với bản thân tôi, cách xưng hô thường thay đổi theo một số yếu tố:

1. Với đồng nghiệp trong lãnh vực giáo dục, tôi gọi mọi người, bất kể tuổi tác, là “anh” hay ‘chị” và xưng “tôi”.

2. Với đồng nghiệp trong giới văn nghệ, cách xưng hô linh động hơn.

Với những người thuộc lứa tuổi của ba tôi (sinh năm 1920), tôi thường gọi là “bác” và xưng “cháu”. Tuy nhiên, ở đây, cũng có một số ngoại lệ: Một số văn nghệ sĩ chỉ muốn được gọi là “anh” hay “chị”. Trong trường hợp đó, tôi cũng chiều theo họ, gọi họ là “anh/chị”. Thoạt đầu, thấy cũng hơi ngường ngượng; sau, quen dần.

Với những người sinh khoảng thập niên 1930 hay 1940, tức lớn hơn tôi khoảng từ 10 đến hơn 20 tuổi, tôi thường gọi là “anh/chị” và xưng là “em” nếu thấy thân thiết, hoặc “tôi”, nếu thấy có khoảng cách nào đó.

Với những người lớn hay nhỏ hơn tôi vài tuổi, cách xưng hô thường là “anh/chị/tôi” hay “ông/tôi”.

Với những người trẻ hơn, thậm chí đến vài ba chục tuổi, tôi cũng thường gọi “anh/chị”; thân hơn thì gọi bằng tên; thân lắm mới gọi là “em”.

Tôi nghĩ phần lớn người Việt Nam đều có lối ứng xử tương tự trong văn hóa xưng hô. Tuy nhiên, tôi cũng biết có một số trường hợp khá đặc biệt. Nhà văn Mai Thảo sinh năm 1927, nhà thơ Vũ Hoàng Chương sinh năm 1915 (trên giấy tờ ghi năm 1916), lớn hơn Mai Thảo 12 tuổi. Vậy mà, nói chuyện với nhau, hai người vẫn mày mày tao tao với nhau.[1] Nhà văn Kiệt Tấn, sinh năm 1940, nhỏ hơn Mai Thảo 13 tuổi, cũng vẫn mày mày tao tao với Mai Thảo.[2] Hiện tượng mày mày tao tao giữa những người lệch tuổi đến mười mấy, hai mươi như vậy trong giới văn nghệ có lẽ không hiếm.

Ngoài ra, còn có hiện tượng người ta thay đổi cách xưng hô ngay trong một câu chuyện. Đang vui vẻ và ngọt ngào thì anh anh em em; sau, tự dưng đâm cãi cọ, thành ông tôi; sau nữa, giận quá, thì mày tao. Trong truyện ngắn “Về lại bức tranh xưa”, Nguyễn Quang Sáng kể về cuộc hội ngộ kỳ thú giữa hai cha con trong rừng thời chiến tranh. Họ xa nhau từ lúc đứa con còn bé tí. Sau đó, tình cờ gặp nhau trong chiến khu. Hỏi chuyện nhau một lúc, người cha bỗng nhận ra thằng bé chính là con mình. Ông la lên:

“Đ.m.! Tao là ba mày. Minh! Ba là Mười Biện đây con!”[3]

Chỉ trong một câu ngắn, ngôi thứ nhất biến từ “tao” đến “ba” và ngôi thứ hai thì từ “mày” đến “con”.

Tất cả những điều kể trên, với những người sử dụng tiếng Việt như ngôn ngữ thứ nhất, không có gì khó hiểu. Nhưng để dạy cho những người học tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai thì lại khác. Ở đây, cần hai năng lực khác: giải thích và hướng dẫn. Nhưng, trong tình trạng thiếu những tài liệu công cụ cần thiết được giới nghiên cứu ngôn ngữ học cung cấp như hiện nay, hai năng lực ấy lại tùy thuộc vào hai năng lực khác của người đi dạy: khái quát hóa và hệ thống hóa. Từ vô số những biến thể của cách xưng hô, người đi dạy cần tìm một sơ đồ đơn giản, dễ nhớ và dễ áp dụng nhất. Nhưng lại không được sai.

Đó không phải là điều dễ.

[1] Mai Thảo có kể điều này trong bài viết “Mấy tháng cuối cùng với Vũ Hoàng Chương”. Có thể đọc trên http://sachxua.net/forum/index.php?topic=10801.0.

[2] Ít nhất là trong lúc say rượu trong một buổi tiệc tiếp đãi Mai Thảo ở nhà Kiệt Tấn khoảng năm 1990. Lúc ấy có tôi tham dự.

[3] Truyện ngắn hay 1998, tập 2, nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, tr. 133.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.