Một Số Trò Chơi Học Tập Tiếng Việt Lớp 1.

--- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Từ Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục
  • Cuốn Sách Dạy Học Sinh Lớp 1 Đánh Vần Theo Cách Lạ Có Thể Cải Cách Tiếng Việt?
  • Đề Thi Học Kì 2 Môn Tiếng Việt Lớp 1 Có Bảng Ma Trận Đề Thi Theo Thông Tư 22
  • Unit 1 Lesson 3 (Trang 10
  • Bài Viết Giới Thiệu Về Lớp Học Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Trò chơi học tập là một loại hình hoạt động vui chơi có nhiều tác dụng trong các giờ học của học sinh lớp 1. Trò chơi học tập tạo ra không khí vui tươi, hồn nhiên, sinh động trong giờ học. Nó còn kích thích được trí tưởng tượng, tò mò, ham hiểu biết ở trẻ.

    Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động học tập của học sinh, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách tự giác, tích cực. Giúp học sinh rèn luyện, củng cố kiến thức, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tích lũy qua hoạt động vui chơi.

    a) Trò chơi “Ai tinh mắt?”

    – Giúp học sinh nhìn, nhận diện và phát hiện được các chữ cái, các tiếng có chứa các dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng).

    – Phân biệt được chữ cái này với các chữ khác có nét gần giống; phân biệt được dấu thanh này với các dấu có nét gần giống.

    Cờ hiệu: 3 cái. Bảng cài lớn: 1 bảng. Bảng cài nhỏ: 3 bảng. Thẻ chữ: 24 thẻ. Chữ ghi (các chữ cái hoặc dấu thanh).

    * Nội dung:

    – Chọn thẻ được ghi chữ cái (hoặc dấu thanh) giữa các thẻ mang chữ gần giống. Gắn được vào bảng cài của đội thẻ ghi chữ cái đó.

    – Khi lên tìm thẻ chữ, từng học sinh trong nhóm chơi, tay cầm cờ hiệu, chạy lên bảng cài lớn, chọn thẻ có ghi chữ cái đúng, cầm về gắn vào bảng cài của đội. Sau đó chuyển cờ hiệu cho người thứ hai. Người này thực hiện tiếp công việc. Cứ thế cho đến hết.

    – Đội nào xếp đủ, đúng, nhanh, đẹp 4 chữ vào bảng cài của đội là đội thắng cuộc.

    * Tổ chức chơi:

    – Giáo viên gắn các thẻ chữ vào bảng cài lớn.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi.

    – Từng HS trong các đội thay nhau tìm và cài chữ vào bảng cài của đội.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm của từng đội.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới.

    Ví dụ: Khi dạy bài ” d – đ “, tôi đã sử dụng trò chơi này vào phần củng cố cuối bài

    Mục đích:

    – Giúp học sinh nhìn, nhận diện và phát hiện được các chữ bắt đầu bằng chữ d, đ.

    – Phân biệt được chữ d với đ và các chữ có nét gần giống.

    Chuẩn bị:Cờ hiệu: xanh 1, đỏ 1, vàng 1. Bảng cài lớn: 1. Bảng cài nhỏ: 3. Thẻ chữ: 24. Chữ ghi:

    Luật chơi:

    * Nội dung:

    – Chọn thẻ được ghi chữ d hoặc đ giữa các thẻ mang chữ gần giống. Gắn được vào bảng cài của đội thẻ ghi chữ d hoặc đ.

    – Khi lên tìm thẻ chữ, từng học sinh trong nhóm chơi, tay cầm cờ hiệu, chạy lên bảng cài lớn, chọn thẻ có ghi chữ d, đ, cầm về gắn vào bảng cài của đội. Sau đó chuyển cờ hiệu cho người thứ hai. Người này thực hiện tiếp công việc. Cứ thế cho đến hết.

    – Đội nào xếp đủ, đúng, nhanh, đẹp 4 chữ d, đ vào bảng cài của đội là đội thắng cuộc.

    * Tổ chức chơi:

    – Giáo viên gắn các thẻ chữ vào bảng cài lớn.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi.

    – Từng HS trong các đội thay nhau tìm và cài chữ d, đ vào bảng cài của đội.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm của từng đội.

    b) Trò chơi ” Hái hoa”

    Giúp học sinh đọc và viết được các tiếng, từ đã học.

    – HS có bảng con, phấn viết, giẻ lau bảng.

    – Cây (thật hoặc giả) có nhiều cành. Cành treo được các bông hoa giấy.

    – Hoa giấy:

    Hình dáng: hình hoa 5 cánh.

    Số lượng: 12.

    Chữ ghi trong hoa: (các tiếng, từ đã học). Mỗi chữ ghi vào 2 hoa.

    * Nội dung:

    – Từng đội cử đại diện lên hái hoa và đọc trơn yêu cầu của hoa.

    – Cả đội phải ghi đúng, nhanh, đẹp chữ mà hoa yêu cầu. Đại diện ghi trên bảng lớp. Cả đội ghi trên bảng con.

    – Đội thắng cuộc là đội có nhiều người ghi đúng, nhanh, đẹp theo yêu cầu của hoa.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi:”Hái hoa và làm theo yêu cầu được ghi trong ở hoa.”

    – Mỗi đội cử một người thay mặt đội lên hái hoa. Hái được bông hoa nào, người đại diện đó phải giở ra, đọc to chữ ghi trong hoa (đọc trơn).

    – Cả đội thực hiện yêu cầu của hoa. Người đại diện viết trên bảng lớp, cả đội viết trên bảng con.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm cho các đội:

    + Đọc đúng: được cộng 2 điểm cho đội.

    + Đọc sai: bị trừ 2 điểm của đội.

    + Một người viết đúng: cộng 2 điểm cho đội.

    + Một người viết sai: trừ 2 điểm của đội.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy dạng bài ôn tập.

    * Ví dụ: Khi dạy bài: ” Luyện tập”, tôi đã sử dụng trò chơi này vào phần củng cố cuối bài.

    Mục đích:

    Giúp học sinh đọc và viết được các tiếng, từ bắt đầu bằng: p, ph, nh, g, gh, q, qu, gi, ng, ngh, y, tr.

    Chuẩn bị:

    – HS có bảng con, phấn viết, giẻ lau bảng.

    – Cây (thật hoặc giả) có nhiều cành. Cành treo được các bông hoa giấy.

    – Hoa giấy:

    Hình dáng: hình hoa 5 cánh.

    Số lượng: 12.

    Từ ghi trong hoa: phố xá, nhà lá, nhà ga, quả nho, tre ngà, ý nghĩ. Mỗi từ ghi vào 2 hoa.

    Luật chơi:

    – Từng đội cử đại diện lên hái hoa và đọc trơn yêu cầu của hoa.

    – Cả đội phải ghi đúng, nhanh, đẹp chữ mà hoa yêu cầu. Đại diện ghi trên bảng lớp. Cả đội ghi trên bảng con.

    – Đội thắng cuộc là đội có nhiều người ghi đúng, nhanh, đẹp theo yêu cầu của hoa.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi:”Hái hoa và làm theo yêu cầu được ghi trong ở hoa.”

    – Mỗi đội cử một người thay mặt đội lên hái hoa. Hái được bông hoa nào, người đại diện đó phải giở ra, đọc to chữ ghi trong hoa (đọc trơn).

    – Cả đội thực hiện yêu cầu của hoa. Người đại diện viết trên bảng lớp, cả đội viết trên bảng con.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm cho các đội:

    + Đọc đúng: được cộng 2 điểm cho đội.

    + Đọc sai: bị trừ 2 điểm của đội.

    + Một người viết đúng: cộng 2 điểm cho đội.

    + Một người viết sai: trừ 2 điểm của đội.

    c) Trò chơi: ” Ai ghép tiếng giỏi ?”

    – Giúp học sinh nhận biết và ghép được tiếng với các chữ cái và dấu thanh đã học.

    Bảng cài lớn: 1 bảng. Thẻ chữ: 20 thẻ. Chữ ghi (các chữ cái hoặc dấu thanh đã học).

    Ví dụ: Bài ” k – kh “

    Bảng cài lớn: 1. Thẻ chữ: 20. Chữ ghi: k: 3, kh: 3, e: 3, h: 1, ơ: 1, i: 1, c: 2, o: 2, đ: 1, a: 2, ê: 1.

    * Nội dung:

    – Ghép được nhiều tiếng mới với các chữ cái và dấu thanh đã học.

    – Ghi các tiếng ghép được vào bảng con.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    – Giáo viên cài các thẻ chữ vào bảng cài lớn.

    – Giáo viên chỉ cho cả lớp đọc đồng thanh các chữ trong bảng cài.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Dùng các chữ trên bảng cài, ghép thành từ một, hai tiếng, rồi ghi tiếng (từ) đó vào bảng con.

    Lưu ý: Điều kiện quan trọng là phải ghép hết các thẻ chữ trên bảng cài (20 thẻ).

    – HS ghép tiếng và viết vào bảng con.

    – GV là trọng tài, tính điểm cho 3 đội.

    Đáp án:kẻ, khế, kẽ hở, khe đá, kì cọ, cá kho. * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới. d) Trò chơi: “Cậu Cóc thông thái

    Rèn năng lực tìm tiếng mới có âm đầu hoặc vần đã học.

    Cờ hiệu: 3

    * Nội dung:

    – Tìm được tiếng mới có chứa âm đầu hoặc vần đã học.

    – Ghi được chữ đó lên bảng lớp đúng, nhanh, đẹp.

    – Người viết phải di chuyển bằng cách nhảy hai chân một lúc, như nhảy cóc.

    – Mỗi người chỉ được viết một tiếng, một từ. Sau đó quay về đội, trao cờ hiệu cho người thứ hai lên viết tiếp.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    Mỗi đội lại chia làm nhiều nhóm: cứ 4 em ngồi cùng bàn dài hoặc 4 em ngồi 2 bàn ngắn liền nhau, làm thành một nhóm.

    – Mỗi lần chơi có 3 nhóm của 3 đội

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Viết các từ, các tiếng có âm đầu hoặc vần đã học.

    – Các nhóm thi viết trên bảng lớp theo đúng luật của cuộc chơi.

    – Hết giờ: GV đánh giá kết quả, cho điểm các nhóm chơi.

    + Viết đúng một tiếng, một từ: được 10 điểm.

    + Viết các từ thẳng hàng dọc: được thưởng 5 điểm.

    + Viết từ thẳng hàng ngang, đều nét: được thưởng 5 điểm.

    *Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới. Mục đích:

    Rèn năng lực tìm tiếng mới có chứa vần ia.

    Chuẩn bị:

    Cờ hiệu: 3

    Luật chơi:

    * Nội dung:

    – Tìm được tiếng mới có chứa vần ia.

    – Ghi được chữ đó lên bảng lớp đúng, nhanh, đẹp.

    – Người viết phải di chuyển bằng cách nhảy hai chân một lúc, như nhảy cóc.

    – Mỗi người chỉ được viết một tiếng, một từ. Sau đó quay về đội, trao cờ hiệu cho người thứ hai lên viết tiếp.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    Mỗi đội lại chia làm nhiều nhóm: cứ 4 em ngồi cùng bàn dài hoặc 4 em ngồi 2 bàn ngắn liền nhau, làm thành một nhóm.

    – Mỗi lần chơi có 3 nhóm của 3 đội

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Viết các từ, các tiếng có vần ia.

    – Các đội lần lượt lên viết trên bảng.

    – Hết giờ: GV đánh giá kết quả, cho điểm các nhóm chơi.

    e) Trò chơi: “Tạo tiếng mới

    – Rèn năng lực tạo được nhiều tiếng mới trên cơ sở những con chữ đã học.

    – Bồi dưỡng vốn từ cho học sinh.

    – Bảng cài lớn: 1. Thẻ chữ: 24. Chữ ghi: o: 4, n: 4, g: 4, ô: 4.

    – HS có bảng con và phấn viết, giẻ lau bảng.

    * Nội dung:

    – HS tạo được nhiều tiếng mới với các con chữ GV nêu ra.

    – Ghi được các tiếng mới đó vào bảng con.

    – Nói được thành từ có tiếng đó.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    Mỗi đội lại chia làm nhiều nhóm 4 em. Mỗi nhóm là một đơn vị chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Các nhóm tìm các tiếng mới được ghép với các chữ o, n, g (GV vừa nói vừa gắn lên bảng cài của lớp 3 chữ trên, gắn mỗi chữ một dòng). Các nhóm ghi các tiếng tìm được vào bảng con.

    – Các nhóm bàn bạc rồi ghi vào bảng (mỗi nhóm cùng ghi chung vào một bảng).

    – GV cho các nhóm giơ bảng và các nhóm chấm bài của nhau (GV cài các tiếng tạo được lên bảng cài của lớp).

    Chú ý: Trên bảng chỉ ghi một tiếng và có thể không ghi dấu thanh. Nhưng khi đứng lên nói, phải thêm dấu thanh và nói thêm một tiếng nữa để tạo thành từ hai tiếng có nghĩa. Ví dụ: ghi bảng là ong nhưng khi nói phải nói là con ong hay óng ả, õng ẹo, òng ọc, cái võng,…

    Đáp án:

    – Với o, n, g có ong (con ong), ngo (ngó nhìn), gon (gọn gàng).

    – Với ô, n, g có ông (ông bà), ngô (bắp ngô), gôn (đá gôn).

    Cách chấm:

    – Ghi đúng 1 tiếng và nói được thành từ có nghĩa: được 10 điểm.

    – Ghi đúng 1 tiếng nhưng không nói được thành từ có nghĩa: được 5 điểm.

    – Nói thêm được 1 từ có nghĩa với mỗi tiếng ghép được: được 3 điểm.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới. f) Trò chơi “Em là chiến sĩ truyền lệnh Mục đích:

    – Giúp học sinh đọc, nhớ và nói truyền lại được câu văn một cách chính xác, không bị sai lạc.

    – Một số câu có nhiều từ khó, nội dung có nhiều tình tiết.

    – GV ghi câu đó vào giấy. Có bao nhiêu nhóm chơi thì chuẩn bị bằng ấy tờ giấy ghi lệnh truyền.

    Ví dụ: Bài ” ong – ông “.

    GV có thể ghi: ” Anh thuận em hòa là nhà có phúc” hoặc ” Không ai thương mẹ bằng con. Không ai thương con bằng mẹ”

    * Nội dung:

    – GV cho một HS trong các nhóm chơi đọc lệnh ghi trong giấy trong 1 phút. Sau đó, HS trả lại tờ giấy ghi lệnh cho GV, rồi truyền miệng lại nội dung lệnh cho người thứ hai trong nhóm. Người này nhận lệnh, tiếp tục truyền lại cho người thứ ba. Cứ như thế tiếp tục cho đến người cuối cùng của nhóm. Người cuối cùng này chạy lên nói lại lệnh đó cho GV.

    – Nhóm thắng cuộc là nhóm truyền được chính xác nhất nội dung lệnh (căn cứ vào em cuối cùng của nhóm nói lại cho GV).

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    – GV phổ biến luật chơi: Các nhóm chuẩn bị, phân công 4 người và thứ tự người nhận lệnh…

    – GV cho em thứ nhất trong 3 nhóm đọc nội dung lệnh trong giấy ghi lệnh. (Mỗi em đọc một tờ giấy ghi lệnh riêng). Em này đọc xong phải trả lại tờ giấy cho GV, rồi mau chóng nói lại cho người kế tiếp trong nhóm. Cứ như thế cho đến người cuối cùng trong nhóm nói lại được nội dung đó cho GV.

    Chú ý: Các nhóm phải đảm bảo nói nhỏ chỉ đủ cho bạn mình nghe. Không được để lộ.

    – Cách chấm:

    Chính xác: được cộng 10 điểm.

    Sai một từ: bị trừ 1 điểm.

    Nhanh nhất: được cộng 5 điểm.

    Nhì: được cộng 4 điểm.

    Ba: được cộng 3 điểm.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới hoặc bài ôn tập. g) Trò chơi “Nhìn tranh đoán chữ”

    Mục đích :

    – Giúp HS nghe, nhận diện được các tiếng, từ có vần đã học.

    Chuẩn bị :

    – Những tranh ảnh để gợi ý cho HS tìm được tiếng, từ có vần cần ôn trong mỗi bài học vần. Ví dụ: Bài “on – an”. GV chuẩn bị tranh:

    – HS có bảng con và phấn viết, giẻ lau bảng.

    Luật chơi :

    * Nội dung:

    – HS quan sát tranh và suy nghĩ tìm được tiếng, từ có chứa vần vừa học.

    – Ghi được các tiếng, từ đó vào bảng con.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội chơi có số lượng HS bằng nhau. Tất cả HS trong nhóm đều phải tham gia chơi. GV cử ra một tổ làm trọng tài (3HS)

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Các nhóm quan sát tranh GV đưa ra rồi viết tiếng, từ tương ứng với nội dung tranh vào bảng con trong 1 phút/ 1 tranh.

    – GV cho HS của các đội giơ bảng và GV cùng với tổ trọng tài chấm điểm. GV cho HS chơi vài ba lượt rồi tổ trọng tài tổng kết số điểm.

    Cách chấm: Mỗi bạn của đội viết đúng một tiếng, từ thì đội đó được cộng một điểm. Đội thắng cuộc là đội có số lượng HS viết đúng nhiều tiếng, từ nhất.

    * Ngoài các trò chơi trên, tôi còn vận dụng các trò chơi trong chuyên đề như: Chèo thuyền; Đi chợ; Bắn tên; Gọi thuyền…….

    Người viết bài:

    Giáo viên trường Tiểu học Sơn Tây – Hương Sơn.

    Nguyễn Thị Thúy Vân @ 22:07 01/02/2017

    Số lượt xem: 21746

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chọn Phần Mềm Và Vở Giúp Bé Tập Viết Chữ Tiếng Việt Lớp 1 Full Crack Miễn Phí
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 1 Tập 2
  • Em Học Giỏi Tiếng Anh Lớp 9 Tập 1
  • Rèn Kỹ Năng Học Tốt Tiếng Việt Lớp 1
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2
  • Một Số Trò Chơi Học Tập Tiếng Việt Lớp 1. Bai Viet Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Học Tiếng Anh 1 Kèm 1
  • Nên Học Tiếng Anh 1 Thầy 1 Trò Hay Học Theo Lớp?
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 1 Năm 2022
  • Trò chơi học tập là một loại hình hoạt động vui chơi có nhiều tác dụng trong các giờ học của học sinh lớp 1. Trò chơi học tập tạo ra không khí vui tươi, hồn nhiên, sinh động trong giờ học. Nó còn kích thích được trí tưởng tượng, tò mò, ham hiểu biết ở trẻ.

    Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động học tập của học sinh, giúp các em tiếp thu kiến thức một cách tự giác, tích cực. Giúp học sinh rèn luyện, củng cố kiến thức, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tích lũy qua hoạt động vui chơi.

    – Giúp học sinh nhìn, nhận diện và phát hiện được các chữ cái, các tiếng có chứa các dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng).

    – Phân biệt được chữ cái này với các chữ khác có nét gần giống; phân biệt được dấu thanh này với các dấu có nét gần giống.

    Cờ hiệu: 3 cái. Bảng cài lớn: 1 bảng. Bảng cài nhỏ: 3 bảng. Thẻ chữ: 24 thẻ. Chữ ghi (các chữ cái hoặc dấu thanh).

    – Chọn thẻ được ghi chữ cái (hoặc dấu thanh) giữa các thẻ mang chữ gần giống. Gắn được vào bảng cài của đội thẻ ghi chữ cái đó.

    – Khi lên tìm thẻ chữ, từng học sinh trong nhóm chơi, tay cầm cờ hiệu, chạy lên bảng cài lớn, chọn thẻ có ghi chữ cái đúng, cầm về gắn vào bảng cài của đội. Sau đó chuyển cờ hiệu cho người thứ hai. Người này thực hiện tiếp công việc. Cứ thế cho đến hết.

    – Đội nào xếp đủ, đúng, nhanh, đẹp 4 chữ vào bảng cài của đội là đội thắng cuộc.

    – Giáo viên gắn các thẻ chữ vào bảng cài lớn.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi.

    – Từng HS trong các đội thay nhau tìm và cài chữ vào bảng cài của đội.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm của từng đội.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới.

    b : 12, d : 4, đ : 4, p : 4

    – Chọn thẻ được ghi chữ d hoặc đ giữa các thẻ mang chữ gần giống. Gắn được vào bảng cài của đội thẻ ghi chữ d hoặc đ .

    * Tổ chức chơi:

    – Giáo viên gắn các thẻ chữ vào bảng cài lớn.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm của từng đội.

    b) Trò chơi ” Hái hoa”

    Giúp học sinh đọc và viết được các tiếng, từ đã học.

    – HS có bảng con, phấn viết, giẻ lau bản g.

    – Cây (thật hoặc giả) có nhiều cành. Cành treo được các bông hoa giấy.

    Hình dáng: hình hoa 5 cánh.

    Chữ ghi trong hoa: (các tiếng, từ đã học). Mỗi chữ ghi vào 2 hoa.

    – Từng đội cử đại diện lên hái hoa và đọc trơn yêu cầu của hoa.

    – Cả đội phải ghi đúng, nhanh, đẹp chữ mà hoa yêu cầu. Đại diện ghi trên bảng lớp. Cả đội ghi trên bảng con.

    – Đội thắng cuộc là đội có nhiều người ghi đúng, nhanh, đẹp theo yêu cầu của hoa.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi:”Hái hoa và làm theo yêu cầu được ghi trong ở hoa.”

    – Mỗi đội cử một người thay mặt đội lên hái hoa. Hái được bông hoa nào, người đại diện đó phải giở ra, đọc to chữ ghi trong hoa (đọc trơn).

    – Cả đội thực hiện yêu cầu của hoa. Người đại diện viết trên bảng lớp, cả đội viết trên bảng con.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm cho các đội:

    + Đọc đúng: được cộng 2 điểm cho đội.

    + Đọc sai: bị trừ 2 điểm của đội.

    + Một người viết đúng: cộng 2 điểm cho đội.

    + Một người viết sai: trừ 2 điểm của đội.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy dạng bài ôn tập.

    * Ví dụ: Khi dạy bà i : ” Luyện tập” , tôi đã sử dụng trò chơi này vào phần củng cố cuối bài.

    Giúp học sinh đọc và viết được các tiếng, từ bắt đầu bằng: p, ph, nh, g, gh, q, qu, gi, ng, ngh, y, tr.

    – HS có bảng con, phấn viết, giẻ lau bảng.

    – Cây (thật hoặc giả) có nhiều cành. Cành treo được các bông hoa giấy.

    Hình dáng: hình hoa 5 cánh.

    Từ ghi trong hoa: phố xá, nhà lá, nhà ga, quả nho, tre ngà, ý nghĩ. Mỗi từ ghi vào 2 hoa.

    – Từng đội cử đại diện lên hái hoa và đọc trơn yêu cầu của hoa.

    – Cả đội phải ghi đúng, nhanh, đẹp chữ mà hoa yêu cầu. Đại diện ghi trên bảng lớp. Cả đội ghi trên bảng con.

    – Đội thắng cuộc là đội có nhiều người ghi đúng, nhanh, đẹp theo yêu cầu của hoa.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi:”Hái hoa và làm theo yêu cầu được ghi trong ở hoa.”

    – Mỗi đội cử một người thay mặt đội lên hái hoa. Hái được bông hoa nào, người đại diện đó phải giở ra, đọc to chữ ghi trong hoa (đọc trơn).

    – Cả đội thực hiện yêu cầu của hoa. Người đại diện viết trên bảng lớp, cả đội viết trên bảng con.

    – Hết giờ, GV cho các đội tính điểm cho các đội:

    + Đọc đúng: được cộng 2 điểm cho đội.

    + Đọc sai: bị trừ 2 điểm của đội.

    + Một người viết đúng: cộng 2 điểm cho đội.

    + Một người viết sai: trừ 2 điểm của đội.

    c) Trò chơi: ” Ai ghép tiếng giỏi ?”

    – Giúp học sinh nhận biết và ghép được tiếng với các chữ cái và dấu thanh đã học.

    Bảng cài lớn: 1 bảng. Thẻ chữ: 20 thẻ. Chữ ghi (các chữ cái hoặc dấu thanh đã học).

    Bảng cài lớn: 1. Thẻ chữ: 20. Chữ ghi: k: 3, kh: 3, e: 3, h: 1, ơ: 1, i: 1, c: 2, o: 2, đ: 1, a: 2, ê: 1.

    – Ghép được nhiều tiếng mới với các chữ cái và dấu thanh đã học.

    – Ghi các tiếng ghép được vào bảng con.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    – Giáo viên cài các thẻ chữ vào bảng cài lớn.

    – Giáo viên chỉ cho cả lớp đọc đồng thanh các chữ trong bảng cài.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Dùng các chữ trên bảng cài, ghép thành từ một, hai tiếng, rồi ghi tiếng (từ) đó vào bảng con.

    Lưu ý: Điều kiện quan trọng là phải ghép hết các thẻ chữ trên bảng cài (20 thẻ).

    – HS ghép tiếng và viết vào bảng con.

    – GV là trọng tài, tính điểm cho 3 đội.

    Đáp án: kẻ, khế, kẽ hở, khe đá, kì cọ, cá kho.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới.

    Rèn năng lực tìm tiếng mới có âm đầu hoặc vần đã học.

    – Tìm được tiếng mới có chứa âm đầu hoặc vần đã học.

    – Ghi được chữ đó lên bảng lớp đúng, nhanh, đẹp.

    – Người viết phải di chuyển bằng cách nhảy hai chân một lúc, như nhảy cóc.

    – Mỗi người chỉ được viết một tiếng, một từ. Sau đó quay về đội, trao cờ hiệu cho người thứ hai lên viết tiếp.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    Mỗi đội lại chia làm nhiều nhóm: cứ 4 em ngồi cùng bàn dài hoặc 4 em ngồi 2 bàn ngắn liền nhau, làm thành một nhóm.

    – Mỗi lần chơi có 3 nhóm của 3 đội

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Viết các từ, các tiếng có âm đầu hoặc vần đã học.

    – Các nhóm thi viết trên bảng lớp theo đúng luật của cuộc chơi.

    – Hết giờ: GV đánh giá kết quả, cho điểm các nhóm chơi.

    + Viết đúng một tiếng, một từ: được 10 điểm.

    + Viết các từ thẳng hàng dọc: được thưởng 5 điểm.

    + Viết từ thẳng hàng ngang, đều nét: được thưởng 5 điểm.

    *Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới.

    Rèn năng lực tìm tiếng mới có chứa vần ia.

    – Tìm được tiếng mới có chứa vần ia.

    – Ghi được chữ đó lên bảng lớp đúng, nhanh, đẹp.

    – Người viết phải di chuyển bằng cách nhảy hai chân một lúc, như nhảy cóc.

    – Mỗi người chỉ được viết một tiếng, một từ. Sau đó quay về đội, trao cờ hiệu cho người thứ hai lên viết tiếp.

    * Tổ chức chơi:

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    Mỗi đội lại chia làm nhiều nhóm: cứ 4 em ngồi cùng bàn dài hoặc 4 em ngồi 2 bàn ngắn liền nhau, làm thành một nhóm.

    – Mỗi lần chơi có 3 nhóm của 3 đội

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Viết các từ, các tiếng có vần ia.

    – Các đội lần lượt lên viết trên bảng.

    – Hết giờ: GV đánh giá kết quả, cho điểm các nhóm chơi.

    Ví dụ : Khi dạy bài vần ” ong – ông “, tôi đã sử dụng trò chơi này để củng cố và mở rộng vốn từ cho HS.

    – Rèn năng lực tạo được nhiều tiếng mới trên cơ sở những con chữ đã học.

    – Bồi dưỡng vốn từ cho học sinh.

    – Bảng cài lớn: 1. Thẻ chữ: 24. Chữ ghi: o: 4, n: 4, g: 4, ô: 4.

    – HS có bảng con và phấn viết, giẻ lau bảng.

    – HS tạo được nhiều tiếng mới với các con chữ GV nêu ra.

    – Ghi được các tiếng mới đó vào bảng con.

    – Nói được thành từ có tiếng đó.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    Mỗi đội lại chia làm nhiều nhóm 4 em. Mỗi nhóm là một đơn vị chơi.

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Các nhóm tìm các tiếng mới được ghép với các chữ o, n, g (GV vừa nói vừa gắn lên bảng cài của lớp 3 chữ trên, gắn mỗi chữ một dòng). Các nhóm ghi các tiếng tìm được vào bảng con.

    – Các nhóm bàn bạc rồi ghi vào bảng (mỗi nhóm cùng ghi chung vào một bảng).

    – GV cho các nhóm giơ bảng và các nhóm chấm bài của nhau (GV cài các tiếng tạo được lên bảng cài của lớp).

    Chú ý: Trên bảng chỉ ghi một tiếng và có thể không ghi dấu thanh. Nhưng khi đứng lên nói, phải thêm dấu thanh và nói thêm một tiếng nữa để tạo thành từ hai tiếng có nghĩa. Ví dụ: ghi bảng là ong nhưng khi nói phải nói là con ong hay óng ả, õng ẹo, òng ọc, cái võng,…

    – Với o, n, g có ong (con ong), ngo (ngó nhìn), gon (gọn gàng).

    – Với ô, n, g có ông (ông bà), ngô (bắp ngô), gôn (đá gôn).

    – Ghi đúng 1 tiếng và nói được thành từ có nghĩa: được 10 điểm.

    – Ghi đúng 1 tiếng nhưng không nói được thành từ có nghĩa: được 5 điểm.

    – Nói thêm được 1 từ có nghĩa với mỗi tiếng ghép được: được 3 điểm.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới.

    – Giúp học sinh đọc, nhớ và nói truyền lại được câu văn một cách chính xác, không bị sai lạc.

    – Một số câu có nhiều từ khó, nội dung có nhiều tình tiết.

    – GV ghi câu đó vào giấy. Có bao nhiêu nhóm chơi thì chuẩn bị bằng ấy tờ giấy ghi lệnh truyền.

    Ví dụ: Bài ” ong – ông “.

    GV có thể ghi: ” Anh thuận em hòa là nhà có phúc” hoặc ” Không ai thương mẹ bằng con. Không ai thương con bằng mẹ”

    – GV cho một HS trong các nhóm chơi đọc lệnh ghi trong giấy trong 1 phút. Sau đó, HS trả lại tờ giấy ghi lệnh cho GV, rồi truyền miệng lại nội dung lệnh cho người thứ hai trong nhóm. Người này nhận lệnh, tiếp tục truyền lại cho người thứ ba. Cứ như thế tiếp tục cho đến người cuối cùng của nhóm. Người cuối cùng này chạy lên nói lại lệnh đó cho GV.

    – Nhóm thắng cuộc là nhóm truyền được chính xác nhất nội dung lệnh (căn cứ vào em cuối cùng của nhóm nói lại cho GV).

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội mang một sắc cờ.

    – GV phổ biến luật chơi: Các nhóm chuẩn bị, phân công 4 người và thứ tự người nhận lệnh…

    – GV cho em thứ nhất trong 3 nhóm đọc nội dung lệnh trong giấy ghi lệnh. (Mỗi em đọc một tờ giấy ghi lệnh riêng). Em này đọc xong phải trả lại tờ giấy cho GV, rồi mau chóng nói lại cho người kế tiếp trong nhóm. Cứ như thế cho đến người cuối cùng trong nhóm nói lại được nội dung đó cho GV.

    Chú ý: Các nhóm phải đảm bảo nói nhỏ chỉ đủ cho bạn mình nghe. Không được để lộ.

    Chính xác: được cộng 10 điểm.

    Sai một từ: bị trừ 1 điểm.

    Nhanh nhất: được cộng 5 điểm.

    Nhì: được cộng 4 điểm.

    Ba: được cộng 3 điểm.

    * Trò chơi này có thể sử dụng khi dạy các dạng bài nhận diện âm, vần mới hoặc bài ôn tập.

    g) Trò chơi “Nhìn tranh đoán chữ”

    – Giúp HS nghe, nhận diện được các tiếng, từ có vần đã học.

    – Những tranh ảnh để gợi ý cho HS tìm được tiếng, từ có vần cần ôn trong mỗi bài học vần. Ví dụ: Bài “on – an”. GV chuẩn bị tranh:

    – HS có bảng con và phấn viết, giẻ lau bảng.

    – HS quan sát tranh và suy nghĩ tìm được tiếng, từ có chứa vần vừa học.

    – Ghi được các tiếng, từ đó vào bảng con.

    – Chia lớp thành 3 đội chơi. Mỗi đội chơi có số lượng HS bằng nhau. Tất cả HS trong nhóm đều phải tham gia chơi. GV cử ra một tổ làm trọng tài (3HS)

    – GV nêu yêu cầu của cuộc chơi: Các nhóm quan sát tranh GV đưa ra rồi viết tiếng, từ tương ứng với nội dung tranh vào bảng con trong 1 phút/ 1 tranh.

    – GV cho HS của các đội giơ bảng và GV cùng với tổ trọng tài chấm điểm. GV cho HS chơi vài ba lượt rồi tổ trọng tài tổng kết số điểm.

    Cách chấm: Mỗi bạn của đội viết đúng một tiếng, từ thì đội đó được cộng một điểm. Đội thắng cuộc là đội có số lượng HS viết đúng nhiều tiếng, từ nhất.

    * Ngoài các trò chơi trên, tôi còn vận dụng các trò chơi trong chuyên đề như : Ch èo thuyền; Đi chợ; Bắn tên; Gọi thuyền…….

    Người viết bài:

    Giáo viên trường Tiểu học Sơn Tây – Hương Sơn .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phần Mềm Học Tiếng Việt Lớp 1
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 5 Tập 1 Tuần 3 Câu 1, 2, 3, 4 Trang 11, 12
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa)
  • Giáo Án Hướng Dẫn Học Tin Học Lớp 5
  • 4 Phương Pháp Dạy Trẻ Lớp 1 Tập Đọc Khoa Học Và Hiệu Quả
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 3.

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Làm Văn Lớp 3: Kể Lại Buổi Đầu Em Đi Học
  • 7 Bước Đơn Giản “kể Lại Ngày Đầu Tiên Đi Học” Hay Như Văn Mẫu!
  • Kể Lại Buổi Đầu Tiên Em Đi Học Từ 5
  • Bộ Đề Thi Học Sinh Giỏi Tiếng Việt Lớp 3
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Việt Lớp 3
  • Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 3

    I.1: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo các thế hệ học sinh thành những con người năng động,sáng tạo trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .Những con người biết tiếp thu tri thức khoa học kĩ thuật hiện đại, biết vận dụng tìm ra các giải pháp,phương pháp hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội .Thì giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu .Nhờ có giáo dục mới đào tạo các thế hệ tương lai của đất nước . Để đạt được những thành quả nói trên,các em phải trải qua các cấp học từ mẫu giáo đến đại học và sau đại học vì vậy môn tiếng việt ở tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh .Mục tiêu của môn tiếng việt là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt (đọc,viết , nghe ,nói ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của trẻ. Thông qua việc dạy và học tiếng việt góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng việt và những hiểu biết về xã hội, tự nhiên và con người, nền văn học Việt Nam và nước ngoài.Đồng thời bồi dưỡng tình yêu tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng việt góp phần hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Chương trình tiếng việt lớp 3 các em phải học gồm 6 phân môn . Mỗi phân môn có một nhiệm vụ quan trọng, đối với phân môn tập đọc chủ yếu là rèn cho học sinh các kĩ năng đọc:đọc thành tiếng và đọc hiểu nghe và nói.Bên cạnh đó thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm, Các em đọc đúng và đọc trôi chảy,rành mạch câu, đoạn, bài và biết được cách đọc thầm hiểu được nội dung chính của bài nhằm khai thác nội dung bài đọc cung cấp cho các em những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người,cung cấp vốn từ, cách diễn đạt những tác phẩm văn học như đề tài,cốt truyện,nhân vật,góp phần hình thành nhân cách học sinh.Phân môn luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng việt bằng con đường quy nạp và kĩ năng dùng từ đặt câu khi nói và viết bỗ sung thêm từ ngữcho phần đọc.phân môn chính tả chủ yếu rèn cho học sinh viết chữ hoa,viết được đoạn văn,khổ thơ bằng cách nghe viết,hoặc nhớ viết,các emviết đúng chính tả,trình bày sạch sẽ.Bên cạnh đó, học sinh phải làm một số bài tập để nắm vững từ ngữ và biết cách dùngtừ đặt câu cho phù hợp.Phân môn tập làm văn giúp học sinh biết làm mẫu đơn theo hướng dẫn,viết được đoạn văn tả ngắn về người thân,biết diễn đạt ý trọn vẹn,

    Ở phần đọc yêu cầu các em đọc đúng,rõ ràng rành mạch các đoạn đối thoại,các văn bản nghệ thuật, hành chính báo chí,tốc độ đọc nhanh hơn lớp 2.Biết dựa vào câu hỏi trả lời ýchính của bài,biết nhận xét một số hình ảnh nhân vật hoặc đặt tên cho đề bài cốt truyện, biết kể chuyện từng đoạn dựa vào phần gợi ý ở sách giáo khoa.Ở phần viết yêu cầu các em viết đúng chính tả rõ ràng,biết tìm hình ảnh so sánh,nhân hóa trong khổ thơ,đoạn văn.Qua thực dạy trên lớp,tôi nhận thấymột số học sinh vẫn học chưa tốt các em đọc và viết thể hiện ý vănchưa trọn vẹn,dùng từ đặt câuchưa đúng,viết chưa chính xác từ ngữ. vì vậy tôi mạnh dạn viết ra đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 3”

    2) Nội dung và cách thức thực hiên giải pháp biện pháp :

    Để học tốt môn tiếng việt,trước hết các em phải đọc và viết tốt,nói và viết cho trọn câu,dùng từ đặt câu cho phù hợp biết dùng các dấu câu trong đoạn văn phù hợp với nội dung cần thể hiện.Biết nghe và khi nhận thông tin xử lí thông tin nhanh chống .Vì vậy những nội dung tôi quan tâm nghiên cứu thực hiện đó là:

    Giải pháp thứ nhất: Dạy học sinh biết thể hiện giọng điệu ngắt nghỉ,đọc đúng,đọc trơn câu văn,đoạn văn,bài thơ và trả lời câu hỏi trong giờ tập đọcvà kết hợp cử chỉ điệu bộ khi kể chuyện.

    Khi dạy bài tập đọc hay bài học thuộc lòng trong chương trình tiếng việt lớp ba,trước hết giáo viên phải bám vào mục đích yêu cầu của bài soạn,bám vào chuẩn kiến thức kĩ năng.Trong giờ dạy tập đọc chủ yếu rèn luyên cho học sinh hai kĩ năng: Kĩ năng đọc thành tiêng và kĩ năng đọc hiểu.Đối với từng bài dạy khi mở bài giáo viên dùng tranh ảnh,vật thật để giới thiệu bài có nội dung hướng học sinh vào bài học hôm nay,khi đọc giáo viên đọc mẫu bài giọng đọc rõ ràng,đọc đúng từng câu biết cách ngắt nghỉ sau những câu văn có cụm từ dài hay sau những dấu câu.Biết nhấn giọng những câu đối thoại giữa nhân vật hay sự vật hiện tượng một cách tự nhiên không bị gò bó tạo cho học sinh thấy được sự hấp dẫn ở phần đọc.Sau đó người giáo viên điều khiển cách đọc cho học sinh,học sinh biết dấu hiệu một câu,dấu hiệu một đoạn,hay một bài thơ có mấy khổ thơ.Khi đọc các em phải đọc ngắt, nghỉ ở dấu câu,đọc đúng từ ngữ trong câu .

    Chẳng hạn,trong quá trình học học sinh hay mắc lỗi đọc từ có phụ âm s/x ;tr/ ch; l/n và vần iêt/ iêc; oi/ oai; ưu/ ươu; ât/âc; um/uôm….. Để đọc đúng các âm vần trong từ ngữ thì giáo viên phải dùng phương pháp làm mẫu phối hợp răng, lưỡi, miệng để học sinh quan sát cách phát âm của giáo viên mà đọc.Ngoài ra giáo viên dùng các đồ dùng trực quan để đi sâu khai thác kênh hình và kết hợp kênh chữ gây hứng thú học tập cho các em .Khi đọc đoạn văn có nhiều câu đối thoại của nhân vật hay những câu có dấu chấm than thì giáo viên phải nhấn giọng để tạo ra hình ảnh gợi hình gợi cảm lôi cuốn người đọc.Trong khi luyện đọc cho học sinh giáo viên theo dõi cách đọc câu,đoạn, cách ngắt nghỉ trong câu để phát hiệncáichưa chính xác,kịp thời sửa cho các em.Giaó viên không để cho học sinh đọc tự do,mà phải hướng dẫncho các em đọc . Học sinh đọc phần luyện đọc thì tiếp đến giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài, những bài có câu hỏi khó giáo viên có thể tách ra những câu hỏi nhỏ và gợi ý cho các em trả lời tránh tình trạng dùng câu hỏi lặp đi lặp lại nhiều lần để hỏi học sinh .Gây hứng thú cho các em khi trả lời nội dung câu hỏi.Giáo viên phải đầu tư cả hình thức nội dung để tiết học có hiệu quả chọn phương pháp sử dụng cho phù hợp mang lại kiến thức mới cho học sinh đạt hiệu quả nhất.Khi luyện đọc lại bài thường đọc theo cách phân vai có thể các em chọn vai và nhập vai đọc chọn vai và nhập vai theo nhân vật có thể các em chọn vai và đọc thành từng nhóm.Nhóm nào đọc tốt nhất thì đọc mẫu,giáo viên nhận xét sau đó rút kinh nghiệm để các nhóm đọc chưa chính xác thì đọc chính xác hơn .Cho các nhóm thi đọc lại với nhau rồi tự nhận xét giữa các nhóm và giáo viên nhận xét đánh giá khả năng đọc của từng nhóm .

    * VÍ DỤ: Tập đọc: Người mẹ ( SGK Trang 39 tập một lớp3 )

    Khi dạy phần luyện đọc theo đoạn . Giaó viên chọn đoạn4.

    -Thấy bà,Thần Chết ngạc nhiên hỏi:

    -Làm sao ngươi có thể tìm đến tận nơi đây

    -Bà mẹ trả lời:

    -Vì tôi là mẹ.Hãy trả con cho tôi.

    Giaó viên hướng dẫn cách đọc đoạn trên: cách ngắt,nghỉ ở chỗ câu có dấu phẩy thì nghỉ ngắn hơi hơn so với dấu chấm và ngắt nghỉ nhấn giọng đúng chỗ ở câu hỏi và câu trả lời của nhân vật . Thể hiện giọng đọc các nhân vật(bà mẹ,Thần Chết,Người dẫn chuyện: Giaó viên hướng dẫn giọng đọc từng nhân vật như sau giọng Thần chết ngạc nhiên,giọng người mẹ khi nói câu:vì tôi là mẹ giọng điềm đạm khiêm tốn, khi yêu cầu Thần Chết:Hãy trả con cho tôi giọng dứt khoát. – Thấy bà/Thần Chết ngạc nhiên/hỏi://

    .- Làm sao ngươi có thể tìm đếntận nơi đây/

    / – Bà mẹ trả lời://

    -Vì tôi là mẹ.//Hãy./ trả con cho tôi.//

    Sau khi đã hướng dẫn đoạn văn trên, giáo viên cho học sinh đọc cá nhân, chú ý cách đọc của từng học sinh, học sinh đọc chưa chính xác từ ngữ, cách nhấn giọng giữa nhân vật, giáo viên hướng dẫn lại cho học sinh đọc lại đoạn đó, từ đó khắc phục học sinh đọc và đọc chính xác.

    Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc cách phân vai các nhân vật, rồi phân học sinh thành bốn nhóm cho các nhóm luyện đọc.Sau đó gọi từng nhóm lên đọc các nhóm còn lại theo dõi nhận xét -đánh giá để các em rút kinh nghiệm.Cuối giờ luyện đọc cả lớp bình bầu nhóm bạn đọc hay nhất tuyên dươngvà khen thưởng.

    Bên cạnh giờ tập đọc,có nửa tiếtdành cho kể chuyện,chủ yếu ở tiết này rèn kĩ năng nói:Dựa vào các gợi ý trong sách giáo khoa học sinh biết nhập vai kể lại được từng đoạn của câu chuyện theo lời nhân vật.Các em biết thay đổi giọng kể phù hợp với nội dung,biết phối hợp lời kể với điệu bộ,nét mặt.

    Rèn kĩ năng nghe:Chăm chú theo dõi bạn kể chuyện,biết nhận xét đánh giá lời kể của bạn,kể tiếp được lời kể của bạn.

    Ví dụ: Kể lại đoạn ba và đoạn bốn trong bài “Người mẹ”

    Đoạn 3. Bà đến một hồ lớn.Không có một bóng thuyền.Nước hồ quá sâu.Nhưng bà nhất định vượt qua hồ để tìm con .Hồ bảo:

    – Tôi sẽ giúp bà,nhưng bà phải cho tôi đôi mắt .Hãy khóc đi,cho đến khi đôi mắt rơi xuống.

    Bà mẹ khóc,nước mắt tuôn rơi lã chã,đến nổi đôi mắt theo dòng lệ rơi xuống hồ,hóa thành hai hòn ngọc.Thế là bà được đưa đến nơi ở lạnh lẽo của Thần Chết.

    Đoạn 4. Thấy bà thần chết ngạc nhiên ,hỏi:

    – Làm sao ngưoi có thể tìm đến tận nơi đây ?

    – Bà mẹ trả lời :

    – Vì tôi là mẹ.Hãy trả con cho tôi.

    Khi kể hai đoạn trên giáo viên phân vai các nhân vật (người dẫn chuyện,bà mẹ,Thần Chết,Hồ nước ) hướng dẫn học sinh nhập vai nhân vật. Học sinh nhớ lại chuyện kể lại đoạn chuyện thể hiện nhấn giọng từng từ ngữ:nhỏ xuống,tuôn rơi lã chã,hãy khóc đi, đôi mắt hóa thành hai hòn ngọc…giọng kể

    người mẹ điềm đạm,khiêm tốn nhưng cương quyết, tha thiết toát lên được sự sẳn lòng hi sinh của người mẹ trên đường đi tìm con .Nhân vật Thần Chết khi thấy người mẹ ngạc nhiên.Từng học sinh nhập vai nhân vật khi kể kết hơp mọi cử chỉ và thể hiện điệu bộ, nét mặt phù hợp với từng nhân vật .Giaó viên tổ chức cho các em thi kể chuyện theo nhóm,các nhóm nhập vai nhân vật và trình bày đoạn truyện như đã hướng dẫn.Đại diện từng nhóm thi kể, sau đó giáo viên và các nhóm nhận xét,đánh giá chọn ra nhóm kể hay nhất tuyên dương trước lớp

    Song song với việc dạy luyện đọc kể chuyện cho học sinh thì kĩ năng thực hành viết, nghe viết không kém phần quan trọng

    Giải pháp thứ hai:Thực hành luyện viết:

    Trong phần cơ sở lí luận chúng ta đã biết phương pháp luyện tập là rất cần thiết đối với học sinh Tiểu học. Thật vậy,trong giờ dạy tập viết,chính tả kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh được phải thể hiện thành kĩ năng, kĩ xảo.Muốn vậy, cần phải thường xuyên luyện tập thực hành cho học sinh. Việc luyện tập ở đây có nghĩa là luyện đọc và luyện viết.Khi học sinh luyện tập chữ viết giáo viên cần uốn nắn cách ngồi viết với nhiều hình thức luyện tập

    Tập viết chữ vào bảng con học sinh luyện tập viết bằng phấn hoặc bút bảng để trước khi viết vào vở, những chữ cái vần khó giáo viên hướng dẫn kĩ cách viết , những chữ viết chưa chính xác để dễ sữa chữa bằng dẻ lau, từ đó học sinh luyện viết vào vở. Muốn học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết giáo viên cần hướng dẫn tỉ mĩ nội dung và yêu cầu về kĩ năng . Viết ở từng bài ( mẫu chữ,các dấu chỉ khoảngcách giữa các chữ,dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét) giúp các em viết đủ,viết đúng số dòng quy định.

    Ngoài ra,giáo viên cho học sinh viết thêm các tiếng ngoài bài. cho học sinh viết càng nhiều càng tốt . Giáo viên có thể quán xuyến được lớp, bám sát học sinh .Giáo viên phân nhóm cho học sinh viết ở nhà, khi học sinh viết đúng được từ ngữ, câu, chuyển sang giai đoạn viết chính tả học sinh viết đúng một đoạn văn,bài thơ học sinh nhìn bảng giáo viên viết mẫu học sinh viết vào vở . Đối với những loại bài nghe viết học sinh viết một bài hoặc một đoạn văn dài trên 70 tiếng,học sinh viết đúng chính tả, trình bày chữ viết đẹp và cẩn thận. Khi dạy chính tả giáo viên đọc to chậm rãi từ ngữ,câu,phát âm đúng những từ ngữ học sinh hay mắc lỗi có phụ âm ( c/ k; g/gh; ng/ g; l/n; s/x ) Cùng với một số vần như ( an/ ang;ac/at; ưu/ ươu; ât/ ăc…)và những tiếng lẫn lộn giữa (dấu hỏi và dấu ngã ) để các em viết đúng. khi học sinh viết giáo viên cho học sinh đánh vần trước các âm,vần khó và luyện viết ở bảng con nhiều lần. khả năng một số em đọc tốtthì các em viếtnhanh, chính xác . Bên cạnh đó còn một số học sinh chưa đọc thành thạo, khả năng nghe và viết chưa tốt .Để giúp các em viết đúng chính tả giáo viên đọc chậm từng câu nhiều lần quan sát cách viết xem các em viết được chưa mà điều chỉnh khi đó các em mới hoàn thành bài viết . Cuối giờ chính tả, còn thời gian làm lại các bài tập phân biệt tiếng có âm đầu và vần để tạo thành tiếng, từ, viết đúng chính tả . Mục đích giúp các em viết đúng chính tả.

    Ngoài hai giải pháp vừa nêu trên,giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, biết nghe và trả lời câu hỏi phục vụ cho việc học tập và giao tiếp .

    Giải pháp thứ ba: Thực hành kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu khi nói và viết để học tốt môn luyện từ và câu và môn tập làm văn:

    Ở lớp 3, phân môn luyện từ và câu giúp các em mở rộng vốn từ,biết đặt các kiểu câu Ai là gì? Ai làm gì ? Ai thế nào? Và những bộ phận chính của các kiểu câu ấy. ngoài ra , có những bộ phận câu trả lời cho các câu hỏi khi nào? ở đâu ? như thế nào? Và các dấu câu,dấu chấm,dấu chấm hỏi,dấu chấm than,dấu phẩy…. ngoài ra dưạ vào khổ thơ đoạn văn tìm các hình ảnh so sánh hay nhân hóa.Khi dạy các dạng bài trên đặt câu thì giáo viên luôn hướng cho học sinh biết mỗidạng có cách đặt câu khác nhau .Khác ở cách dùng từ,nghĩa của các từ trong câu .Để hỏi và trả lời câu hỏi có nội dung cần gì ?

    Ví dụ :Tìm các bộ phận câu :

    -Trả lời câu hỏi Ai(cái gì,con gì) ?

    -Trả lời câu hỏi Làm gì ?

    a)Đàn Sếu đang sải cánh trên cao.

    b)Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về.

    c)Các em tới chỗ ông cụ,lễ phép hỏi.

    Giaó viên giúp học sinh nắm yêu cầu của bài.Đây là những câu đặt theo mẫu câu Ai làm gì ?nhiệm vụ các emlà tìm bộ phận câu trả lời cho câu hỏi ai(cái gì, con gì)và bộ phận câu trả lời cho câu hỏi làm gì ?)

    Sau đó giáo viên chỉ định từng cặp học sinh khá giỏi lên tìm ý a

    a)Đàn Sếu/đang sải cánh trên cao.

    Congì ? làm gì ?

    Giáo viên gọi học sinh nhận xét cặp bạn tìm đã chínhxác chưa ?

    Học sinh trả lời bạn làm đã chính xác rồi.

    Giaó viên chỉ định từng cặp học sinhlên tìm

    b)Sau một cuộc dạo chơi,đám trẻ/ ra về

    . Ai ? làm gì ?

    c) Em yêu nhà em

    Hàng xoan trước ngõ

    Hoa xao xuyến nở

    Như mây từng chùm

    Khi dạy bài trên giáo viên gọi học sinhđọc kĩ yêu cầu của bài,học sinh đọc lần lượt từng câu thơ.Giáo viên hướng dẫn trước hết các em tìm những hình ảnh sự vật hiện tượng ở trongkhổ thơ.sau đó,ta thấy các sự vật trên so sánh như thế nào?

    Từ đó,các em tìm sự vật được so sánh

    a)Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành

    b) Mùa đông, trời là cái tủ ướp lạnh

    Mùa hè,trời là cái bếp lò nung.

    Đạt Chưa đạt

    CK I 24(92,3%) 2 (7,7%)

    4KẾT LUẬN:

    Việc áp dụng một số giải pháp trong môn tiếng việt lớp 3 tôi đã đạt những bước tiến bộ rõ rệt.Học sinh tiếp thu bài nhanh, viết ít mắc lỗi chính tả,khả năng nhận biết các kiểu câu dễ dàng hơn so với trước.Cách diễn đạt ý văn trọn vẹn giúpngười đọc hiểu được vấn đề cần thể hiện trong bài.

    Các phương pháp phải được áp dụng một cách đồng bộ, thường xuyên và linh hoạt. Không có phương pháp nào là vạn năng và chẳng có phương pháp nào là tối ưu cả, mà tối ưu hay không là phụ thuộc chủ yếu vào cách sử dụng của GV vào điều kiện cụ thể của đối tượng HS lớp mình, tùy nội dung từng bài mà quyết định áp dụng một hay một số phương pháp thích hợp. GV cần lưu ý làm mới cách tổ chức các hoạt động học để luôn hấp dẫn các em.

    Giáo viên phải tận tụy, nhiệt tình, theo dõi sát sao từng HS, qua đó phát hiện những thiếu sót của từng em, tìm nguyên nhân, hướng khắc phục cho từng nhóm để có biện pháp giúp đỡ kịp thời; có hiệu quả, không nôn nóng, không vội vã để rồi quở trách HS.

    Cần có sự đánh giá, rút kinh nghiệm qua từng tháng, học kỳ để kịp thời điều chỉnh phương pháp nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.

    Phải có sự hỗ trợ, phối hợp giúp đỡ từ phía phụ huynh HS để việc áp dụng các biện pháp được thuận lợi, có hiệu quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Và Các Hình Thức Nhân Hoá
  • Các Quy Tắc Phân Biệt Chính Tả Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Phân Biệt L/n, Ng/ngh Và G/gh Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Đề Thi Môn Tiếng Việt Lớp 3 Hki Theo Tt 22
  • Đề Thị Môn Tiéng Việt Lớp 3 Học Kỳ 1 2022
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Ứng Dụng Cntt Vào Dạy Tiếng Việt
  • Ứng Dụng Cntt Vào Dạy Tiếng Việt Udcnttvodytv Ppt
  • Ứng Dụng Công Nghệ Vào Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Từ Điển Hán Việt: Cách Tra Chuẩn Xác Nhất Cho Người Mới Bắt Đầu ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • 7 Cách Nhớ Chữ Hán Và Cách Học Chữ Hán Nhanh, Dễ Nhớ Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo các thế hệ học sinh thành những con người năng động,sáng tạo trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .Những con người biết tiếp thu tri thức khoa học kĩ thuật hiện đại, biết vận dụng tìm ra các giải pháp,phương pháp hợp lí cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội .Thì giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu .Nhờ có giáo dục mới đào tạo các thế hệ tương lai của đất nước . Để đạt được những thành quả nói trên,các em phải trải qua các cấp học từ mẫu giáo đến đại học và sau đại học vì vậy môn tiếng việt ở tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh .Mục tiêu của môn tiếng việt là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt (đọc,viết , nghe ,nói ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của trẻ. Thông qua việc dạy và học tiếng việt góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng việt và những hiểu biết về xã hội, tự nhiên và con người, nền văn học Việt Nam và nước ngoài.Đồng thời bồi dưỡng tình yêu tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng việt góp phần hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Chương trình tiếng việt lớp 3 các em phải học gồm 6 phân môn . Mỗi phân môn có một nhiệm vụ quan trọng, đối với phân môn tập đọc chủ yếu là rèn cho học sinh các kĩ năng đọc:đọc thành tiếng và đọc hiểu nghe và nói.Bên cạnh đó thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm, Các em đọc đúng và đọc trôi chảy,rành mạch câu, đoạn, bài và biết được cách đọc thầm hiểu được nội dung chính của bài nhằm khai thác nội dung bài đọc cung cấp cho các em những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người,cung cấp vốn từ, cách diễn đạt những tác phẩm văn học như đề tài,cốt truyện,nhân vật,góp phần hình thành nhân cách học sinh.Phân môn luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng việt bằng con đường quy nạp và kĩ năng dùng từ đặt câu khi nói và viết bỗ sung thêm từ ngữcho phần đọc.phân môn chính tả chủ yếu rèn cho học sinh viết chữ hoa,viết được đoạn văn,khổ thơ bằng cách nghe viết,hoặc nhớ viết,các emviết đúng chính tả,trình bày sạch sẽ.Bên cạnh đó, học sinh phải làm một số bài tập để nắm vững từ ngữ và biết cách dùngtừ đặt câu cho phù hợp.Phân môn tập làm văn giúp học sinh biết làm mẫu đơn theo hướng dẫn,viết được đoạn văn tả ngắn về người thân,biết diễn đạt ý trọn vẹn,

    Ở phần đọc yêu cầu các em đọc đúng,rõ ràng rành mạch các đoạn đối thoại,các văn bản nghệ thuật, hành chính báo chí,tốc độ đọc nhanh hơn lớp 2.Biết dựa vào câu hỏi trả lời ýchính của bài,biết nhận xét một số hình ảnh nhân vật hoặc đặt tên cho đề bài cốt truyện, biết kể chuyện từng đoạn dựa vào phần gợi ý ở sách giáo khoa.Ở phần viết yêu cầu các em viết đúng chính tả rõ ràng,biết tìm hình ảnh so sánh,nhân hóa trong khổ thơ,đoạn văn.Qua thực dạy trên lớp,tôi nhận thấymột số học sinh vẫn học chưa tốt các em đọc và viết thể hiện ý vănchưa trọn vẹn,dùng từ đặt câuchưa đúng,viết chưa chính xác từ ngữ. vì vậy tôi mạnh dạn viết ra đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 3”

    2) NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC THỰC HIÊN GIẢI PHÁP BIỆN PHÁP :

    Để học tốt môn tiếng việt,trước hết các em phải đọc và viết tốt,nói và viết cho trọn câu,dùng từ đặt câu cho phù hợp biết dùng các dấu câu trong đoạn văn phù hợp với nội dung cần thể hiện.Biết nghe và khi nhận thông tin xử lí thông tin nhanh chống .Vì vậy những nội dung tôi quan tâm nghiên cứu thực hiện đó là:

    Giải pháp thứ nhất: Dạy học sinh biết thể hiện giọng điệu ngắt nghỉ,đọc đúng,đọc trơn câu văn,đoạn văn,bài thơ và trả lời câu hỏi trong giờ tập đọcvà kết hợp cử chỉ điệu bộ khi kể chuyện.

    Khi dạy bài tập đọc hay bài học thuộc lòng trong chương trình tiếng việt lớp ba,trước hết giáo viên phải bám vào mục đích yêu cầu của bài soạn,bám vào chuẩn kiến thức kĩ năng.Trong giờ dạy tập đọc chủ yếu rèn luyên cho học sinh hai kĩ năng: Kĩ năng đọc thành tiêng và kĩ năng đọc hiểu.Đối với từng bài dạy khi mở bài giáo viên dùng tranh ảnh,vật thật để giới thiệu bài có nội dung hướng học sinh vào bài học hôm nay,khi đọc giáo viên đọc mẫu bài giọng đọc rõ ràng,đọc đúng từng câu biết cách ngắt nghỉ sau những câu văn có cụm từ dài hay sau những dấu câu.Biết nhấn giọng những câu đối thoại giữa nhân vật hay sự vật hiện tượng một cách tự nhiên không bị gò bó tạo cho học sinh thấy được sự hấp dẫn ở phần đọc.Sau đó người giáo viên điều khiển cách đọc cho học sinh,học sinh biết dấu hiệu một câu,dấu hiệu một đoạn,hay một bài thơ có mấy khổ thơ.Khi đọc các em phải đọc ngắt, nghỉ ở dấu câu,đọc đúng từ ngữ trong câu .

    Chẳng hạn,trong quá trình học học sinh hay mắc lỗi đọc từ có phụ âm / và vần iêt/ iêc; oi/ oai; ưu/ ươu; ât/âc; um/uôm….. Để đọc đúng các âm vần trong từ ngữ thì giáo viên phải dùng phương pháp làm mẫu phối hợp răng, lưỡi, miệng để học sinh quan sát cách phát âm của giáo viên mà đọc.Ngoài ra giáo viên dùng các đồ dùng trực quan để đi sâu khai thác kênh hình và kết hợp kênh chữ gây hứng thú học tập cho các em .Khi đọc đoạn văn có nhiều câu đối thoại của nhân vật hay những câu có dấu chấm than thì giáo viên phải nhấn giọng để tạo ra hình ảnh gợi hình gợi cảm lôi cuốn người đọc.Trong khi luyện đọc cho học sinh giáo viên theo dõi cách đọc câu,đoạn, cách ngắt nghỉ trong câu để phát hiệncáichưa chính xác,kịp thời sửa cho các em.Giaó viên không để cho học sinh đọc tự do,mà phải hướng dẫncho các em đọc . Học sinh đọc phần luyện đọc thì tiếp đến giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài, những bài có câu hỏi khó giáo viên có thể tách ra những câu hỏi nhỏ và gợi ý cho các em trả lời tránh tình trạng dùng câu hỏi lặp đi lặp lại nhiều lần để hỏi học sinh .Gây hứng thú cho các em khi trả lời nội dung câu hỏi.Giáo viên phải đầu tư cả hình thức nội dung để tiết học có hiệu quả chọn phương pháp sử dụng cho phù hợp mang lại kiến thức mới cho học sinh đạt hiệu quả nhất.Khi luyện đọc lại bài thường đọc theo cách phân vai có thể các em chọn vai và nhập vai đọc chọn vai và nhập vai theo nhân vật có thể các em chọn vai và đọc thành từng nhóm.Nhóm nào đọc tốt nhất thì đọc mẫu,giáo viên nhận xét sau đó rút kinh nghiệm để các nhóm đọc chưa chính xác thì đọc chính xác hơn .Cho các nhóm thi đọc lại với nhau rồi tự nhận xét giữa các nhóm và giáo viên nhận xét đánh giá khả năng đọc của từng nhóm .

    * VÍ DỤ: Tập đọc: Người mẹ ( SGK Trang 39 tập một lớp3 )

    Giaó viên hướng dẫn cách đọc đoạn trên: cách ngắt,nghỉ ở chỗ câu có dấu phẩy thì nghỉ ngắn hơi hơn so với dấu chấm và ngắt nghỉ nhấn giọng đúng chỗ ở câu hỏi và câu trả lời của nhân vật . Thể hiện giọng đọc các nhân vật(bà mẹ,Thần Chết,Người dẫn chuyện: Giaó viên hướng dẫn giọng đọc từng nhân vật như sau giọng Thần chết ngạc nhiên,giọng người mẹ khi nói câu: vì tôi là mẹ giọng điềm đạm khiêm tốn, khi yêu cầu Thần Chết: Hãy trả con cho tôi giọng dứt khoát. – Thấy bà/Thần Chết ngạc nhiên/hỏi://

    .- Làm sao ngươi có thể tìm đếntận nơi đây/

    Sau khi đã hướng dẫn đoạn văn trên, giáo viên cho học sinh đọc cá nhân, chú ý cách đọc của từng học sinh, học sinh đọc chưa chính xác từ ngữ, cách nhấn giọng giữa nhân vật, giáo viên hướng dẫn lại cho học sinh đọc lại đoạn đó, từ đó khắc phục học sinh đọc và đọc chính xác.

    Giáo viên tổ chức cho học sinh đọc cách phân vai các nhân vật, rồi phân học sinh thành bốn nhóm cho các nhóm luyện đọc.Sau đó gọi từng nhóm lên đọc các nhóm còn lại theo dõi nhận xét -đánh giá để các em rút kinh nghiệm.Cuối giờ luyện đọc cả lớp bình bầu nhóm bạn đọc hay nhất tuyên dươngvà khen thưởng.

    Bên cạnh giờ tập đọc,có nửa tiếtdành cho kể chuyện,chủ yếu ở tiết này rèn kĩ năng nói:Dựa vào các gợi ý trong sách giáo khoa học sinh biết nhập vai kể lại được từng đoạn của câu chuyện theo lời nhân vật.Các em biết thay đổi giọng kể phù hợp với nội dung,biết phối hợp lời kể với điệu bộ,nét mặt.

    Rèn kĩ năng nghe:Chăm chú theo dõi bạn kể chuyện,biết nhận xét đánh giá lời kể của bạn,kể tiếp được lời kể của bạn.

    Ví dụ: Kể lại đoạn ba và đoạn bốn trong bài ” Người mẹ”

    Đoạn 3. Bà đến một hồ lớn.Không có một bóng thuyền.Nước hồ quá sâu.Nhưng bà nhất định vượt qua hồ để tìm con .Hồ bảo:

    – Tôi sẽ giúp bà,nhưng bà phải cho tôi đôi mắt .Hãy khóc đi,cho đến khi đôi mắt rơi xuống.

    Bà mẹ khóc,nước mắt tuôn rơi lã chã,đến nổi đôi mắt theo dòng lệ rơi xuống hồ,hóa thành hai hòn ngọc.Thế là bà được đưa đến nơi ở lạnh lẽo của Thần Chết.

    Đoạn 4. Thấy bà thần chết ngạc nhiên ,hỏi:

    Khi kể hai đoạn trên giáo viên phân vai các nhân vật (người dẫn chuyện,bà mẹ,Thần Chết,Hồ nước ) hướng dẫn học sinh nhập vai nhân vật. Học sinh nhớ lại chuyện kể lại đoạn chuyện thể hiện nhấn giọng từng từ ngữ:nhỏ xuống,tuôn rơi lã chã,hãy khóc đi, đôi mắt hóa thành hai hòn ngọc…giọng kể

    người mẹ điềm đạm,khiêm tốn nhưng cương quyết, tha thiết toát lên được sự sẳn lòng hi sinh của người mẹ trên đường đi tìm con .Nhân vật Thần Chết khi thấy người mẹ ngạc nhiên.Từng học sinh nhập vai nhân vật khi kể kết hơp mọi cử chỉ và thể hiện điệu bộ, nét mặt phù hợp với từng nhân vật .Giaó viên tổ chức cho các em thi kể chuyện theo nhóm,các nhóm nhập vai nhân vật và trình bày đoạn truyện như đã hướng dẫn.Đại diện từng nhóm thi kể, sau đó giáo viên và các nhóm nhận xét,đánh giá chọn ra nhóm kể hay nhất tuyên dương trước lớp

    Song song với việc dạy luyện đọc kể chuyện cho học sinh thì kĩ năng thực hành viết, nghe viết không kém phần quan trọng

    Trong phần cơ sở lí luận chúng ta đã biết phương pháp luyện tập là rất cần thiết đối với học sinh Tiểu học. Thật vậy,trong giờ dạy tập viết,chính tả kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh được phải thể hiện thành kĩ năng, kĩ xảo.Muốn vậy, cần phải thường xuyên luyện tập thực hành cho học sinh. Việc luyện tập ở đây có nghĩa là luyện đọc và luyện viết.Khi học sinh luyện tập chữ viết giáo viên cần uốn nắn cách ngồi viết với nhiều hình thức luyện tập

    Tập viết chữ vào bảng con học sinh luyện tập viết bằng phấn hoặc bút bảng để trước khi viết vào vở, những chữ cái vần khó giáo viên hướng dẫn kĩ cách viết , những chữ viết chưa chính xác để dễ sữa chữa bằng dẻ lau, từ đó học sinh luyện viết vào vở. Muốn học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết giáo viên cần hướng dẫn tỉ mĩ nội dung và yêu cầu về kĩ năng . Viết ở từng bài ( mẫu chữ,các dấu chỉ khoảngcách giữa các chữ,dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét) giúp các em viết đủ,viết đúng số dòng quy định.

    Ngoài ra,giáo viên cho học sinh viết thêm các tiếng ngoài bài. cho học sinh viết càng nhiều càng tốt . Giáo viên có thể quán xuyến được lớp, bám sát học sinh .Giáo viên phân nhóm cho học sinh viết ở nhà, khi học sinh viết đúng được từ ngữ, câu, chuyển sang giai đoạn viết chính tả học sinh viết đúng một đoạn văn,bài thơ học sinh nhìn bảng giáo viên viết mẫu học sinh viết vào vở . Đối với những loại bài nghe viết học sinh viết một bài hoặc một đoạn văn dài trên 70 tiếng,học sinh viết đúng chính tả, trình bày chữ viết đẹp và cẩn thận. Khi dạy chính tả giáo viên đọc to chậm rãi từ ngữ,câu,phát âm đúng những từ ngữ học sinh hay mắc lỗi có phụ âm ( c/ k; g/gh; ng/ g; l/n; s/x ) Cùng với một số vần như ( an/ ang;ac/at; ưu/ ươu; ât/ ăc…)và những tiếng lẫn lộn giữa (dấu hỏi và dấu ngã ) để các em viết đúng. khi học sinh viết giáo viên cho học sinh đánh vần trước các âm,vần khó và luyện viết ở bảng con nhiều lần. khả năng một số em đọc tốtthì các em viếtnhanh, chính xác . Bên cạnh đó còn một số học sinh chưa đọc thành thạo, khả năng nghe và viết chưa tốt .Để giúp các em viết đúng chính tả giáo viên đọc chậm từng câu nhiều lần quan sát cách viết xem các em viết được chưa mà điều chỉnh khi đó các em mới hoàn thành bài viết . Cuối giờ chính tả, còn thời gian làm lại các bài tập phân biệt tiếng có âm đầu và vần để tạo thành tiếng, từ, viết đúng chính tả . Mục đích giúp các em viết đúng chính tả.

    Ngoài hai giải pháp vừa nêu trên,giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, biết nghe và trả lời câu hỏi phục vụ cho việc học tập và giao tiếp .

    Giải pháp thứ ba: Thực hành kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu khi nói và viết để học tốt môn luyện từ và câu và môn tập làm văn:

    Ở lớp 3, phân môn luyện từ và câu giúp các em mở rộng vốn từ,biết đặt các kiểu câu ? ? ? Và những bộ phận chính của các kiểu câu ấy. ngoài ra , có những bộ phận câu trả lời cho các câu hỏi khi nào? ở đâu ? như thế nào? Và các dấu câu,dấu chấm,dấu chấm hỏi,dấu chấm than,dấu phẩy…. ngoài ra dưạ vào khổ thơ đoạn văn tìm các hình ảnh so sánh hay nhân hóa.Khi dạy các dạng bài trên đặt câu thì giáo viên luôn hướng cho học sinh biết mỗidạng có cách đặt câu khác nhau .Khác ở cách dùng từ,nghĩa của các từ trong câu .Để hỏi và trả lời câu hỏi có nội dung cần gì ?

    Ví dụ :Tìm các bộ phận câu :

    -Trả lời câu hỏi Ai(cái gì,con gì) ?

    a)Đàn Sếu đang sải cánh trên cao.

    b)Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về.

    c)Các em tới chỗ ông cụ,lễ phép hỏi.

    Giaó viên giúp học sinh nắm yêu cầu của bài.Đây là những câu đặt theo mẫu câu Ai làm gì ?nhiệm vụ các emlà tìm bộ phận câu trả lời cho câu hỏi ai(cái gì, con gì)và bộ phận câu trả lời cho câu hỏi làm gì ?)

    Sau đó giáo viên chỉ định từng cặp học sinh khá giỏi lên tìm ý a

    Giáo viên gọi học sinh nhận xét cặp bạn tìm đã chínhxác chưa ?

    Học sinh trả lời bạn làm đã chính xác rồi.

    Giaó viên chỉ định từng cặp học sinhlên tìm

    Giáo viên và cả lớp nhận xét, tuyên dương.

    Cách dạy các kiểu câu còn lại giáo viên luôn hướng học sinh hiểu cách nói của từng vế câu khơi dậy cho học sinh thấy được được sự khác nhau giữa các kiểu câu.Học sinh dựa vào một số câu mẫu tập nói và đặt câu phù hợp tương ứng với từng loại kiểu câu .

    Khi học sinh đặt thành câu nói và viết thành đoạn thì lúc này biết dùng các dấu câu để phân biệt từng ý và nội dung của mỗi ý cho phù hợp.Các em biết cách dùng các dấu để ngắt nghỉ khi đọc hoặc khi viết .

    : Em chọn dấu chấm hay dấu chấm hỏi để điền vào ô trống ?

    Nam nhờ chị viết thư thăm ông bà vì em vừa mới vào lớp2,chưa viế tthành thạo ……Viết thư xong, chị hỏi :

    – Em muốn còn nói thêm gì nữa không ……

    – Dạ có …….. Chị viết hộ em vào cuối thư : ” Xin lỗi ông bà vì chữ cháu xấu và nhiều lỗi chính tả .”

    Học sinh dựa vào đoạn văn trên biết cách dùng dấu câu để đặt vào ô trống sao cho đúng với từng câu tương ứng với mỗi ô trống .Học sinh làm đúng đoạn văn giáo viên gọi từng em đọc thể hiện cách đọc sau mỗi câu có dùng dấu chấm hay dấu chấm hỏi.

    Nam nhờ chị viết thư thăm ông bà vì em vừa mới vào lớp 2,chưa t viết thành thạo ……Viết thư xong, chị hỏi :

    – Em muốn còn nói thêm gì nữa không ……

    – Dạ có …….. Chị viết hộ em vào cuối thư : ” Xin lỗi ông bà vì chữ cháu xấu và nhiều lỗi chính tả .”

    Sau khi học sinh làm xong bài tập trên giáo viên gọi học sinh thể hiện cách đọc và đọc lại đoạn văn trên rồi giáo viên nhận xét, sửa bài.

    Ngoài kĩ năng dùng từ đặt câu phân biệt các kiểu câu,sử dụng dấu câu trong đoạn văn các em biết tìm những hình ảnh so sánh,nhân hoá các sự vật, hiện tượng gần gũi trong cuộc sống như nụ hoa hồng, cánh diều,cái đĩa, áng mây…

    Chẳng hạn,khi dạy môn luyện từ và câu:Tên bài. so sánh-dấu chấm

    Yêu cầu của tiết này tìm được những hình ảnh so sánh trong các câu thơ,câu văn.Nhận biết các từ chỉ sự so sánh

    a)Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành

    Mùa hè,trời là cái bếp lò nung.

    Hàng xoan trước ngõ

    Hoa xao xuyến nở

    Như mây từng chùm

    Khi dạy bài trên giáo viên gọi học sinhđọc kĩ yêu cầu của bài,học sinh đọc lần lượt từng câu thơ.Giáo viên hướng dẫn trước hết các em tìm những hình ảnh sự vật hiện tượng ở trongkhổ thơ.sau đó,ta thấy các sự vật trên so sánh như thế nào?

    Từ đó,các em tìm sự vật được so sánh

    Hàng xoan trước ngõ

    Học sinh học tốt môn luyện từ và câu thì phân môn tập làm văn giúp các em biết dùng lời nói phù hợpvới hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt gia đình, sinh hoạt tập thể,biết giới thiệu các thành viên các hoạt động của tổ;biết viết đơn viết được bức thư ngắn để báo tin tức hỏi thăm sức khỏe người thân trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa tinh thần trách nhiệm trong công việc.

    Ví dụ:kể về gia đình em với một người bạn mới quen.

    Yêu cầu của đề văn trêncác em chỉ cần nói 5đến 7câu giới thiệu về gia đình em.

    .Gia đình em có bao nhiêu người,bố mẹ em làm nghề gì?Gia đình em sống có thương yêu nhau và hòa thuận không? Dựa vào các gợi ý trêncác em viết thành đoạn văn trình bày đủ ý để trao đổi với bạn. Ngoài kĩ năng xây dựng đoạn văn còn giúp các em dựa vàomẫu đơn đã có mẫu sẵn để viết một mẫu đơn như:Đơn xin phép nghỉ học, đơn xin vào đội, đơn xin cấp thẻ đọc sách…Để viết một mẩu đơn các em nắm được trình tự của lá đơn, viết đúng theo trình tự và chính xác

    Để học tốt môn tiếng việt ngoài việc dùng các biện pháp luyện đọc đúng,viết đúng,thực hành luyện viết,giáo viên còn dùng biện pháp Tổ chức trò chơi.

    Giải pháp thứ tư : Tổ chức trò chơi trong quá trình dạy học :

    Giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức được học ,mở rộng vốn từ ,khắc sâu kiến thức được học , nắm chắc âm, vần biết vận dụng vào từng trường hợp cụ thể .

    Tạo môi trường để rèn luyện sự linh hoạt, nhạy bén, có thói quen phản ứng nhanh cho học sinh giúp các em mạnh dạn trước tập thể

    Thông qua trò chơi tạo không khí thi đua sôi nổi trong mỗi tiết học,làm cho tiết học nhẹ nhàng và sôi nổi đem lại kết quả tốt .

    Tổ chức trò chơi phải phù hợp với thời điểm của từng tiết dạy .

    Nộidung chơi phải đảm bảo kiến thức về mặt kĩ năng theo chuẩn kiến thức,các yêu cầu về kiến thức phải có tính hệ thống .

    Trò chơi phải phù hợp, vừa sức ,không quá khó phải thu hút được sự ham thích của học sinh .Trò chơi phát huy được tinh thần tập thể, kích thích được tính thi đua học tập, giúp học sinh tăng khả năng khi nhận thông tin và giải quyết thông tin nghe,nói,đọc,viết.

    * Phương pháp tiến hành:

    Tổ chức trò chơi dẫn dắt các em chiếm lĩnh kiến thức mới cần đạt lúc đó để củng cố hệ thống hóa kiến thức trong một bài hay một chương.Giaó viên cần phổ biến tên trò chơi,nội dung chơi, vật dụng phục vụ cho trò chơi,luật chơi, trước khi phổ biến trò chơi ,nên cho các em chơi thử để các em tự tin .

    Mục tiêu: Giúp học sinh chọn tiếng đã học ghép vào chổ trống để tạo thành từ ngữ có nghĩa( Trong phần bài tập,cuối giờ viết chính tả)

    Cách chơi : Giáo viên chọn hai đội chơi,lớp cử đại diện mỗi đội 03 bạn đặt tên cho đội mình.Trong vòng một phút hai đội thi đua tìm tiếng phù hợp và điền vào chỗ trống theo thứ tự từng tiếng tương ứng rồi ghi trên bảng lớp.Hết thời gian mỗiđội cử đại diện của đội mình lên.đọc kết quả đã ghi cả lớp bổ sung và nhận xét.giáo viên đánh giá, nhận xét hai đội và kết luận đội thắng cuộc và tuyên dương đề nghị các bạn cho tràng vỗ tay khích lệ hai đội .

    Bài tập : Em chọn chữ nào trong ngoặc đơnđể điền vào chỗ trống?

    b)khẻo hay khoẻo): người lẻo …

    * Hai đội thi điền được kết quả như sau:

    Mục tiêu: Giúp học sinh biết chon những tiếng đã cho ghép lại với nhau để tao thành từ mới có nghĩa tương đương nhau ( môn luyện từ và câu)

    Chuẩn bị phấn viết ,bảng con ,giẻ lau.

    Cách chơi: Giáo viên cho học sinh chơi cá nhân,trong vòng một phút, học sinh chọn tiếng ghép vào tiếng đã cho để tạo thành từ ngữ có nghĩa gần giống nhau để ghi vào bảng con hết thời gian học sinh trình bày,em nào ghép đúng giáo viên chọn gắn lên bảng .

    Đánh giá Tìm và ghép được tiếng trong bài

    Bàì4 Tìm những từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống:

    1. a) Công cha nghĩa mẹ ơn….
    2. b) Trời mưa đường đất sét trơn như…
    3. c) Ở thành phố có nhiều tòa nhà cao…

    Học sinh tìm các tiếng thích hợp viết vào bảng con những từ cần điền là: Thầy; bôi mỡ; tầng.

    Học sinh tìm từ điền vào câu đúng, giáo viên nhận xét tuyên dương.

    3, KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM

    Sau thời gian sử dụng các biện pháp trên, trong giờ day các phân môn ở sách tiếng việt lớp 3 tôi thấy không khí lớp học sôi nổi,khơi dậy tính tích cực của các em, đặc biệt các kĩ năng đọc, viết, các em chưa đạt ngày càng tiến bộ.

    Giúp các em mạnh dạn, tự tin trong học tập, tinh thần đồng đội ,tình thầy trò tình bạn bè được phát triển:

    *Chất lượng cụ thể qua các lần kiểm tra như sau:

    Nói chung, đến nay hầu hết các em học sinh chưađạtcó sự tiến bộ rõ rệt .Bên cạnh đó vẫn còn một vài em còn đọc chậm,viết chậm , dự kiến tiếp tục rèn luyện đến cuối năm học

    Việc áp dụng một số giải pháp trong môn tiếng việt lớp 3 tôi đã đạt những bước tiến bộ rõ rệt.Học sinh tiếp thu bài nhanh, viết ít mắc lỗi chính tả,khả năng nhận biết các kiểu câu dễ dàng hơn so với trước.Cách diễn đạt ý văn trọn vẹn giúpngười đọc hiểu được vấn đề cần thể hiện trong bài.

    Các phương pháp phải được áp dụng một cách đồng bộ, thường xuyên và linh hoạt. Không có phương pháp nào là vạn năng và chẳng có phương pháp nào là tối ưu cả, mà tối ưu hay không là phụ thuộc chủ yếu vào cách sử dụng của GV vào điều kiện cụ thể của đối tượng HS lớp mình, tùy nội dung từng bài mà quyết định áp dụng một hay một số phương pháp thích hợp. GV cần lưu ý làm mới cách tổ chức các hoạt động học để luôn hấp dẫn các em.

    Giáo viên phải tận tụy, nhiệt tình, theo dõi sát sao từng HS, qua đó phát hiện những thiếu sót của từng em, tìm nguyên nhân, hướng khắc phục cho từng nhóm để có biện pháp giúp đỡ kịp thời; có hiệu quả, không nôn nóng, không vội vã để rồi quở trách HS.

    Cần có sự đánh giá, rút kinh nghiệm qua từng tháng, học kỳ để kịp thời điều chỉnh phương pháp nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.

    Phải có sự hỗ trợ, phối hợp giúp đỡ từ phía phụ huynh HS để việc áp dụng các biện pháp được thuận lợi, có hiệu quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Kỹ Năng Dạy Tiếng Việt Lớp 3
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Phần Mềm Học, Dạy Tiếng Việt Lớp 2
  • Sách Tiếng Việt Lớp 1 Mới: Thay Đổi Cách Dạy Chữ, Chú Trọng Giáo Dục Chủ Quyền Biển Đảo
  • 8+ Cách Dạy Con Học Lớp 1 Tại Nhà (Học Chữ, Tập Đọc)
  • Những Phương Pháp Hay Khi Dạy Tiếng Việt Lớp 1
  • Tiếng Việt Trong Mắt Một Người Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tốt Tiếng Anh Để Làm Gì?
  • Học Tiếng Anh Để Làm Gì
  • Quên Tiếng Anh Đi, Đây Mới Là 5 Thứ Tiếng Bạn Cần Học Trong Năm 2022
  • Ngoài Tiếng Anh Thì Nên Học Gì?
  • Người Đi Làm Tất Bật Học Tiếng Anh
  • Từ góc độ một người ưa dịch chuyển, biết nhiều thứ tiếng, bao gồm tiếng Việt, George Millo đã chỉ ra quan niệm có phần sai lầm của nhiều người về ngôn ngữ này. Anh đưa ra những so sánh thú vị của tiếng Việt với tiếng Anh – tiếng mẹ đẻ của mình và một vài ngôn ngữ khác như Tây Ban Nha, Pháp để chỉ rõ những ưu điểm của tiếng Việt.

    Nếu hỏi một người Việt Nam về ngôn ngữ của họ, bạn sẽ nhận được câu trả lời “rất khó”. Đây gần như là quan điểm chung của khoảng 90 triệu người dân quốc gia này và họ còn vui vẻ khi nói với bạn rằng “tiếng Việt khó” (Vietnamese is hard) bất kỳ lúc nào. Vì vậy, khi nghĩ đến học tiếng Việt, bạn gần như cảm thấy mất tinh thần. Tuy nhiên, tôi sẽ mang đến có bạn một cái nhìn tích cực hơn về ngôn ngữ này. Tiếng Việt có thể dễ hơn so với những gì các bạn nghĩ.

    Điều không thể chối cãi là với sáu tông giọng và quá nhiều nguyên âm khác với tiếng Anh, phát âm tiếng Việt là việc khó khăn. Nhưng phần lớn những người ở Việt Nam chỉ trong vòng một năm sẽ nhận ra phát âm là điều duy nhất gây trở ngại trong tiếng Việt, những yếu tố khác đều rất dễ – đặc biệt khi so sánh với phần lớn các ngôn ngữ châu Âu khác.

    Tiếng Việt không có giống đực và cái

    Nếu từng học tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Đức hay gần như bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào ngoại trừ tiếng Anh, bạn sẽ thở phào nhẹ nhõm vì tiếng Việt không có khái niệm giống đực hay cái cho các từ vựng. Bạn chỉ cần ghi nhớ mỗi từ mà không cần thiết phải học thuộc lòng thêm điều gì.

    Tiếng Việt bỏ qua mạo từ “a”, “the”

    Nếu một người nước ngoài học tiếng Anh và hỏi bạn khi nào dùng “a” và “the”, bạn có giải thích cặn kẽ được không? Đây là một vấn đề phức tạp, thậm chí bài viết nói về mạo từ trên trang Wikipedia còn dài hơn 2.500 chữ.

    Tuy nhiên, dùng “a”, “the” trước một chủ thể có thực sự quan trọng? Một cách đơn giản hơn, bạn có thể loại bỏ chúng đi vì sự việc vốn hiển nhiên, người nghe cũng có thể hiểu ý bạn mà không cần thêm mạo từ. Đó chính xác là điều người Việt vẫn làm. “Người” là từ có nghĩa “a person” (người nào đó) lẫn “the person” (chính người đó) mà người nghe vẫn không lo lắng nhầm lẫn.

    Tiếng Việt không có số nhiều

    Trong tiếng Anh, khi muốn chỉ thứ gì đó ở số nhiều, chúng ta thường thêm “s” vào cuối từ đó. Như vậy, “dog” thành “dogs”, “table” thành “tables” và “house” thành “houses”. Tuy nhiên, nhiều ngoại lệ tồn tại như “person” thành “people”, “mouse” thành “mice”, “man” thành “men” và một số từ như “sheep” hay “fish” lại chẳng thay đổi gì.

    Trong tiếng Việt, mọi từ ngữ đều như “sheep” – con cừu. Từ “người” tôi nêu trên, còn có thể sử dụng giống như “people” hay “person”, “chó” là “dog” hoặc “dogs”, “bàn” là “table” hoặc “tables”… Nếu thắc mắc rằng điều này có gây nên sự nhầm lẫn, bạn hãy tự hỏi bản thân mình, đã bao giờ nghe ai đó kể về “con cừu đó”, “con chó đó” và bối rối vì không viết họ đang nhắc đến bao nhiều con vật trong câu chuyện đó hay không?

    Nếu cần thông tin chi tiết, bạn chỉ cần dễ dàng thêm một từ trước danh từ đó, giống như “một người” (one person), “những người” (some people) hay “các người” (all the people).

    Tiếng Việt không có các dạng khác nhau của động từ

    Thật đáng thương cho những người học tiếng Tây Ban Nha khi nói những từ đơn giản như “hablar” (nói), họ vẫn phải học 5 hoặc 6 dạng khác nhau (tùy thuộc địa phương) để thể hiện chính xác thể của động từ này. “I hablo”, “you hablas”, “he habla”, “we hablamos” và danh sách này vẫn chưa hết. Một động từ trong tiếng Tây Ban Nha có thể bao gồm 50 dạng (form) khác nhau mà người học phải ghi nhớ.

    Tiếng Anh không giống tiếng Tây Ban Nha nhưng một từ cũng bao gồm nhiều dạng khác nhau tùy thuộc ngữ cảnh. Chẳng hạn, động từ “speak” có thể biến cách (inflect) thành “speaks”, “speaking”, “spoken” hay “spoke”.

    Tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn không biến cách – không từ ngữ nào đổi dạng trong bất kỳ ngữ cảnh nào. Ví dụ, “speak” trong tiếng Việt là “nói” và bạn luôn dùng “nói trong mọi trường hợp – “I nói”, “you nói”, “he nói”, “she nói”, “we nói”, “you nói” và “they nói”. Điều này có thể tiết kiệm hàng chục, thậm chí hàng trăm giờ học thuộc so với một thứ tiếng châu Âu.

    Thì của tiếng Việt có thể học xong trong 2 phút

    Bạn chỉ cần thêm 5 từ được liệt kê sau đây vào phía trước động từ ban đầu để diễn tả thì mong muốn: “đã” – trong quá khứ, “mới” – vừa xong, gần với hiện tại hơn với “đã”, “đang” – ngay bây giờ, tương lai gần , “sắp” – tương lai gần, “sẽ” – trong tương lai.

    Thì tiếng Việt thực sự quá dễ. Ngoài 5 từ trên, bạn có một số từ khác, nhưng chỉ cần 5 từ này, bạn có thể diễn đạt đúng tới 99% trường hợp. Tôi sẽ cho bạn một vài ví dụ:

    – Tôi ăn cơm = I eat rice

    – Tôi đã ăn cơm = I ate rice

    – Tôi mới ăn cơm = I have just eaten rice

    – Tôi đang ăn cơm = I am eating rice (right now)

    – Tôi sắp ăn cơm = I am going to eat rice, I am about to eat rice

    – Tôi sẽ ăn cơm = I will eat rice.

    Hơn nữa, bạn còn có thể bỏ qua những từ này nếu ngữ cảnh câu đã đủ rõ ràng. Chẳng hạn, “Tôi ăn cơm hôm qua” giống như “I eat rice yesterday” – từ “hôm qua” đã thể hiện điều trong quá khứ rồi, từ “đã” không cần thiết nữa nên câu này hoàn toàn đúng ngữ pháp trong tiếng Việt còn “I eat rice yesterday” lại sai ngữ pháp hoàn toàn với tiếng Anh.

    Bạn không phải học bảng chữ cái mới

    Bạn nên cảm ơn người Pháp vì điều này. Cách đây khoảng 100 năm, một bộ phận người Việt vẫn dùng một hệ thống chữ tượng hình phức tạp được gọi là “chữ Nôm”, có ký tự giống tiếng Trung Quốc bây giờ. Ngày nay, điều đó đã được thay đổi 100% bởi bảng chữ cái Latinh, được gọi là chữ Quốc ngữ. Vì thế, không như với tiếng Quan Thoại, Quảng Đông, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Hàn Quốc hay hàng chục ngôn ngữ châu Á khác, bạn không cần học bảng chữ cái. Tất cả những thứ bạn cần là thêm các dấu (diacritic) để làm rõ tông giọng và bạn có thể đọc tiếng Việt ngay.

    Cách phát âm từ tiếng Việt hoàn toàn thống nhất theo một quy luật

    Câu hỏi nhanh: “Bạn đọc từ ‘read’, ‘object’, ‘close’ và ‘psent’ như thế nào?”. Bạn sẽ phải quan tâm rằng chúng nằm trong ngữ cảnh như thế nào: “Was it close” hay “Did you close?”, “Did you psent the psent”, “Read what I’ve read” hay “Object to the object?” (các từ này đều có cách đọc khác nhau, tùy thuộc vào từ loại, nghĩa)

    So với những ngôn ngữ mà tôi biết, cách phát âm từ tiếng Anh thực sự không thống nhất bởi cùng một từ có thể được đọc khác nhau trong mỗi ngữ cảnh. Thậm chí, mỗi chữ cái cũng được đọc rất nhiều âm khác nhau, chẳng hạn “a” trong “catch”, “male”, “farmer”, “bread”, “read” và “meta”. Những người học tiếng Anh trên thế giới đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc ghi nhớ các từ tiếng Anh được viết và đọc với quy luật như thế nào.

    Mặt khác, tiếng Việt lại chẳng có đặc điểm vô lý ấy. Tất cả chữ cái luôn được đọc như vậy dù từ hay ngữ cảnh có thay đổi (tuy nhiên, điều này chính xác hơn ở tiếng Việt Hà Nội so với Sài Gòn – nơi có một ít âm có cách đọc không thống nhất). Một khi bạn học thuộc 28 chữ cái tiếng Việt vốn gần giống với 26 chữ cái tiếng Anh và hiểu sự khác nhau của các giọng do dấu tạo ra, bạn có thể đọc chính xác bất kỳ từ nào.

    Ngữ pháp tiếng Việt gần như không tồn tại

    Như tôi đã đề cập, tiếng Việt cho phép bạn bỏ từ chia thì trong câu, như câu “I eat rice yesterday” nếu ngữ cảnh giúp người nghe hiểu chính xác thì. Đây là một ví dụ điển hình cho một quan điểm lớn hơn: ngữ pháp tiếng Việt rất đơn giản. Bạn gần như luôn luôn chỉ sử dụng số lượng từ tối thiểu để để diễn đạt quan điểm của mình và ngữ pháp vẫn chính xác dù với tiếng Anh, việc ghép từ này thường chỉ tạo nên một câu lỗi.

    Đây cũng là lý do khiến bạn có thể nghe nhiều người Việt Nam nói những câu tiếng Anh như “no have”, “where you go”. Họ đang dịch trực tiếp những gì thường nói trong tiếng Việt sang tiếng Anh mà quên rằng có hàng loạt những quy tắc phức tạp mà người dùng tiếng Anh phải tuân theo. Đây là một bất lợi lớn với người Việt nếu muốn học tiếng Anh nhưng ngược lại, một lợi thế lớn với người nói tiếng Anh muốn học tiếng Việt.

    Từ vựng tiếng Việt cực kỳ logic

    Phần lớn người nước ngoài ở Việt Nam, dù không nói ngôn ngữ này cũng biết sự thật thú vị rằng “xe ôm” – tên phương tiện di chuyển như taxi bằng xe máy, được đơn thuần ghép từ “hug vehicle”. Nhưng mọi việc không dừng ở đó, một tỷ lệ lớn từ vựng ở Việt Nam được tạo thành theo công thức ghép hai từ logic với nhau, trong khi với tiếng Anh, bạn phải học một từ vựng mới hoàn toàn khác. Ví dụ, nếu tôi cho bạn biết “máy” nghĩa là “machine”, “bay” nghĩa là “flying”, bạn có đoán được “máy bay” nghĩa là gì không?

    Có rất nhiều ví dụ khác tôi có thể liệt kê ra cho bạn: a bench – ghế dài – a long chair, a refrigerator – tủ lạnh – a cold cupboard, a bra – áo ngực – a breast shirt, a bicycle – xe đạp – a pedal vehicle; to ski – trượt tuyết – to slide snow, a tractor – máy kéo – a pulling machine, a zebra – ngựa vằn – a striped horse.

    Tiếng Việt dễ hơn so với bạn nghĩ: Liệu tôi đã chứng minh cho bạn thấy tiếng Việt dễ hơn so với những gì bạn từng nghĩ chữ? Hy vọng tôi đã gạt bỏ một vài lời đồn đại, hiểu nhầm về tiếng Việt mà bạn đã nghe trước đó và hiểu hơn về ngôn ngữ này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Ngành Nghề Nào Dễ Xin Việc Nhất Trong 5 Năm Tới?
  • Những Ngôn Ngữ Sẽ Giúp Bạn Nâng Cao Cơ Hội Nghề Nghiệp
  • Học Được Thứ Tiếng Nào Dễ Xin Việc Nhất?
  • Nên Lựa Chọn Học Chứng Chỉ Tiếng Anh Nào Để Dễ Xin Việc
  • Cách Học Tiếng Anh Dễ Hiểu Và Dễ Nhớ Nhất Không Phải Ai Cũng Biết
  • Một Số Biện Pháp Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Anh 1 Kèm 1
  • Nên Học Tiếng Anh 1 Thầy 1 Trò Hay Học Theo Lớp?
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 1 Năm 2022
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Môn Toán Lớp 1 Năm 2022
  • Phương Pháp Học Tốt Tiếng Việt Lớp 1
  • Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo.

    Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên – xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài: Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo. Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên - xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng đối với lứa tuổi này, các em rất dễ nhàm chán khi nghe những lời nói mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc hoặc những yêu cầu khô khan mà các em phải thực hiện theo. Đề tạo hứng thú cho học sinh chú ý vào tiết học, tích cực tham gia các hoạt động học tập là một giáo viên chủ nhiệm lớp không thể không suy nghĩ, tìm tòi để đưa ra phương hướng giảng dạy mang lại hiệu quả nhất định. Và điều cần thiết không thể thiếu đó là lồng ghép trò chơi có nội dung bài học vào các hoạt động dạy học. Trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với lứa tuổi tiểu học. Nhất là học sinh lớp Một, Giai đoạn chuyển từ chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động chính là học. Mặt khác khi chơi trò chơi học tập, các em phải huy động nhiều giác quan để tham gia. Rất dễ nhận thấy điều này khi quan sát một tiết học của học sinh lớp Một: các em chỉ tập trung nghe bạn, nghe cô nói một lúc đầu, sau đó thì đa số trẻ bắt đầu mất trật tự, không chú ý hoặc làm việc riêng. Phải làm thế nào để thu hút mọi học sinh trong lớp vào việc học mà không gây cho các em cảm giác mệt mỏi, là vấn đề vô cùng khó khăn đối với một giáo viên phụ trách lớp Một. Bởi vì chỉ khi học sinh tự giác tham gia vào các hoạt động học thì lúc đó các em mới thực sự tiếp thu bài học và biến sự "hiểu biết" thành kiến thức, kĩ năng của chính mình. Qua nhiều năm dạy lớp Một tôi đã cố gắng đi tìm lời đáp cho câu hỏi: "Làm thế nào để thu hút học sinh tích cực, tự giác tham gia các hoạt động học tập?" Sau khi tìm hiểu, thử nghiệm tôi nhận ra rằng: học sinh rất hứng thú khi được tham gia trò chơi học tập. 2. Mục đích nghiên cứu: - Đề tài nghiên cứu này nhằm giúp cho học sinh có thói quen học tập để tạo hứng thú học tập và tự củng cố được kiến thức của mình, tích cực hoạt động tiếp nhận kiến thức, rèn luyện kỹ năng bằng nhiểu hình thức cá nhân, nhóm lớp. - Tạo môi trường không khí lớp học sinh động thoải mái phù hợp với tâm lý của trẻ "Vừa học vừa chơi" phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của các em. - Tạo sự gắn bó thân thiện giữa các em học sinh với nhau, giữa giáo viên và học sinh. PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Năm học 2010 - 2011 tôi được phân công dạy lớp 12, lớp tôi quản lý tổng số có 34 học sinh trong đó 11 nữ, 23 nam. Trong công tác chủ nhiệm có một số thuận lợi và khó khăn như sau: 1. Thuận lợi: - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, của phụ huynh học sinh. - Cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ. - Đồ dùng dạy học và các phương tiện hỗ trợ dạy học tương đối đầy đủ. - Học sinh đa số đã được học qua mẫu giáo. 2. Khó khăn: - Còn một số phụ huynh có ít thời gian chú ý đến việc học tập, chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. - Học sinh còn thụ động trong việc học, chưa tự giác tham gia các hoạt động học tập. - Học sinh lớp Một thường phát âm sai vần, sai âm đầu, và sai cả âm cuối. PHẦN III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Học sinh lớp Một chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập điều này sẽ gây cho học sinh mệt mỏi, chính vì vậy giáo viên phải tạo điều kiện cho các em học sinh học mà chơi - chơi mà học bằng cách kết hợp trò chơi trong học tập để dạy tốt nhằm tạo ra không khí lớp học sinh động, vui vẻ. - Học sinh tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi. Đọc : Thực tiễn cho thấy học sinh lớp Một thuộc tương đối nhanh bài vừa học. VD: Khi học bài vần "ăt" - "ât" học sinh sẽ đọc rất nhanh những từ ứng dụng có trong sách giáo khoa. Nhưng với những chữ ngoài sách giáo khoa có vần "ăt", "ât" học sinh sẽ lúng túng, đánh vần rất chậm. Đó là do đặc điểm tâm lý lứa tuổi: học sinh lớp Một ghi nhớ máy móc, tư duy trực quan, khả năng tập trung chú ý không cao, nên rất dễ dẫn dến học vẹt. Từ đặc điểm tâm lý này, người giáo viên nên có cách riêng để tổ chức cho học sinh có nhiều cơ hội luyện đọc. Việc luyện đọc âm, vần vừa học càng nhiều càng giúp các em nhớ chữ và đọc trôi chảy. Mặt khác cũng do tâm lý lứa tuổi, học sinh lớp Một không bao giờ tập trung vào một việc làm quen thuộc trong một thời gian dài. VD: Khi giáo viên muốn học sinh tự rèn luyện kĩ năng đọc từ và câu trong bài học, giáo viên thường đưa ra yêu cầu: "các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài" thì chỉ ít phút sau đó lớp học đã lao xao tiếng nói và sẽ có nhiều em nói chuyện, làm việc riêng. Khi giáo viên gọi học sinh đứng lên để kiểm tra thì kết quả giáo viên sẽ nhận được là kết quả ngoài ý muốn - các em vẫn phải đánh vần từng chữ, thậm chí có những em không hề đọc khi được giáo viên mời đứng dậy thì lúng túng, ngập ngừng thật lâu mới đánh vần được. Vậy thì làm cách nào để học sinh tự giác, mong muốn đọc được những con chữ kia? Hãy kích thích tính tò mò và tính hiếu thắng của trẻ con bằng những trò chơi có lồng ghép nội dung học tập. Cụ thể giáo viên sẽ thay yêu cầu: "Các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài!", bằng lời mời gọi: "Chú ong này đang cõng một chữ, bông hoa này cũng đang có một chữ. Các em hãy giúp chú ong này tìm đúng bông hoa để khi đọc lên ta sẽ có một từ. Chắc chắn 100 % học sinh trong lớp sẽ "hướng mắt nhìn, miệng đọc" để tìm cho ra chữ. Như vậy để đạt mục đích : học sinh luyện đọc tự giác và đọc trên nhiều dữ liệu ta chỉ cần thay đổi một chút trong phương pháp dạy học đó là tổ chức trò chơi. b) Viết: Đối với học sinh viết đúng chính tả Tiếng Việt là một việc làm khó. Bởi Tiếng Việt của chúng ta có nhiều quy tắc viết. VD: Để biểu thị vỏ âm thanh của âm tiết /c/ có đến 3 cách viết: c; k ; q; /ng/ có 2 cách viết: ng ; ngh. Bên cạnh hiện tượng có nhiều cách viết cho một âm tiết thì việc phát âm theo tiếng địa phương cũng gây trở ngại rất lớn cho việc học viết chính tả. Dễ nhận thấy học sinh lớp Một phát âm sai vần, sai âm đầu,và sai cả âm cuối. Hãy nghe học sinh đọc: "cánh buồm" thành "cánh bườm", "cá rô" thành "cá gô", "bàn ghế" thành "bàng ghế" Tôi đã thử nghiệm bằng cách dạy các em phát âm đúng để viết chính tả đúng nhưng kết quả không như mong muốn. Vì trong thực tế các em chỉ nghe một mình cô dạy đọc "cái bàn", "bàn tay" còn xung quanh cha mẹ, bạn bè, giao tiếp đều đọc "cái bàng", "bàng tay". Vậy thì làm cách nào để học sinh viết đúng chính tả?. Nguyên tắc: "thực hành nhiều sẽ thành kĩ năng" tôi lại đem áp dụng ở đây. Và trò chơi học tập là một phương tiện có hiệu quả . VD: Để giúp học sinh nhớ quy tắc viết : g - gh tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò " Tìm nhà cho chữ" (minh họa trò chơi ở phần sau) c) Mở rộng vốn từ: Hiểu nghĩa của từ cũng là một mục tiêu cần đạt khi dạy Tiếng Việt lớp Một. Mặc dù mục tiêu này không đặt nặng nhưng chỉ cần giáo viên có một chút tìm tòi thì học sinh sẽ có cơ hội mở rộng sự hiểu biết và ham thích học tập. Thiết nghĩ đây cũng là việc giáo viên nên làm. Trong thực tế, ở mỗi tiết học tôi thường đưa ra một câu đố (thường là câu đố dân gian) để kích thích trí tò mò, ham tìm hiểu của học sinh . VD: Khi đọc vần "âu" giáo viên ra câu đố về con trâu, học vần "uôi" giáo viên ra câu đố về con muỗi (minh họa trò chơi ở phần sau) Tóm lại, để đạt được mục tiêu giáo dục đã định, tôi đã đưa ra những trò chơi học tập phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Và thực tế đã có kết quả rất khả quan. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TIẾNG VIỆT LỚP 1 1. Trò chơi rèn kĩ năng chính tả: µ Trò chơi " Tìm nhà cho chữ" * Mục tiêu : Rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đúng quy tắc chính tả * Chuẩn bị : VD : Để ghi nhớ quy tắc chính tả viết /ng/, /ngh/ giáo viên cần chuẩn bị + 2 x 6 thẻ chữ ng/ngh + 2 x 6 ngôi nhà có ghi: ng ngh ngh ng ngh ng .ỉ hè bé ủ ệ sĩ é ọ tre à cá .ừ Tổ chức chơi: Giáo viên gắn lên bảng những hình vẽ ngôi nhà có chữ còn thiếu âm ng/ ngh và thẻ chữ ng/ngh, học sinh thi đua (tiếp sức) gắn đúng thẻ chữ ng/ngh vào ngôi nhà thích hợp. Đội nào nhanh, đúng sẽ thắng. µ Trò chơi " Ai nhanh tay" * Mục tiêu: Luyện kĩ năng đọc và viết từ ứng dụng. * Chuẩn bị: Giáo viên có các thẻ ghi từ ứng dụng (ghi thiếu vần). Học sinh có bảng con. * Tổ chức: Giáo viên gắn các thẻ từ lên bảng, cả lớp ghi vào bảng con vần cần điền. Tổ nào có nhiều bạn chính xác và nhanh sẽ thắng. µ Trò chơi "chung sức" * Mục tiêu: Rèn kĩ năng viết đúng chính tả. * Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (minh họa ở dưới) * Tổ Chức: Giáo viên phát phiếu cho các tổ học sinh, học sinh các tổ ghi chữ còn thiếu vào ô trống , tổ nào nhanh và đúng sẽ thắng. VD: Khi dạy tập đọc bài "Quyển vở của em", giáo viên hướng dẫn học sinh ôn vần bằng phiếu. Đáp án: (1) Tuyết rơi (3) Tiết kiệm (2) Hiểu biết (4) Tuyệt đẹp 2. Trò chơi rèn kĩ năng đọc nhanh từ ứng dụng : µ Trò chơi " Ai tinh mắt" * Mục tiêu: Luyện đọc nhanh từ ứng dụng * Chuẩn bị: Giáo viên ghi các từ ứng dụng lên bảng lớp. * Tổ chức: Học sinh chia làm 2 đội (chơi tiếp sức) thi đua gạch chân và đọc từ có vần vừa học. Đội nào làm nhanh, đọc đúng sẽ thắng. 3. Trò chơi giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc và rèn kĩ năng nói: µ Trò chơi "cùng đồng đội" * Mục tiêu: Giúp học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc và rèn kĩ năng luyện nói. * Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (VD: khi dạy bài cây bàng). Đề bài: Điền vào chỗ trống trong sơ đồ để thấy sự thay đổi của cây bàng qua từng mùa trong năm. * Tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 4 đội, mỗi đội tìm hiểu và điền vào phiếu: Sự thay đổi của cây bàng qua từng mùa trong năm. Đại diện tổ trình bày miệng. Cây bàng Đông Xuân Hè Thu 4. Trò chơi mở rộng vốn từ : µ Trò chơi " ong tìm hoa" * Mục tiêu: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc lưu loát, hiểu nội dung đọc và mở rộng vốn từ. * Chuẩn bị: Giáo viên có 10 chú ong có ghi nội dung từ + 10 bông hoa có ghi từ, cụm từ. VD : Khi dạy bài vần ang - anh ,giáo viên chuẩn bị : 5 x 2 hình vẽ hoa có ghi chữ: cây /buôn /hải / cành / hiền 5 x 2 hình vẽ ong có ghi chữ: chanh /làng /cảng /bàng /lành * Tổ chức: - Chơi tiếp sức - Giáo viên gắn một cột bông hoa có chữ, một cột ong có chữ học sinh thi đua gắn ong vào sát hoa để có từ và đọc từ. Đội nào đọc nhanh sẽ thắng. buôn chanh làng cành cảng cây hải bàng lành hiền µ Trò chơi "câu cá" * Mục tiêu: Giúp mở rộng vốn từ, ôn vần đã học, rèn kĩ năng đọc. * Chuẩn bị: 2 nón có gắn vần ôn. Những con cá có ghi từ có vần ôn, đính trên bảng lớp. * Cách chơi: Học sinh đội nón có vần nào, tìm những từ có tiếng mang vần đó xếp qua một bên. Đội nào nhanh và đúng là thắng. VD: Khi ôn vần anh / ach (bài chính tả "Cái Bống") * Chuẩn bị: anh ach túi xách tay hộp bánh nhanh nhẹn quyển sách hiền lành bức tranh sạch sẽ róc rách µ Trò chơi "Đố vui" * Mục tiêu: giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn kĩ năng phán đoán sự vật, hiện tượng dựa vào những dấu hiệu được gợi ý qua câu đối * Chuẩn bị: giáo viên sưu tầm câu đố dân gian * Phụ lục câu đố: - Có chân mà chẳng biết đi Có mặt phẳng lì cho bé ngồi lên. (cái ghế - dạy bài vần "gh/g" ) - Chẳng biết mặt mũi ra sao Chỉ nghe tiếng nổ trên cao ầm ầm. (sấm - dạy bài vần "âm" ) - Không chân không tay mà hay mở cửa. (chìa khóa -dạy bài vần "oa" ) - Da cóc mà bọc trứng gà Mở ra thơm phức cả nhà muốn ăn. (quả mít - dạy bài vần "it" ) -Ruột dài từ mũi đến chân Mũi mòn ruột cũng dần dần mòn theo. (bút chì - dạy bài vần "ut" ) Không phải bò Không phải trâu Uống nước ao sâu Lên cày ruộng cạn (bút mực - dạy bài vần " ưc" ) 5. Lựa chọn phương pháp: - Phương pháp quan sát. - Phương pháp học theo nhóm. - Phương pháp động não. - Phương pháp thực hành. - Phương pháp thi đua khen thưởng. - Việc lựa chọn vận dụng phối hợp các phương pháp một cách hợp lý, linh hoạt sẽ nâng cao hiệu quả trò chơi, vì không có phương pháp nào là vạn năng. Sẽ giúp các em học tốt và phát triển năng khiếu tư duy ham học hỏi. PHẦN IV: KẾT QUẢ 1. Kết quả của việc ứng dụng đề tài. - Với phương pháp dạy học bằng trò chơi vào giờ học Tiếng việt giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn, học sinh tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo trong việc củng cố và lĩnh hội tri thức mới một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không mang tính áp đặt. Trò chơi tạo cho không khí lớp được thoải mái, phấn khởi. Qua các trò chơi học tập, rèn luyện cho các em óc quan sát, trí nhớ phát triển, tư duy và tiếp thu bài có hiệu quả hơn. Trò chơi học tập giúp cho các em ghi nhớ kiến thức đã học. Các em có sự tiến bộ rõ rệt ở hai mặt kĩ năng giao tiếp và kĩ năng đọc, viết Tiếng việt. 2. Kết quả đạt được: Qua một thời gian thực hiện đưa trò chơi học tập vào giờ học Tiếng Việt trên tinh thần phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh, tôi nhận thấy các em học sinh lớp tôi có sự tiến bộ rõ rệt ở 2 mặt Kĩ năng giao tiếp và kĩ năng đọc, viết Tiếng Việt. Về tâm lý các em mạnh dạn hoà đồng, hăng hái phát biểu ý kiến. Đọc viết theo tốc độ quy định tăng lên. * Chuyển biến tâm lý từ đầu năm học đến cuối học kỳ I năm học 2010 - 2011: Chuyển biến về Tâm lý Đầu năm học Cuối Học Kì I Nhút nhát, thiếu tự tin, nói nhỏ 25/34 học sinh 4/34 học sinh Mạnh dạn, hòa đồng, hăng hái phát biểu ý kiến 13/34 học sinh 28/34 học sinh * Kết quả học tập: Loại Đầu năm học Cuối Học Kỳ I Đọc + Viết chậm 24/34 học sinh 11/34học sinh Đọc + Viết theo tốc độ quy định 10/34 học sinh 23/34học sinh PHẦN V: BÀI HỌC KINH NGHIỆM Qua thực tiễn giảng dạy tôi rút ra được một số kinh nghiệm khi thiết kế và tổ chức trò chơi học tập Tiếng Việt lớp Một như sau: µ Trò chơi có thể được tổ chức ở bất kì ở mỗi bước lên lớp của một giờ : kiểm tra bài cũ, hình thành bài mới, củng cố bài µ Mỗi trò chơi học tập phải là một bộ phận của tiến trình lên lớp và phải giải quyết được mục tiêu bài học. µSau mỗi trò chơi, giáo viên phải giúp học sinh rút ra được bài học từ trò chơi đó. µ Giáo viên cần lựa chọn cách chơi sao cho trong mỗi trò chơi càng nhiều học sinh được tham gia càng tốt. µ Giáo viên cần tỏ thái độ quan tâm, khích lệ, động viên những học sinh chậm; học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ. Tránh để các em này có tâm lý "mình dở, mình luôn thua bạn". µ Giáo viên cần tự học tập và rèn luyện cho mình khả năng quan sát, óc phán đoán và hiểu tâm lý trẻ để mỗi lần tổ chức trò chơi là một lần học sinh được tạo điều kiện để phát triển tối đa khả năng, kinh nghiệm, năng lực của mình. PHẦN VI: KẾT LUẬN Trước yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi những người trực tiếp giảng dạy phải nghiên cứu tìm ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh. Một tiết dạy giáo viên không chỉ nắm chắc nội dung kiến thức mà phải biết phối hợp vận dụng linh hoạt các phương pháp để không ngừng nâng cao kết quả dạy học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao mục tiêu giáo dục Tiểu học. Tuy nhiên, đây chỉ là những kinh nghiệm của cá nhân và chỉ mới được áp dụng trong phạm vi một lớp học nên có lẽ đề tài này cũng cần hoàn thiện ở mức cao hơn. Vậy tôi mong muốn nhận được những đóng góp chân thành của quý thầy cô để giúp tôi áp dụng những kinh nghiệm này vào thực tiễn giảng dạy được tốt hơn. Minh Hòa, ngày 26 tháng 01 năm 2011 Người viết Phaïm Thò Haûi PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH HÒA PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HUYỆN DẦU TIẾNG PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG 1 PHẦN I: Lý do chọn đề tài 1- 2 2 PHẦN II: Đặcđiểm tình hình 3 3 PHẦN III: Thực trạng và giải pháp 4 - 6 4 Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập 7 - 13 5 PHẦN IV: Kết quả 14 - 15 6 PHẦN V: Bài học kinh nghiệm 16 7 PHẦN VI: Kết luận 17 8 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học cấp Trường 18 9 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học Phòng GD & ĐT Huyện Dầu Tiếng. 19 10 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học Sở GD & ĐT Tỉnh Bình Dương. 20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Một Số Trò Chơi Học Tập Tiếng Việt Lớp 1. Bai Viet Doc
  • Phần Mềm Học Tiếng Việt Lớp 1
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 5 Tập 1 Tuần 3 Câu 1, 2, 3, 4 Trang 11, 12
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa)
  • Một Số Trò Chơi Học Tập Trong Tiếng Việt Lớp 5 Thu Hút Học Sinh Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Tiếng Anh Lớp 5 Học Kỳ 1 Trường Tiểu Học Nhật Quang
  • Bộ 20 Đề Thi Tiếng Anh Học Kì 1 Lớp 5 Kèm Đáp Án
  • Đề Ôn Thi Violympic Tiếng Anh Lớp 5 Chuẩn Nhất
  • Trẻ Học Tiếng Anh Qua Phim Hoạt Hình Pinocchio
  • Bài Nghe Tiếng Anh Lớp 9 Unit 6: The Environment
  • I . Lí do chọn đề tài

    Môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học là môn học hình thành ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, đọc, nói, viết ) để học tập và để giao tiếp, có thể nói môn Tiếng Việt là mộn công cụ để học các môn học khác. Do đó môn Tiếng Việt rất quan trọng. Trong điều kiện dạy học ở Tiểu học hiện nay, việc sử dụng các loại trò chơi ngôn ngữ vào hoạt động học tập đã là một phương pháp dạy học có hiệu quả, được các giáo viên xem như một hình thức tổ chức dạy học mới, tích cực, cần phát huy thường xuyên trong các bài giảng môn Tiếng Việt của mình. Việc xây dựng và tổ chức một số trò chơi vui vẻ nhẹ nhàng về môn Tiếng Việt theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng là một việc cần thiết để học sinh có thể tự học hoặc tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần ” Học vui – vui học”.

    Trong quá trình làm việc, học tập của con người, vui chơi là một hoạt động bổ ích ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở lứa tuổi tiểu học. Vui chơi không những giúp cho các em được thoả mái rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan mà nó còn tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, trong tổ…thông qua đó, các em sẽ dần được hòan thiện những kĩ năng giao tiếp. Đó là kĩ năng được đặt ra hàng đầu trong mục tiệu của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung và của môn Tiếng Việt ở lớp 5 nói riêng. Điều đó chứng tỏ: hoạt động vui chơi là hoạt động hỗ trợ việc học.

    Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

    +Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học

    +Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

    Tóm lại, trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục. Vậy làm thế nào để tổ chức được các trò chơi học tập thật sự hiệu quả trong những giờ học Tiếng Việt. Đó là điều khiến tôi nghĩ đến một số trò chơi phục vụ cho việc học tập và chọn đó làm đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm của bản thân : ” Một số trò chơi học tập trong Tiếng Việt 5 thu hút học sinh học tích cực”

    II. Cơ sở lí luận và thực tiễn

    Bài tập Tiếng Việt trong sách giáo khoa lớp 5 bao giờ cũng nhằm hình thành cho học sinh một đơn vị kiến thức hay rèn luyện cho học sinh một kĩ năng sử dụng kiến thức Tiếng Việt đã học vào một tình huống cụ thể. Mỗi bài tập thường đề cập đến một khía cạnh của nội dung bài học từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ hiểu – biết đến vận dụng– phân tích rồi đến tổng hợp– đánh giá nhằm rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh.

    Hầu như các bài tập tiếng Việt nào ở lớp 5 cũng là một sự luyện tập để nắm vững một kiến thức tiếng Việt hoặc rèn luyện một kĩ năng sử dụng tiếng Việt, rèn luyện các thao tác tư duy. Vì vậy, trò chơi học tập phải thể hiện được yêu cầu rèn luyện của bài tập. Có nghĩa là trò chơi học tập phải mang được nội dung của bài tập, phải rèn được kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, phải rèn luyện các thao tác tư duy từ mức độ thấp đến mức độ cao theo yêu cầu của bài tập.

    Trong thực tế khi dạy học Tiếng Việt, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích sự tư duy và nhận thức trí tuệ của các em. Trò chơi học tập Tiếng Việt là những trò chơi được lồng ghép trong một giờ học, một hoạt động trong tiết học biến việc học tập trên lớp

    thành một cuộc chơi, giúp học sinh tiếp nhận kiến thức và rèn kĩ năng dễ dàng hơn, hào hứng hơn.

    Dạy học Tiếng Việt 5 với trò chơi cuốn hút học sinh tiểu học bởi các đặc trưng của nó: Trò chơi là một hoạt động tự nguyện, không gò ép, bắt buộc. Trò chơi mang tính tự do nên khi tham gia học sinh hoàn toàn chủ động trong suy nghĩ, trong hành động suốt quá trình vui chơi, do đó có thể phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình mà không bị phụ thuộc vào các yếu tố xung quanh, không bị người khác chi phối. Trong sự tự do vui chơi, trong không khí cổ vũ sôi nổi của tập thể, học sinh sẽ phát huy mọi khả năng vốn có của mình, làm cho quá trình nhận thức trở nên dễ dàng, hiệu quả hơn. Trò chơi là một hoạt động sáng tạo, đầy yếu tố mới mẻ, bất ngờ; nhiều trò chơi được sử dụng nhiều lần nhưng vẫn lôi cuốn người tham gia, người xem và người tổ chức. Trong khi tham gia, người chơi luôn thể hiện sự sáng tạo của mình, luôn tạo ra kịch tính, tạo ra những tình huống bất ngờ, khó dự đoán trước, khiến khán giả phải chăm chú, say sưa theo dõi.

    Dạy học Tiếng Việt với trò chơi học tập cùng lúc đáp ứng cả hai nhu cầu của học sinh, nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập. Trò chơi học tập tạo nên hình thức “chơi mà học, học mà chơi” đang được khuyến khích ở tiểu học và việc sử dụng trò chơi trong giờ học là biện pháp hữu hiệu nhất giúp học sinh học tập và tiếp thu kiến thức tốt hơn. Vì vậy trò chơi học tập Tiếng Việt rất cần thiết trong giờ học Tiếng Việt ở lớp 5 nói riêng và ở tiểu học nói chung.

    Học sinh tiểu học luôn thích thú những điều mới lạ. Vì vậy, để mỗi giờ học Tiếng Việt hấp dẫn, thu hút học sinh, đòi hỏi người giáo viên phải luôn luôn sáng tạo trong việc vận dụng những trò chơi học tập cũ đồng thời tìm tòi, nghiên cứu để thiết kế những trò chơi học tập mới.

    I. Quy trình tổ chức trò chơi

    Trò chơi học tập môn Tiếng Việt thông qua 5 bước :

    – Giới thiệu tên trò chơi.

    – Phổ biến luật chơi.

    – Tiến hành chơi.

    – Rút ra kiến thức.

    – Đánh giá kết luận.

    II. Vai trò của trò chơi trong dạy học Tiếng Việt

    Dạy học Tiếng Việt với trò chơi thực hiện chức năng của hoạt động thực hành vì các em có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học khi tham gia vào trò chơi. Các em được hình thành những kĩ năng phân biệt được bản chất trong các kiến thức tiếng Việt ở mỗi trò chơi, hiểu được sâu sắc và đầy đủ hơn các tri thức đã học. Qua đó, những thiếu sót trong hoạt động trí tuệ và trong tri thức của các em cũng được phát hiện. Từ đó giáo viên có biện pháp bổ sung và điều chỉnh kịp thời cho các em.

    2. Phương tiện hình thành các năng lực trí tuệ

    Dạy học Tiếng Việt với trò chơi đẩy mạnh sự phát triển năng lực trí tuệ và phục vụ cho mục đích ấy vì đôi khi trò chơi đề ra cho các em “bài toán” trí tuệ, và việc giải quyết các “bài toán” này đòi hỏi phải thể hiện những hình thức hoạt động trí tuệ muôn hình, muôn vẻ. Trong khi tham gia trò chơi, để giành phần thắng, các em phải linh hoạt, tự chủ, phải độc lập suy nghĩ, phải sáng tạo và có lúc phải tỏ ra quyết đoán.

    Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độ tập trung của học sinh mà không một phương pháp nào sánh được. Những kiến thức khô khan và cứng nhắc sẽ sinh động, hấp dẫn nếu được tổ chức dưới hình thức trò chơi và nhờ đó kết quả học tập của học sinh sẽ tăng lên. Các em thể hiện niềm vui, hứng thú với những thành tích mà mình đạt được, thể hiện niềm vui do trò chơi mang lại và cảm thấy vui sướng khi được tham gia vào trò chơi. Từ đó hình thành ở các em tính tích cực, ý thức tự giác trong học tập, bởi vì: “Trong giờ lên lớp nào mà tư duy tích cực được kích thích thì cũng sẽ xuất hiện thái độ tích cực đối với học tập, sẽ hình thành hứng thú nhận thức”.

    4. Ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển ngôn ngữ và trí tưởng tượng

    Tình huống trò chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Nếu các em không diễn đạt được mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi không thể nào tham gia vào trò chơi được (hoặc tham gia không có kết quả). Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng chơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc. Trò chơi chính là điều kiện kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng.

    5. Hình thành tính trung thực, có kỉ luật, tính độc lập, có ý thức cao

    Khi tham gia vào trò chơi, nhập vai quan hệ với các bạn cùng chơi buộc các em phải đem những hành động của mình phục tùng những yêu cầu nhất định bắt nguồn từ ý đồ chung của trò chơi. Để giành phần thắng trong các trò chơi tập thể, các em phải biết cùng chơi, biết giúp đỡ lẫn nhau, biết dung hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, tức là các em biết điều tiết hành vi của mình theo chuẩn mực của xã hội.

    Hơn nữa, dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, để tổ (nhóm) mình giành phần thắng, các em ở trong tổ thi đua nhau cùng làm bài và giữ gìn trật tự. Qua đó, có thể giáo dục đức tính trung thực, thật thà, ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức tự giác, tính độc lập, tự chủ và ý thức tôn trọng tập thể của các em.

    Khi đã xác nhận rằng vui chơi là một hoạt động cần thiết của học sinh tiểu học, thì đồng thời cũng cần nhận biết rằng việc tổ chức các trò chơi cho trẻ là cực kì quan trọng và có ý nghĩa giáo dục to lớn. Tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ, vì trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người

    III. Vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy Tiếng Việt

    Khi vận dụng cần lưu ý một số điểm sau :

    – Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ mục tiêu của bài tập vì nó quyết định việc chọn trò chơi cho phù hợp.

    – Giáo viên cần phải nắm được khả năng của từng học sinh để việc phân nhóm chơi hợp lí. Cần chọn hình thức nào lôi cuốn được đông đảo học sinh tham gia nhất.

    – Khi vận dụng các trò chơi trong học tập Tiếng Việt, người giáo viên nên hoạch định trước việc sử dụng những phương tiện nào để nâng cao hiệu quả của trò chơi . Có thể gồm :

    + Phương tiện theo nội dung trò chơi quy định ( Ví dụ như : trang phục cho các nhân vật sắm vai….Loại phương tiện này thường được sử dụng trong phân môn Tập đọc, kể chuyện…giúp học sinh tái hiện lại nội dung câu chuyện hay nội dung bài đọc…. )

    + Phương tiện phục vụ cho việc đánh giá ( Ví dụ như : Bảng đúng / sai, mặt khóc/ mặt cười …)

    + Phương tiện vật chất : phần thưởng cho đội thắng cuộc như các phiếu khen tặng, một bông hoa điểm thưởng, bánh , kẹo…Học sinh sẽ rất thích thú khi biết được chơi

    thắng cuộc sẽ được thưởng. Đó là động lực để các em tham gia trò chơi nhiệt tình, năng động hơn.

    – Mục tiêu của trò chơi học tập là cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng do đó:

    + Sau mỗi trò chơi, giáo viên cần gợi ý để học sinh rút ra các nội dung, kĩ năng mà các em đã học được qua trò chơi.

    + Việc đánh giá tổng kết trò chơi có thể giao cho học sinh tự nhận xét, đánh giá và tổng kết để phát huy tối đa khả năng của các em, giúp học sinh rèn luyện óc suy luận, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp từ đó các em sẽ trở nên tự tin, mạnh dạn hơn.

    – Ngoài ra, khi tổ chức các trò chơi học tập cho học sinh, giáo viên cũng cần lưu ý đến điều kiện cơ sở vật chất của trường, thời gian khi chơi và sức khỏe của học sinh.

    Có rất nhiều cách xếp loại trò chơi học tập :

    -Theo mục đích sử dụng :

    +Trò chơi dẫn dắt học sinh tiếp cận tri thức.

    +Trò chơi rèn kĩ năng thực hành và củng cố kiến thức.

    +Trò chơi nhằm ôn tập tổng hợp và rèn óc tư duy.

    -Theo yêu cầu rèn kĩ năng : Nghe-Nói- Đọc-Viết

    -Theo phân môn :

    +Luyện từ và câu

    +Tập làm văn

    +Chính tả

    +Kể chuyện

    +Tập đọc

    – Theo số lượng học sinh:

    +Theo cá nhân

    +Theo nhóm, dãy, bàn…

    , viêc vận dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt là rất cần thiết. Thông qua trò chơi, các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói được rèn luyện, đồng thời kích thích khả năng ứng xử ngôn ngữ của học sinh, rèn luyện tư duy linh hoạt và tác phong nhanh nhẹn , tháo vát , tự tin cho học sinh. Tuy nhiên, việc vận dụng trò chơi học tập phải luôn đi kèm với việc sáng tạo thiết kế ra trò chơi mới bởi học

    IV. Thiết kế trò chơi học tập

    Để dạy học với trò chơi hiệu quả, giáo viên phải biết thiết kế hoặc sáng tạo một số trò chơi sẵn có để giảng dạy. Trước khi thiết kế cần :

    – Việc xác định yêu cầu của bài tập rất quan trọng, mục tiêu của bài tập là cơ sở để lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp. Một bài tập có thể tạo nên những trò chơi khác nhau.

    : Bài tập 2 tiết Chính tả SGK TV tập 1/ 46 . Tìm các tiếng có chứa uô, ua trong bài văn ” Anh hùng Núp tại Cu-ba ”. Mục tiêu của bài tập là học sinh nhận diện được các tiếng có chứa vần uô, ua .

    Khi đó ta có thể tổ chức trò chơi có nội dung : Xếp các tiếng trong tập hợp sau thành 2 nhóm, một nhóm gồm các tiếng có vần và một nhóm gồm các tiếng có vần ua. Nếu yêu cầu của bài tập chỉ là tìm từ có tiếng chứa vần hoặc ua thì mục

    tiêu của bài tập sẽ là mở rộng vốn từ. Khi đó ta có thể tổ chức trò chơi có nội dung : tìm từ chứa tiếng ua dưới hình thức thi đua giữa hai dãy….

    Giáo viên tiến hành thiết kế trò chơi có hình thức chơi rõ ràng (người chơi, cách chơi,luật chơi…), nội dung thực hiện trò chơi phải đảm bảo nội dung bài tập của Sách giáo khoa hoặc bổ sung thêm nội dung tùy vào việc xác định mục tiêu bài tập cần rèn của giáo viên. Đồng thời thông qua đó rèn những kĩ năng cần thiết cho học sinh.

    Một nội dung trò chơi có thể được thể hiện thành các hình thức tổ chức trò chơi khác nhau.

    Ví dụ :

    – Nội dung trò chơi xếp các từ trong tập hợp sau thành hai nhóm : một nhóm gồm các từ chỉ người, cơ quan, tổ chức thực hiện công việc bảo vệ trật tự- an ninh, một nhóm gồm các từ chỉ hoạt động bảo vệ trật tự, an ninh hoặc yêu cầu của việc bảo vệ trật tự, an ninh.

    – Ta có thể có các hình thức tổ chức chơi như sau :

    Giáo viên phát cho mỗi nhóm một tờ giấy. Theo lệnh của giáo viên, từng nhóm bàn bạc với nhau để thực hiện yêu cầu của trò chơi. Khi nhóm đã thống nhất thì ghi kết quả vào giấy. Ghi xong, dán tờ giấy của nhóm lên bảng lớp. Giáo viên sẽ tính điểm các nhóm theo hai chuẩn : Chuẩn chính xác và chuẩn nhanh nhẹn.

    Giáo viên phân thành hai nhóm. Từng thành viên hiểu từ nào thì hỏi thành viên khác của nhóm bạn xem từ đó thuộc nhóm nào. Trả lời đúng thì được 1 điểm. Sau đó đổi ngược lại thành viên nhóm bạn hỏi lại nhóm mình. Cuối cùng tổng hợp điểm của hai nhóm. Nhóm nào được nhiều điểm thì nhóm đó thắng cuộc.

    Giáo viên phát cho mỗi học sinh một thẻ từ. Từ đó có thể là chỉ người, cơ quan, tổ chức thực hiện công việc bảo vệ trật tự, an ninh, một nhóm gồm các từ chỉ hoạt động bảo vệ trật tự, an ninh hoặc yêu cầu của việc bảo vệ trật tự, an ninh. Học sinh cầm thẻ thuộc nhóm từ nào thì đi về nhóm từ đó. Căn cứ vào kết quả sẽ biết được em nào hiểu bài.

    Để tổ chức được các trò chơi thì cần phải có những đồ dùng phục vụ nên khi thiết kế các trò chơi, người giáo viên cần phải làm thêm các đồ dùng dạy học phục vụ cho trò chơi đó. Đồ dùng dạy học cần phải đảm bảo được tính thẩm mỹ và khoa học.

    V. Một số trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 5

    Trò chơi được vận dụng vào phân môn Tập làm văn, bài : Luyện tập tả người, Tiếng Việt 5, tập 1, trang 132.

    +Phát triển vốn từ ngữ miêu tả người, đặc biệt là các từ miêu tả về ngoại hình.

    +Phát triển kĩ năng trình bày.

    +Một bộ ảnh chụp nhiều người ở các độ tuổi, giới tính, nơi chốn khác nhau có đánh số từ 1 đến n ( n là số ảnh chuẩn bị được ).

    +Bảng phụ có kẻ sẵn ô số như sau :

    +Giáo viên gọi một học sinh lên bảng tham gia trò chơi ( khuyến khích học sinh xung phong ).

    +Học sinh được gọi lên chọn một số bất kì trên bảng phụ. Sau đó giáo viên ( hoặc cử một học sinh khác) dán bức ảnh có số tương ứng lên bảng, người chơi có nhiệm vụ miêu tả về người trong ảnh ( từ 2-3 câu ).

    +Giáo viên gọi tiếp một số học sinh khác tham gia trò chơi ( số lượng phụ thuộc vào thời gian dành cho trò chơi. )

    +Khi trò chơi kết thúc, giáo viên và cả lớp bình chọn người chơi miêu tả hay nhất.

    +Học sinh nào có số phiếu bình chọn nhiều nhất sẽ là người thắng cuộc.

    – Lưu ý :

    +Trò chơi này còn có thể vận dụng vào phân môn luyện từ và câu bài : Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ .Giáo viên chỉ cần thay thế các ảnh chụp bằng những phiếu yêu cầu như : Em hãy đặt câu có sử dụng cặp từ quan hệ nguyên nhân-kết quả; Điều kiện – kết quả ; Tương phản…….

    +Giáo viên có thể thay đổi hình thức chơi bằng cách chia số học sinh trong lớp thành 3 dãy thi đua với nhau.

    Trò chơi được vận dụng để củng cố lại kiến thức của bài chính tả ở sách Tiếng Việt 5, tập 1 , trang 87.

    +Các từ láy âm đầu l.

    +Các từ láy vần có âm cuối ng .

    +Ôn lại cách viết những từ ngữ có tiếng chứa âm đầu l và âm cuối ng.

    +Nhằm để khắc phục lỗi chính tả n/l , n/ng.

    +Nhiều miếng bìa cắt theo hình cánh hoa ( hình 1)

    +Vẽ trực tiếp lên một tờ giấy to 2 vòng tròn làm hai nhị hoa. Trong mỗi nhị hoa ghi : các từ láy âm đầu l ; các từ láy vần có âm cuối ng.( hình 2 )

    Hình 1: Cánh hoa Hình 2 : Nhị hoa

    +Giáo viên chia học sinh thành nhiều nhóm chơi tùy theo số bộ nhị hoa và cánh hoa chuẩn bị được.

    +Khi trò chơi bắt đầu, các nhóm chơi có nhiệm vụ ghi từ theo yêu cầu vào các cánh hoa ( mỗi cánh hoa chỉ ghi một từ ) rồi dán vào nhị hoa cho phù hợp.

    +Sau 5-7 phút, giáo viên hô : ” Dừng chơi ! ”Nhóm nào dán được nhiều cánh hoa đúng và đẹp sẽ thắng cuộc.

    – Lưu ý :

    +Trò chơi này còn có thể vận dụng vào phân môn luyện từ và câu ở các bài : Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, ôn tập về từ loại …chỉ cần thay đổi yêu cầu ghi trên nhị hoa.

    +Khi kết thúc trò chơi, để khắc sâu kiến thức của bài, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đặt câu với một vài từ tìm được và chuẩn bị sẵn các phiếu khen thưởng để động viên các em.

    Trò chơi thường được vận dụng vào các bài ôn tập củng cố kiến thức đã học ở phân môn Luyện từ và câu. Cụ thể là bài :” Ôn tập về dấu câu ( dấu phẩy ) ”,bài tập 1, Tiếng Việt 5, tập 2, trang 124.

    +Củng cố , khắc sâu kiến thức về tác dụng của dấu phẩy.

    +Rèn luyện khả năng tập trung, chú ý.

    +Rèn luyện các kĩ năng tư duy bậc cao như : phân tích- tổng hợp.

    +Bộ bìa gồm 3 thẻ ghi các chữ A, B, C ( mỗi thẻ 1 màu ) tương ứng với các tác dụng của dấu phẩy :

    A : Ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu.

    B : Ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ.

    C : Ngăn cách các vế câu trong câu ghép.

    +Một số thẻ từ ghi các câu học sinh cần phân tích :

    • Khi phương đông vừa vẩn bụi hồng, con họa mi ấy lại hót vang long.
    • Thế kỉ XX là thế kỉ giải phóng phụ nữ, còn thế kỉ XXI phải là thế kỉ hoàn thành sự nghiệp đó.

    +Giáo viên chia học sinh thành các đội chơi theo dãy bàn. Phát cho mỗi học sinh một bộ thẻ chữ.

    +Khi giáo viên đọc và dán một thẻ ghi câu cần phân tích tác dụng của dấu phẩy lên bảng thì học sinh phải chọn một thẻ chữ tương ứng để giơ lên. Ví dụ, giáo viên đưa thẻ ghi câu đầu tiên thì học sinh phải giơ thẻ chữ B mới đúng.

    +Sau mỗi một câu ( một lượt chơi ), giáo viên hoặc 1 học sinh được cử làm trọng tài sẽ đếm số người trả lời đúng ở mỗi đội.

    +Khi trò chơi kết thúc, giáo viên sẽ thống kê số học sinh làm đúng ở các lượt chơi.

    +Đội nào có số người trả lời đúng nhiều nhất, đội đó thắng cuộc.

    – Lưu ý :

    +Để kiến thức về tác dụng của dấu phẩy được khắc sâu hơn, sau mỗi lượt chơi, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo của từng câu ghi trong thẻ.

    +Trò chơi này còn có thể vận dụng được vào rất nhiều bài ở phân môn Luyện từ và câu, nhằm củng cồ các kiến thức đã học như : củng cố kiến thức về từ đồng âm,từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ trái nghĩa; củng cố kiến thức về cách nối các vế câu ghép; củng cố kiến thức về cách liên kết các câu trong bài…….chỉ cần ta thay đổi các thẻ ghi các bài tập tương ứng.

    v Trò chơi “Thi tìm từ mới”

    Mục tiêu:

    – Mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh .

    Chuẩn bị:

    – Bảng ô chữ ( hàng dọc 8, hàng ngang 8 đến 10 ô)

    – Bút dạ

    Tiến hành:

    – Chia nhóm, mỗi nhóm 4- 5 học sinh.

    – Phát cho mỗi nhóm 1 bảng, trên bảng ở đầu ô ghi chữ cái theo từng bài; ví dụ chữ B

    – Yêu cầu các nhóm tìm chữ cái thích hợp điền vào ô trống ở từng hàng để được những từ có nghĩa. Nhóm nào hoàn thành trước sẽ thắng cuộc.

    v Trò chơi “Tìm bạn”

    Mục tiêu:

    – HS hiểu nghĩa từ, ghép đúng các cặp từ trái nghĩa.

    – Tạo thói quen nhanh nhẹn cho học sinh

    Chuẩn bị:

    Thẻ từ

    Tiến hành:

    – Giáo viên phát cho học sinh 1 thẻ từ.

    – Học sinh đọc lại thẻ từ của mình.

    – Một học sinh đính thẻ lên bảng.

    + Một học sinh khác tìm thẻ từ của mình trái nghĩa với nghĩa với thể từ này là dài.

    v Trò chơi “Tìm nơi cư trú”

    Trò chơi được sử dụng vào phân môn Luyện từ và câu.

    Mục tiêu:

    – Xác định được đúng các từ loại: danh từ, động từ, tính từ.

    – Mở rộng vốn từ.

    Một số thẻ thuộc 3 dạng từ loại: danh từ, động từ, tính từ.

    Tiến hành:

    – Chia lớp thành 5 nhóm, phát cho mỗi nhóm một bảng nhóm để viết hoặc đính từ loại và một số thẻ thuộc 3 từ loại danh từ, động từ, tính từ.

    – Các nhóm chọn thẻ từ và đính vào cột tương ứng.

    – Nhóm nào hoàn thành nhanh, đúng thì nhóm đó thắng cuộc.

    Lưu ý:

    – Có thể cho các nhóm nhận xét chéo sản phẩm của nhau và có thể đặt câu hỏi để nâng cao, khắc sâu

    VD: Đây là danh từ chung hay danh từ riêng? Bạn biết thêm từ nào cùng loại?

    Việc vận dụng các trò chơi học tập vào thực tế giảng dạy môn Tiếng Việt ở tiểu học làm không khí trong những giờ học trở nên sôi nổi hơn, học sinh rất tích

    cực, các em chuyển từ thụ động sang chủ động chiếm lĩnh kiến thức, thích thú với những hình thức học tập mới lạ. Ngoài ra những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp của các em phát triển vượt bậc. Những học sinh giỏi thì ngày càng tự tin năng động, có trách nhiệm cao trong việc học tập còn những học sinh thụ động thì trở nên tích cực hơn, bắt đầu biết chia sẻ, hợp tác với các bạn để hoàn thành một nhiệm vụ học tập.

    Về phía người giáo viên cảm thấy nhẹ nhàng hơn, không còn mệt mỏi khi truyền thụ kiến thức cho học sinh. Vì kiến thức được các em tiếp thu một cách chủ động tích cực thông qua trò chơi. Kĩ năng vận dụng trò chơi linh hoạt hơn, thành thạo hơn. Có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp nhất , đảm bảo rèn đúng kĩ năng cho học sinh theo mục tiêu bài tập. Từ đó khả năng sáng tạo được nâng lên một bước, giúp cho cho giáo viên thiết kế được nhiều trò chơi học tập một cách nhanh nhạy hơn.

    Phần C / Kết luận

    Khi được học Tiếng Việt với trò chơi các em thấy thoải mãi, tự tin mạnh dạn tham gia thể hiện trong các hoạt động. Từ đó những kĩ năng giao tiếp được phát triển. Sự say mê học tập của các em là nguồn động viên thúc đẩy tôi phải luôn sử dụng các trò chơi học tập vào tiết học. Đồng thời luôn tìm tòi, nghiên cứu thiết kế các trò chơi mới để lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập.

    – Trò chơi học tập phải có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện.

    – Trò chơi cần diễn ra trong một thời gian hợp lí, phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh.

    – Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập sẽ có tác dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập giúp tiết học đạt hiệu quả cao.

    – Không lam dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi hoặc tổ chức quá nhiều trò chơi trong tiết học gây cho học sinh sự mệt mỏi.

    – Tránh lặp đi lặp lại trò chơi học tập trong tiết học sẽ không hấp dẫn học sinh, không thu hút học sinh.

    – Sáng tạo trên cơ sở phù hợp với mục tiêu bài học cũng như đặc trưng của từng phân môn.

    – Việc làm đồ dùng phục vụ cho trò chơi phải đảm bảo tính khoa học, thẩm mỹ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi tiểu học.

    Người thực hiện

    Đỗ Thị Thúy Ái

    tÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Trò chơi học tập cấp tiểu học – Nhà Xuất bản Đại học sư phạm

    – Lê Phương Nga, “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội

    – Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga, “Trò chơi học tập tiếng Việt” Nhà xuất bản Thanh niên (2004)

    – Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy Tiếng Việt 5, Nhà xuất bản Giáo dục.

    -Phương Anh, “Vui chơi và sự phát triển của trẻ”, Báo Khoa học & Đời sống (2006)

    – Bạch Văn Quế, “Giáo dục bằng trò chơi”, Nhà xuất bản Thanh niên (2002) .

    – www.violet.vn

    Phần A / Mở đầu…………………………………………………. trang 1

    I . Lí do chọn đề tài………………………………………………. trang 1

    II. Cơ sở lí luận và thực tiễn………………………………………………….. trang 2

    Phần B / Nội dung……………………………………………….. trang 3

    I.Quy trình tổ chức trò chơi………………………………………………….. trang 4

    II. Vai trò của trò chơi trong dạy học Tiếng Việt……………………….trang 4

    III.Vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy Tiếng Việt…………. trang 6

    IV. Thiết kế trò chơi học tập……………………………………… trang 8

    V. Một số trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 5……………….. trang 10

    v Trò chơi ”Chọn ô số ”……………………………… trang 10

    v Trò chơi ”Đếm số cánh hoa ”………………………. trang 11

    v Trò chơi ”Xem ai nhớ nhất ”……………………… trang 12

    v Trò chơi “Thi tìm từ mới”……………………………trang 14

    v Trò chơi “Tìm bạn”…………………………………..trang 15

    v Trò chơi “Tìm nơi cư trú” ……………………………trang 15

    VI. Kết quả………………………………………………………. trang 17

    Phần C / Kết luận………………………………………………… trang 17

    Tài liệu ham khảo………………………………………………. trang 19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tuần 34 Câu 5, 6, 7, Vui Học Trang 62, 63
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tuần 34 Câu 1, 2, 3, 4 Trang 59, 60, 61
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tuần 19 Câu 1, 2, 3 Trang 5, 6
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tuần 29 Câu 5, 6, Vui Học Trang 42, 43
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt 5 Tuần 24 Trang 23, 24, 25, 26 Hay Nhất Tại Vietjack.
  • Tiếng Việt Trong Mắt Một Người Nước Ngoài

    --- Bài mới hơn ---

  • Phụ Âm Trong Tiếng Việt Là Gì ? Tổng Hợp 11 Phụ Âm Kép Tiếng Việt Cần Chú Ý
  • Tiếng Việt Và Văn Hóa Việt Nam – Trường Cao Đẳng Công Thương Việt Nam
  • Giáo Án Tiếng Việt 1 Bài 3: Dấu /
  • Tiếng Việt 1 Tập 1
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 2 Tuần 4
  • Tiếng Việt trong mắt một người nước ngoài

    Từ góc độ một người ưa dịch chuyển, biết nhiều thứ tiếng, bao gồm tiếng Việt, George Millo đã chỉ ra quan niệm có phần sai lầm của nhiều người về ngôn ngữ này. Anh đưa ra những so sánh thú vị của tiếng Việt với tiếng Anh – tiếng mẹ đẻ của mình và một vài ngôn ngữ khác như Tây Ban Nha, Pháp để chỉ rõ những ưu điểm của tiếng Việt.

    George Millo. Ảnh: abroaders.

    Nếu hỏi một người Việt Nam về ngôn ngữ của họ, bạn sẽ nhận được câu trả lời “rất khó”. Đây gần như là quan điểm chung của khoảng 90 triệu người dân quốc gia này và họ còn vui vẻ khi nói với bạn rằng “tiếng Việt khó” (Vietnamese is hard) bất kỳ lúc nào. Vì vậy, khi nghĩ đến học tiếng Việt, bạn gần như cảm thấy mất tinh thần. Tuy nhiên, tôi sẽ mang đến có bạn một cái nhìn tích cực hơn về ngôn ngữ này. Tiếng Việt có thể dễ hơn so với những gì các bạn nghĩ.

    Điều không thể chối cãi là với sáu tông giọng và quá nhiều nguyên âm khác với tiếng Anh, phát âm tiếng Việt là việc khó khăn. Nhưng phần lớn những người ở Việt Nam chỉ trong vòng một năm sẽ nhận ra phát âm là điều duy nhất gây trở ngại trong tiếng Việt, những yếu tố khác đều rất dễ – đặc biệt khi so sánh với phần lớn các ngôn ngữ châu Âu khác.

    Tiếng Việt không có giống đực và cái

    Nếu từng học tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Đức hay gần như bất kỳ ngôn ngữ châu Âu nào ngoại trừ tiếng Anh, bạn sẽ thở phào nhẹ nhõm vì tiếng Việt không có khái niệm giống đực hay cái cho các từ vựng. Bạn chỉ cần ghi nhớ mỗi từ mà không cần thiết phải học thuộc lòng thêm điều gì.

    Tiếng Việt bỏ qua mạo từ “a”, “the”

    Nếu một người nước ngoài học tiếng Anh và hỏi bạn khi nào dùng “a” và “the”, bạn có giải thích cặn kẽ được không? Đây là một vấn đề phức tạp, thậm chí bài viết nói về mạo từ trên trang Wikipedia còn dài hơn 2.500 chữ.

    Tuy nhiên, dùng “a”, “the” trước một chủ thể có thực sự quan trọng? Một cách đơn giản hơn, bạn có thể loại bỏ chúng đi vì sự việc vốn hiển nhiên, người nghe cũng có thể hiểu ý bạn mà không cần thêm mạo từ. Đó chính xác là điều người Việt vẫn làm. “Người” là từ có nghĩa “a person” (người nào đó) lẫn “the person” (chính người đó) mà người nghe vẫn không lo lắng nhầm lẫn.

    Tiếng Việt không có số nhiều

    Trong tiếng Anh, khi muốn chỉ thứ gì đó ở số nhiều, chúng ta thường thêm “s” vào cuối từ đó. Như vậy, “dog” thành “dogs”, “table” thành “tables” và “house” thành “houses”. Tuy nhiên, nhiều ngoại lệ tồn tại như “person” thành “people”, “mouse” thành “mice”, “man” thành “men” và một số từ như “sheep” hay “fish” lại chẳng thay đổi gì.

    Trong tiếng Việt, mọi từ ngữ đều như “sheep” – con cừu. Từ “người” tôi nêu trên, còn có thể sử dụng giống như “people” hay “person”, “chó” là “dog” hoặc “dogs”, “bàn” là “table” hoặc “tables”… Nếu thắc mắc rằng điều này có gây nên sự nhầm lẫn, bạn hãy tự hỏi bản thân mình, đã bao giờ nghe ai đó kể về “con cừu đó”, “con chó đó” và bối rối vì không viết họ đang nhắc đến bao nhiều con vật trong câu chuyện đó hay không?

    Nếu cần thông tin chi tiết, bạn chỉ cần dễ dàng thêm một từ trước danh từ đó, giống như “một người” (one person), “những người” (some people) hay “các người” (all the people).

    Tiếng Việt không có các dạng khác nhau của động từ

    Thật đáng thương cho những người học tiếng Tây Ban Nha khi nói những từ đơn giản như “hablar” (nói), họ vẫn phải học 5 hoặc 6 dạng khác nhau (tùy thuộc địa phương) để thể hiện chính xác thể của động từ này. “I hablo”, “you hablas”, “he habla”, “we hablamos” và danh sách này vẫn chưa hết. Một động từ trong tiếng Tây Ban Nha có thể bao gồm 50 dạng (form) khác nhau mà người học phải ghi nhớ.

    Tiếng Anh không giống tiếng Tây Ban Nha nhưng một từ cũng bao gồm nhiều dạng khác nhau tùy thuộc ngữ cảnh. Chẳng hạn, động từ “speak” có thể biến cách (inflect) thành “speaks”, “speaking”, “spoken” hay “spoke”.

    Tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn không biến cách – không từ ngữ nào đổi dạng trong bất kỳ ngữ cảnh nào. Ví dụ, “speak” trong tiếng Việt là “nói” và bạn luôn dùng “nói  trong mọi trường hợp – “I nói”, “you nói”, “he nói”, “she nói”, “we nói”, “you nói” và “they nói”. Điều này có thể tiết kiệm hàng chục, thậm chí hàng trăm giờ học thuộc so với một thứ tiếng châu Âu.

    Thì của tiếng Việt có thể học xong trong 2 phút

    Bạn chỉ cần thêm 5 từ được liệt kê sau đây vào phía trước động từ ban đầu để diễn tả thì mong muốn: “đã” – trong quá khứ, “mới” – vừa xong, gần với hiện tại hơn với “đã”, “đang” – ngay bây giờ, tương lai gần , “sắp” – tương lai gần, “sẽ” – trong tương lai.

    Thì tiếng Việt thực sự quá dễ. Ngoài 5 từ trên, bạn có một số từ khác, nhưng chỉ cần 5 từ này, bạn có thể diễn đạt đúng tới 99% trường hợp. Tôi sẽ cho bạn một vài ví dụ:

    – Tôi ăn cơm = I eat rice

    – Tôi đã ăn cơm = I ate rice

    – Tôi mới ăn cơm = I have just eaten rice

    – Tôi đang ăn cơm = I am eating rice (right now)

    – Tôi sắp ăn cơm = I am going to eat rice, I am about to eat rice

    – Tôi sẽ ăn cơm = I will eat rice.

    Hơn nữa, bạn còn có thể bỏ qua những từ này nếu ngữ cảnh câu đã đủ rõ ràng. Chẳng hạn, “Tôi ăn cơm hôm qua” giống như “I eat rice yesterday” – từ “hôm qua” đã thể hiện điều trong quá khứ rồi, từ “đã” không cần thiết nữa nên câu này hoàn toàn đúng ngữ pháp trong tiếng Việt còn “I eat rice yesterday” lại sai ngữ pháp hoàn toàn với tiếng Anh.

    Bạn không phải học bảng chữ cái mới

    Bạn nên cảm ơn người Pháp vì điều này. Cách đây khoảng 100 năm, một bộ phận người Việt vẫn dùng một hệ thống chữ tượng hình phức tạp được gọi là “chữ Nôm”, có ký tự giống tiếng Trung Quốc bây giờ. Ngày nay, điều đó đã được thay đổi 100% bởi bảng chữ cái Latinh, được gọi là chữ Quốc ngữ. Vì thế, không như với tiếng Quan Thoại, Quảng Đông, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Hàn Quốc hay hàng chục ngôn ngữ châu Á khác, bạn không cần học bảng chữ cái. Tất cả những thứ bạn cần là thêm các dấu (diacritic) để làm rõ tông giọng và bạn có thể đọc tiếng Việt ngay.

    Cách phát âm từ tiếng Việt hoàn toàn thống nhất theo một quy luật

    Câu hỏi nhanh: “Bạn đọc từ ‘read’, ‘object’, ‘close’ và ‘psent’ như thế nào?”. Bạn sẽ phải quan tâm rằng chúng nằm trong ngữ cảnh như thế nào: “Was it close” hay “Did you close?”, “Did you psent the psent”, “Read what I’ve read” hay “Object to the object?” (các từ này đều có cách đọc khác nhau, tùy thuộc vào từ loại, nghĩa)

    So với những ngôn ngữ mà tôi biết, cách phát âm từ tiếng Anh thực sự không thống nhất bởi cùng một từ có thể được đọc khác nhau trong mỗi ngữ cảnh. Thậm chí, mỗi chữ cái cũng được đọc rất nhiều âm khác nhau, chẳng hạn “a” trong “catch”, “male”, “farmer”, “bread”, “read” và “meta”. Những người học tiếng Anh trên thế giới đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc ghi nhớ các từ tiếng Anh được viết và đọc với quy luật như thế nào.

    Mặt khác, tiếng Việt lại chẳng có đặc điểm vô lý ấy. Tất cả chữ cái luôn được đọc như vậy dù từ hay ngữ cảnh có thay đổi (tuy nhiên, điều này chính xác hơn ở tiếng Việt Hà Nội so với Sài Gòn – nơi có một ít âm có cách đọc không thống nhất). Một khi bạn học thuộc 28 chữ cái tiếng Việt vốn gần giống với 26 chữ cái tiếng Anh và hiểu sự khác nhau của các giọng do dấu tạo ra, bạn có thể đọc chính xác bất kỳ từ nào.

    Ngữ pháp tiếng Việt gần như không tồn tại

    Như tôi đã đề cập, tiếng Việt cho phép bạn bỏ từ chia thì trong câu, như câu “I eat rice yesterday” nếu ngữ cảnh giúp người nghe hiểu chính xác thì. Đây là một ví dụ điển hình cho một quan điểm lớn hơn: ngữ pháp tiếng Việt rất đơn giản. Bạn gần như luôn luôn chỉ sử dụng số lượng từ tối thiểu để để diễn đạt quan điểm của mình và ngữ pháp vẫn chính xác dù với tiếng Anh, việc ghép từ này thường chỉ tạo nên một câu lỗi.

    Đây cũng là lý do khiến bạn có thể nghe nhiều người Việt Nam nói những câu tiếng Anh như “no have”, “where you go”. Họ đang dịch trực tiếp những gì thường nói trong tiếng Việt sang tiếng Anh mà quên rằng có hàng loạt những quy tắc phức tạp mà người dùng tiếng Anh phải tuân theo. Đây là một bất lợi lớn với người Việt nếu muốn học tiếng Anh nhưng ngược lại, một lợi thế lớn với người nói tiếng Anh muốn học tiếng Việt.

    Từ vựng tiếng Việt cực kỳ logic

    Phần lớn người nước ngoài ở Việt Nam, dù không nói ngôn ngữ này cũng biết sự thật thú vị rằng “xe ôm” – tên phương tiện di chuyển như taxi bằng xe máy, được đơn thuần ghép từ “hug vehicle”. Nhưng mọi việc không dừng ở đó, một tỷ lệ lớn từ vựng ở Việt Nam được tạo thành theo công thức ghép hai từ logic với nhau, trong khi với tiếng Anh, bạn phải học một từ vựng mới hoàn toàn khác. Ví dụ, nếu tôi cho bạn biết “máy” nghĩa là “machine”, “bay” nghĩa là “flying”, bạn có đoán được “máy bay” nghĩa là gì không?

    “Xe ôm” là một từ ghép logic – “hug vehicle”. Ảnh: TH.

    Có rất nhiều ví dụ khác tôi có thể liệt kê ra cho bạn:  a bench – ghế dài – a long chair, a refrigerator – tủ lạnh – a cold cupboard, a bra – áo ngực – a breast shirt, a bicycle – xe đạp –  a pedal vehicle; to ski  - trượt tuyết – to slide snow, a tractor  - máy kéo – a pulling machine, a zebra – ngựa vằn – a striped horse.

    Tiếng Việt dễ hơn so với bạn nghĩ: Liệu tôi đã chứng minh cho bạn thấy tiếng Việt dễ hơn so với những gì bạn từng nghĩ chữ? Hy vọng tôi đã gạt bỏ một vài lời đồn đại, hiểu nhầm về tiếng Việt mà bạn đã nghe trước đó và hiểu hơn về ngôn ngữ này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Việt Trực Tuyến – Learn Vietnamese Online – Chữ Việt Nhanh
  • Bao Lâu Thì Người Nước Ngoài Học Tiếng Việt Thành Thạo?
  • Dạy Tiếng Việt: Dễ Hay Khó? (3)
  • 3000 Từ Hán Việt Cần Ghi Nhớ
  • Cách Học Tiếng Việt Nhanh Và Dễ Dàng
  • Một Số Giải Pháp Giúp Học Sinh Lớp 1 Nắm Bắt Được Âm Trong Tiếng Việt 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Em Học Giỏi Tiếng Anh Lớp 4 (Tập 1
  • Em Hoc Gioi Tieng Anh 7 Tap 1 Pdf
  • Đáp Án Em Học Giỏi Tiếng Anh Lớp 8 Tập 1
  • Đáp Án Em Học Giỏi Tiếng Anh Lớp 5 Tập 2
  • Tải Về Em Học Giỏi Tiếng Anh Lớp 4 (Tập 1) Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 nắm bắt được âm trong Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục”

    Trong chương trình này giáo viên cần dạy kỹ 12 tiết bài tiếng. Còn dạy bài âm đối với học sinh không cần học qua lớp Mẫu giáo, trong tập 1 gồm có 9 tuần dạy về phần âm (lưu ý phần âm mẫu 3 là quan trọng nhất. Khi dạy, bắt buộc giáo viên phải phát âm chuẩn, dùng từ chuẩn , khi nói: các em đọc âm…, vần…, tiếng… các em viết con chữ…, viết chữ…; âm Trong tiết dạy cần chú ý đến việc so sánh rất cần thiết vì học sinh hay sai ở âm cuối giáo viên cần làm giống và khác nhau Ở giai đoạn này, học sinh được học cấu trúc âm – chữ theo nguyên tắc: phụ âm ghép với nguyên âm để tạo thành tiếng (ma, mà, má, mạ…) Gồm 22 phụ âm và 11 nguyên âm (chỉ nguyên âm đơn, riêng khi dạy ở âm cờ có xuất hiện âm đệm u là điểm để phân biệt với vần sau này); dạy tiếng Việt là dạy chữ ghi âm, nghe sao viết vậy, học sinh phải được nhìn, nghe và luyện phát âm đúng (khi giáo viên phát âm mẫu); điểm ngoại lệ là dạy những âm được ghi bằng hai, ba chữ cái:

    Bài đọc trong sách giáo khoa yêu cầu cần đạt chuẩn trang bên trái trước mà học sinh cần đạt, còn trang bên phải chỉ dành cho đối tượng học sinh nắm bài tốt và nhanh hơn, có thể lựa chọn 1 đoạn theo yêu cầu phù hợp với đối tượng học sinh để cho học sinh đọc không nhất thiết phải cho học sinh đọc cả bài. Cần bám chuẩn chương trình cụ thể: cuối học kỳ I bài đọc 20 tiếng, bài viết 1 tiếng/ phút.

    Ví dụ: có thể học sinh đọc lại cho cô viết, giáo viên hỏi luyện cho học sinh viết, giáo viên viết nguyên âm, phụ âm vào bìa rô ky cho học sinh đọc trước khi vào lớp, ôn hàng ngày, để học sinh thuộc lòng.

    đọc phân tích để “kiểm tra” đọc trơn. Đọc trơn để “thẩm định” đọc phân tích.

    cờ được ghi bằng con chữ cờ (c), con chữ ka (k), con chữ cu (q); đánh vần ví dụ:i và y giáo viên thực hiện so sánh vào cuối việc 1, cần đọc mẫu hướng dẫn cách đọc và viết phải chuẩn. : cờ -a-ca; cờ- e- ke; cờ- ua- cua; cờ-oa- qua…

    ch, kh, ng, ngh, gh, nh, ph, th…(thường được dạy liền nhau để dễ phân biệt và gắn liền với luật chính tả: c- ch; g-gh; ng- ngh); nếu học sinh không nhớgiáo viên phải nói ra các âm được ghi bằng hai, ba chữ cái đồng thời thường xuyên cho học sinh nêu lại luật chính tả: g/gh, ng/ngh: tương tự cấu trúc như với c k;riêng đối với những trường hợpnhư tr/ch; v/d/gi; r/d; s/x và các dấu thanh, đọc từ phiên âm tiếng nước ngoài, cũng bắt đầu được dạy từ giai đoạn này (sẽ đề cập ở phần sau). Về các giai đoạn sau này, nội dung dạy học cũng luôn được lặp lại, yêu cầu học sinh nhắc lại thường xuyên khi học các mẫu 2,3,4,5.

    khi dạy chữ thì cần chú ý bộ nét, cơ bản là dạy đặt bút, chấm tọa độ, kéo viết, kết thúc, tên nét phải nắm và thuộc, học sinh quên giáo viên cho học sinh nhắc lại để nhớ, củng cố cho học sinh viết các nét và thuộc các nét.

    Nguyễn Thị Lan @ 11:15 21/11/2018

    Số lượt xem: 3016

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Sgk Lớp 1 Mới: Nặng Là Do Chưa Biết Cách Dạy?
  • Tp.hcm Sẽ Dạy Trực Tuyến Cho Cả Học Sinh Lớp 1, Cha Mẹ Lưu Ý Để Sắp Xếp Kế Hoạch Học Bài Cho Con
  • Xem Chuyên Đê: Một Số Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục
  • 11 Câu Phân Tích Kế Hoạch Bài Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 1.
  • Kế Hoạch Dạy Học Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp Hai

    --- Bài mới hơn ---

  • Ở Trường Cô Dạy Em Thế
  • “ở Trường Cô Dạy Em Thế”
  • Cách Dạy Bé Đánh Vần Ghép Chữ Trước Khi Vào Lớp 1 Tại Nhà Cực Hay
  • Phụ Huynh Bế Tắc Khi Dạy Con Học Tiếng Việt Lớp 1
  • Bản Chất Của Việc Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1.cgd
  • Đồ dùng dạy học với tư cách là công cụ lao động của giáo viên và học sinh được sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng bộ môn. Đồ dùng dạy học không những đóng vai trò minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn cung cấp nội dung thông tin học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.

    Nghị quyết 40/2000 – QH 10 của Quốc Hội nước ta về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã nêu rõ : “Đối với nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học”.

    Sử dụng đồ dùng dạy học đã tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy – học và hoạt động theo hướng tích cực hoá, cá thể hoá người học trong hoạt động học tập rèn luyện ; phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của mỗi học sinh.

    Đồ dùng dạy học đẩy mạnh được hoạt động nhận thức của học sinh. Giúp học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh, hợp lý hoá quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh.

    Với tầm quan trọng của ĐDDH và những thực trạng mà tôi đã nêu ra từ đồng nghiệp cũng chính là tồn tại của bản thân. Chính vì vậy, tôi đã suy nghĩ và tìm ra “một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt lớp Hai”.

    Tên đề tài : MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP HAI. A. ĐẶT VẤN ĐỀ : a) Tầm quan trọng của vấn đề : Đồ dùng dạy học với tư cách là công cụ lao động của giáo viên và học sinh được sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng bộ môn. Đồ dùng dạy học không những đóng vai trò minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn cung cấp nội dung thông tin học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Nghị quyết 40/2000 - QH 10 của Quốc Hội nước ta về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã nêu rõ : "Đối với nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học". Sử dụng đồ dùng dạy học đã tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy - học và hoạt động theo hướng tích cực hoá, cá thể hoá người học trong hoạt động học tập rèn luyện ; phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của mỗi học sinh. Đồ dùng dạy học đẩy mạnh được hoạt động nhận thức của học sinh. Giúp học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh, hợp lý hoá quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh. Với tầm quan trọng của ĐDDH và những thực trạng mà tôi đã nêu ra từ đồng nghiệp cũng chính là tồn tại của bản thân. Chính vì vậy, tôi đã suy nghĩ và tìm ra "một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt lớp Hai". b) Giới hạn và phạm vi nghiên cứu : * Đối tượng nghiên cứu : Học sinh lớp 2B. Trường Tiểu học số 1 Duy Vinh * Phạm vi nghiên cứu : Chương trình môn Tiếng Việt lớp 2 ở các phân môn : Tập đọc - Chính tả - Kể chuyện - Tập viết. c) Thực trạng trước khi áp dụng đề tài : Qua những năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, tôi nhận thấy rằng việc sử dụng đồ dùng dạy học ở giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế. Về phần giáo viên qua dự giờ, thao giảng việc sử dụng đồ dùng dạy học còn một số tồn tại như sau : - Việc hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học chưa đúng mục đích, chưa bám sát mục đích đã định của bài học, sử dụng chưa đúng lúc làm phân tán sự tập trung chú ý của học sinh, ảnh hưởng tới quá trình tiếp thu của các em. - Sử dụng đồ dùng dạy học chưa đúng chỗ, xác định vị trí của đồ dùng, trình bày ở nơi chưa hợp lí để mọi học sinh trong lớp quan sát được. - Sử dụng chưa đúng mức độ, chưa phù hợp mục đích, yêu cầu bài học, chưa đúng đặc trưng bộ môn Tiếng Việt, chưa phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh. Về phía học sinh, nhược điểm của các em quan sát không có chủ định. Nhìn vào bức tranh, ảnh các em thường không tập trung chú ý vào những nhân vật, sự vật chủ yếu thể hiện nội dung cơ bản của bài học, mà lại chú ý những đối tượng mà mình ưa thích, dù đấy chỉ là những đối tượng thứ yếu. B. CƠ SỞ LÝ LUẬN : Sử dụng ĐDDH trong dạy - học Tiếng Việt nhằm mục đích giúp cho giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn. Hoạt động học sinh tham gia quá trình sử dụng ĐDDH, điều chủ yếu là bồi dưỡng cho các em phương pháp suy nghĩ, diễn tả, nghiên cứu phương pháp, giải quyết vấn đề. Để phát huy hết tác dụng của ĐDDH, điều quan trọng nhất là phải xác định đúng các tình huống sư phạm, phù hợp với đặc trưng bộ môn, trong từng tiết học cụ thể. Tình huống sư phạm sẽ quy định thời điểm, phương pháp và mức độ khai thác nội dung các ĐDDH trong quá trình lên lớp. Hoạt động nhận thức của học sinh từ chưa biết đến hiểu biết, đến kĩ năng, kĩ xảo và vận dụng vào thực tiễn. Lê-Nin đã từng khẳng định con đường biện chứng của nhận thức là : "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của dẫn chứng chân lí, nhận thức hiện thực khách quan". Sử dụng ĐDDH trong quá trình dạy học là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, bằng hành động vật chất, bằng ngôn ngữ bên ngoài tác động vào cảm giác để chuyển thành ngôn ngữ bên trong phù hợp với đặc điểm của học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2. Trên cơ sở đó, hình thành các khái niệm, định luật, luận thuyết khoa học. C. CƠ SỞ THỰC TIỄN : Trong những năm học này, toàn ngành hưởng ứng cuộc vận động "Hai không" với 5 nội dung mới trong đó có nội dung "Nói không với đọc - chép trong dạy học" nội dung này phù hợp với phương pháp "lấy học sinh làm trung tâm". Đây là nội dung thiết yếu nhằm đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh, giúp học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách con người Viêt Nam XHCN, kích thích sự hứng thú nhận thức của học sinh. Với tầm quan trọng như thế, nhưng trong thực tiễn giảng dạy hiện nay vẫn còn một số giáo viên chưa nắm được nguyên tắc sử dụng, chưa coi trọng việc sử dụng ĐDDH, trong dự giờ đồng nghiệp vẫn còn tồn tại : sử dụng ĐDDH chưa hiệu quả, chưa phát huy tác dụng, chưa khoa học ... Để nhận thức rõ tầm quan trọng của việc sử dụng ĐDDH, thực hiện nghiêm túc việc "Không đọc chép trong dạy - học" và khắc phục những tình trạng nêu trên, tôi đã suy nghĩ và tìm ra : "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ĐDDH môn Tiếng Việt lớp Hai". D. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU : Để nâng cao hiệu quả sử dụng ĐDDH, tôi đã thực hiện một số biện pháp trong từng phân môn ở môn Tiếng Việt, đảm bảo theo các nguyên tắc cơ bản : + Sử dụng đúng mục đích. + Sử dụng đúng lúc. + Sử dụng đúng chỗ. + Sử dụng đúng mức độ. Cụ thể là : a) Biện pháp 1 : Sử dụng tranh ảnh, mẫu vật trong phân môn tập đọc : * Thời gian thực hiện : * Biện pháp thực hiện : Trong phân môn tập đọc, sử dụng ĐDDH chủ yếu nhằm mục đích giúp cho học sinh hiểu và cảm thụ nội dung thơ văn tốt hơn. Việc sử dụng ĐDDH trong phân môn tập đọc rất cần thiết, song tôi luôn căn cứ vào nội dung từng bài đọc cụ thể mà lựa chọn những đồ dùng dạy học cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu cần và đủ, giúp cho bài giảng đạt được mục đích đã định. + Ví dụ 1 : Bài : Câu chuyện bó đũa. - Vật mẫu : 1 bó đũa. Đây là câu chuyện khuyên anh em trong nhà phải đoàn kết, thương yêu nhau, đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh. Với bài này, tôi đã hướng dẫn học sinh quan sát tranh, tìm hiểu nội dung tranh vẽ những gì ? Sau 2 phút quan sát tranh, học sinh trả lời tranh vẽ : Một người bố cầm trong tay bó đũa và bốn người con đang đứng xung quanh người bố, nghe bố nói điều gì. GV vào bài : Để xem người bố khuyên các con điều gì, cô cùng các em tìm hiểu nội dung bài : Câu chuyện bó đũa. Trong quá trình tìm hiểu bài, tôi vẫn sử dụng bức tranh ấy để hướng dẫn các em khai thác nội dung. Ví dụ : Câu1 : Câu chuyện này có những nhân vật nào ? Học sinh nhìn vào tranh và nói được ngay có 5 nhân vật : ông cụ và 4 người con. Đến đoạn tìm hiểu : Một chiếc đũa được ngầm so sánh gì ? Bó đũa được ngầm so sánh gì ? Để giúp các em cảm nhận được một chiếc đũa được ngầm so sánh với từng người con, với sự chia rẽ, với sự mất đoàn kết. Tôi đã sử dụng mẫu vật bó đũa, tháo bó đũa tách ra từng chiếc đũa để các em thấy rõ sự chia rẽ, sự mất đoàn kết. Tôi gộp bó đũa lại được ngầm so sánh với 4 người con, với sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau, với sự đoàn kết. Tôi kết hợp giảng từ "đoàn kết" là yêu thương, đùm bọc nhau, chung sức lại để làm việc. + Ví dụ 2 : Sông Hương. + Mẫu vật : Hoa phượng vĩ. Ví dụ : Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu : Vào mùa hè, Sông Hương đổi màu như thế nào ? (Học sinh đọc thầm đoạn 2 trong bài để trả lời) : Vào mùa hè : Sông Hương thay chiếc áo xanh hằng ngày thành dải lụa đào ửng hồng cả phố phường. Sau khi học sinh trả lời xong tôi lại đặt vấn đề cho các em suy nghĩ : Do đâu có sự thay đổi ấy ? Tôi lại treo tranh, gợi mở chỉ trên hình ảnh cho các em nhận rõ những cây phượng vĩ nở đỏ rực hai bên bờ. Từ đó các em suy nghĩ trả lời : Do hoa phượng vĩ nở đỏ rực hai bên bờ in bóng xuống dòng nước. Kết hợp cho học sinh quan sát vật mẫu "hoa phượng vĩ" để giảng từ "đỏ rực". Biện pháp 2 : Sử dụng đồ dùng dạy - học trong phân môn Kể chuyện : Phân môn kể chuyện có nhiệm vụ rèn luyện trí nhớ cho học sinh. Có ghi nhớ nội dung các em mới kể chuyện lưu loát, trôi chảy, diễn cảm. Ở lớp Hai, điểm khác biệt về nội dung phân môn kể chuyện là sự gắn bó chặt chẽ với phân môn tập đọc. Nội dung cả 31 tiết kể chuyện đều là kể lại những câu chuyện các em đã học trong các bài tập đọc 2 tiết mở đầu mỗi tuần, nhờ thế các em kể lại chuyện một cách tự tin. Khi hướng dẫn học sinh sử dụng bảng con tôi lưu ý : Học sinh luyện viết chữ trên mặt bảng con có dòng kẻ ô li. Ngồi viết đúng tư thế ; biết cách cầm phấn và trình bày chữ viết trên dòng kẻ ở bảng con đúng, đủ yêu cầu. Học sinh có thói quen giơ bảng, hạ bảng, xoá bảng bảo đảm yêu cầu, hợp vệ sinh. c. Vở Tập viết : Vở tập viết lớp 2 do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành là phương tiện luyện tập thực hành quan trọng của học sinh. Nội dung mỗi bài tập viết được thiết kế trên 2 trang vở có chữ viết mẫu trên dòng kẻ li, cấu trúc như sau : (Trang lẻ) : - Tập viết ở lớp ( kí hiệu l ), bao gồm các yêu cầu tập viết như sau : + 1 dòng chữ cái viết hoa cỡ vừa ; + 2 dòng chữ cái viết hoa cỡ nhỏ ; + 1 dòng viết ứng dụng (chữ ghi tiếng có chữ cái viết hoa) cỡ vừa ; + 1 dòng viết ứng dụng (chữ ghi tiếng có chữ cái viết hoa) cỡ nhỏ ; + 3 dòng viết ứng dụng (cụm từ có chữ viết hoa) cỡ nhỏ. - Tập viết nghiêng (tự chọn) - kí hiệu ". (Tranh chẵn) : - Luyện viết ở nhà (kí hiệu n ) - Tập viết nghiêng (tự chọn - kí hiệu ") Sau chữ viết mẫu, trên mỗi dòng kẻ đều có điểm đặt bút (dấu chấm) tôi cho các em xác định rõ đó là điểm đặt bút bắt đầu viết một chữ cái, giúp các em biết viết đúng khoảng cách giữa các chữ. Trước khi bắt đầu luyện tập viết bài vào vở ở mỗi dòng tôi cho các em tô lại chữ mẫu nhằm giúp các em xác định đúng điểm đặt bút, điểm dừng bút, viết đúng quy trình viết chữ. - Tôi nhắc các em nắm vững yêu cầu tập viết (viết chữ gì, viết bao nhiêu dòng, mỗi chữ viêt cách nhau một con chữ "o"). - Tôi yêu cầu các em nhớ lại hình dạng, quy trình viết chữ đã học và luyện tập trên bảng con, dựa vào điểm đặt bút ở dòng kẻ trên trang vở để viết cho đúng mẫu, rõ ràng, sạch sẽ. Không viết dở dang 1, 2 chữ trong cụm từ ứng dụng trên dòng kẻ. Biện pháp 4 : Sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn Chính tả : Phân môn chính tả nhằm rèn luyện kĩ năng viết, kĩ năng nghe cho học sinh. Kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn cách phát âm, củng cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp tiếngViệt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ ...). Bồi dưỡng một số đức tính, thái độ, tác phong cần thiết trong công việc như tính cẩn thận, tác phong làm việc chính xác, óc thẩm mĩ ... Đồ dùng trong phân môn chính tả gồm có : Bảng phụ, bảng con, tranh ảnh, mẫu vật, ... Biện pháp thực hiện : Bảng phụ : + Tôi dùng bảng phụ để viết các bài tập chép, các bài tập chính tả cần luyện tập trong tiết học, khi lên lớp, tôi không phải viết trên bảng nhóm, giành thêm được thời gian gợi mở, hướng dẫn học sinh làm bài tập, uốn nắn những sai sót, giúp cho việc tiến hành giờ học thuận lợi hiệu quả. + Tôi dùng bảng phụ tổ chức cho các nhóm học sinh thi làm đúng, làm nhanh các bài tập trước lớp. Trong quá trình các nhóm thực hiện có thể bộc lộ những thiếu sót, đó là dịp thuận lợi để tôi phát hiện, nhận xét, uốn nắn kịp thời những sai sót đó. b. Bảng con : + Tôi cho học sinh sử dụng bảng con để luyện tập viết từ khó trước khi viết bài vào vở. Bên cạnh đó, học sinh dùng để điền âm, vần, dấu thanh ,viết từ chứa tiếng có vần đã cho trong các bài tập chính tả. c. Tranh ảnh, mẫu vật : + Hệ thống từ ngữ để học sinh luyện viết chính tả khá phong phú, đa dạng nhằm cung cấp, củng cố, mở rộng vốn từ cho học sinh. Để giúp các em hiểu và viết đúng một số từ ngữ đề cập đến những sự vật, sự việc, hiện tượng xa lạ với vốn sống, vốn hiểu biết, vốn từ ngữ của các em. Đặc biệt đối với những bài các em chưa học tập đọc, tôi đã sử dụng các loại tranh ảnh mẫu vật sau : Ví dụ 1 : Bài Trâu ơi ! Trong đoạn viết có từ "Cấy cày" học sinh hay viết sai là cái cầy, do các em chưa hiểu được nghĩa của từ. Để giúp các em hiểu được nghĩa của từ "Cấy cày" tôi sưu tầm tranh vẽ nghề nông, chúng tôi chỉ hình ảnh cô gái và giảng giải : Đây là hình ảnh cô gái đang cấy lúa trên ruộng. Tay trái cầm một nắm mạ chưa cấy, tay phải cầm một nắm mạ đang cấy xuống ruộng. Cô cấy lúa rất thẳng hàng (chỉ hàng mạ đang cấy). Sau đó tôi cho học sinh quan sát tiếp hình ảnh con trâu đang cày ruộng. Nhờ hình ảnh "cấy lúa", "cày ruộng" học sinh viết đúng từ "Cấy cày". Ví dụ 2 : Con chó nhà hàng xóm. Trong đoạn viết có từ "Cún Bông" chúng tôi cho học sinh xem mẫu vật con Cún Bông (đồ chơi của trẻ em được làm bằng bông) để các em quan sát, tạo được sự hứng thú trong học tập,khắc sâu vốn từ cho học sinh. Biện pháp 5 : Tự làm thêm một số đồ dùng dạy học trong môn Tiếng Việt : Ngoài những đồ dùng dạy học sẵn có, tôi còn tự làm thêm một số đồ dùng có chất lượng nhằm phục vụ giảng dạy môn Tiếng việt đạt hiệu quả cao hơn. + Thẻ từ : . Vật liệu : bảng con cắt đôi, nam châm nhỏ. . Cách sử dụng : Dùng để viết sẵn các từ khó cần luyện đọc cho học sinh trong các tiết tập đọc. Ngoài ra, dùng để hướng dẫn học sinh sắp xếp các từ ở mỗi nhóm thành câu thích hợp và dùng để chơi trò chơi gắn từ thích hợp với hình vẽ tương ứng. Ví dụ : Trong phân môn tập đọc, khi dạy bài : Sông Hương, tôi nghiên cứu chọn ra một số từ khó để rèn đọc cho học sinh yếu như : sắc độ, thảm cỏ, trăng sáng, dát vàng, đặc ân, ... tôi viết những từ đó vào thẻ từ. Khi dạy phần luyện đọc từ khó chúng tôi gắn thẻ từ lên bảng lớp để cả lớp cùng quan sát, gọi học sinh yếu lên đánh vần - đọc trơn từ cần rèn. Trong phân môn Luyện Từ và Câu : Nhằm giúp các em có kĩ năng tạo câu với từ cho sẵn, tôi ghi sẵn các từ vào thẻ từ và sắp xếp như sau : thật tươi Cô dạy tập viết Chúng em học bài Cô mĩm cười Các em dùng thước nối các cụm từ ở bên trái với cụm từ ở bên phải. Chú ý làm sao để các cụm từ có cùng chung nét nghĩa thì câu tạo thành mới có nghĩa. Hiệu quả sử dụng : Giảm được thời gian viết từ khó trong khi luyện đọc. Kích thích được sự hứng thú nhận thức trong học tập. Hợp lí hoá trong quá trình hoạt động dạy - học. + Thẻ A, B, C : Vật liệu : giấy trắng in chữ A, B, C dán vào ống hút. Mỗi em có ba thẻ A, B và C. Cách sử dụng : Dùng để làm các bài tập thực hành trắc nghiệm trong phân môn Tập đọc, ngoài ra còn sử dụng ở các môn Toán, Đạo Đức, Tự nhiên và Xã Hội. Các em sẽ chọn ý đúng và giơ lên theo quy định của giáo viên. VD : Thường bài tập trắc nghiêm có ba ý (a, b, c) nếu chọn ý a, các em giơ thẻ A, nếu chọn ý b, các em giơ thẻ B, chọn ý c, giơ thẻ C. . Hiệu quả sử dụng : Kích thích được sự hứng thú trong học tập, tích cực hoá hoạt động học tập của các em. E. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC : Sau khi nghiên cứu,thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học trong các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Chính tả. Kết quả đạt được như sau : + Về phía giáo viên : Trong quá trình nghiên cứu bài dạy, tôi đã nghiên cứu kĩ phần chuẩn bị đồ dùng dạy học cho từng bài khai thác hết các khía cạnh tích cực của nó, tận dụng hết các chức năng để trình bày, giảng giải, khai thác kiến thức, đồng thời tôi hướng dẫn học sinh quan sát, nghiên cứu khám phá để truyền thụ tốt nhất nội dung bài học. Tôi đã sử dụng đồ dùng dạy học đúng vào thời điểm cần thiết để khai thác truyền thụ một cách hợp lý, giúp học sinh quan sát, tiếp nhận nội dung một cách thuận lợi. Mỗi bước lên lớp khi đồ dùng đã được sử dụng xong chúng tôi cất đi trước khi sử dụng đồ dùng dạy học khác. Tôi luôn xác định đúng vị trí trình bày ở một nơi hợp lý nhất trên lớp, phù hợp với góc nhìn, đảm bảo đủ ánh sáng để học sinh ngồi ở mọi vị trí trong lớp đều có thể quan sát dễ dàng. Mỗi đồ dùng dạy học chứa nhiều nội dung kiến thức khác nhau. Có những kiến thức giới hạn thống nhất với nội dung được trình bày trong sách giáo khoa, song cũng có những kiến thức bổ sung, mở rộng làm rõ thêm một số chi tiết, giúp cho học sinh hiểu một cách đầy đủ hơn. Vì vậy khi sử dụng tôi khai thác đúng mức độ, phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học, đúng đặc trưng phân môn, phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh. Qua các tiết dự giờ của ban giám hiệu nhà trường, của đồng nghiệp, tôi được nhà trường cùng đồng nghiệp đánh giá cao về việc sử dụng đồ dùng dạy học, sử dụng có hiệu quả, phát huy được tác dụng, đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục cao. Kết quả : Các em biết quan sát đồ dùng một cách có tổ chức, có kế hoạch, có suy nghĩ, biết tư duy một cách độc lập, linh hoạt, sáng tạo, biết ghi nhớ một cách hợp lí, khoa học, biết tưởng tượng một cách chính xác, đúng hướng. Trí tuệ các em được phát triển, đã hình thành ở các em thói quen độc lập suy nghĩ, nhìn nhận, phê phán, thói quen nhận thức vấn đề một cách có căn cứ khoa học. Trong giờ học Tiếng Việt các em rất hứng thú, hồ hởi khi được sử dụng đồ dùng dạy. Kết quả chất lượng môn Tiếng Việt của lớp như sau : LỚP TSHS Thời Điểm GIỎI KHÁ T BÌNH YẾU T BÌNH á SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 2B 33/20 GKI 11 33,3 15 45,4 05 12,5 02 6,1 31 93,9 GKII 14 42,4 13 39,4 05 12,5 01 3.0 32 97.0 Hội thi vở sạch chữ đẹp đạt giải nhất đồng đội. G. KẾT LUẬN : Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học. Trong quá trình dạy học, học sinh nhận thức nội dung bài học dưới sự tổ chức, dẫn dắt của giáo viên, có sự hỗ trợ của các đồ dùng dạy học. Đồ dùng dạy học đảm bảo cho học sinh lĩnh hội tốt nhất các biểu tượng, khái niệm, quy tắc, hình thành kĩ năng, kĩ xão. Đối với học sinh tiểu học, đồ dùng dạy học đặc biệt quan trọng vì nó giúp các em quan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan, giúp học sinh nhận thức sâu hơn nội dung bài học, hình thành tốt kĩ năng, kĩ xão. Như Lê Nin đã từng khẳng định con đường biện chứng của nhận thức là : "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan". Tác giả Lê Thị Bích Phương H. TÀI LIỆU THAM KHẢO : 1. Nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên ở các phân môn Tập đọc - Chính tả - Kể chuyện - Tập viết. Nhà xuất bản Giáo dục. 2. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên Giáo viên tiểu học Chu kỳ III 2003- 2007 (tập một). Nhà xuất bản Giáo dục. 3. Chuyên để Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng việt 2 của Nguyễn Minh Thuyết - Nhà xuất bản Giáo dục. 4. Chuyên đề : ''Đổi mới phương pháp dạy - học'' của bộ phận tiểu học (Phòng Giáo dục& Đào tạo Duy Xuyên).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Hiệu Quả, Không Áp Lực
  • Download Mot So Giai Phap Khac Phuc Rao Can Ve Ngon Ngu Nham Nang Cao Hieu Qua Day Hoc Tieng Viet Cho Luu Hoc Sinh Lao O Truong Dai Hoc Ha Tinh
  • Gia Sư Dạy Kèm Bằng Tiếng Anh Tại Nhà Từ Lớp 1 Đến Lớp 12.
  • Dạy Kèm Toán Bằng Tiếng Anh
  • Phương Pháp Luyện Nói Tiếng Trung Cơ Bản
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100