Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng 47.000 Euro

--- Bài mới hơn ---

  • Giữ Gìn Ngôn Ngữ Là Bảo Tồn Văn Hóa Tộc Người Dao Tiền
  • Kỹ Thuật Nấu Sáp Ong Khoái Của Người Dao Tiền
  • Trang Bị Tiếng Dao Thanh Phán Để Cán Bộ, Viên Chức Thực Hiện Tốt Hơn Nhiệm Vụ
  • Top 7 Sách Tự Học Tiếng Anh Hiệu Quả Tại Nhà Mà Bạn Nên Mua
  • Trung Tâm Tiếng Nhật Hoa Anh Đào
  • Chảo Thị Yến.

    Sinh ra trong gia đình có 4 anh chị em người dân tộc Dao, xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Chảo Thị Yến là người con duy nhất được bố mẹ đầu tư học cao. Yến cho biết, năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với Yến và tất cả mọi người tại huyện Bát Xát. Trong chớp mắt cả 16 nóc nhà của đồng bào Dao bị lũ cuốn phăng, 21 người trôi mất tích. 5 giờ sáng, giữa lúc mọi người đang ngủ, cơn lũ oan nghiệt bất ngờ ập đến nên chẳng ai kịp thoát. Chỉ duy nhất một nhà (bảy người) thấy động, tỉnh giấc chạy ngược lên đồi cao là sống sót.

    “Chỉ trong một đêm, cả một làng của huyện em bị lũ cuốn trôi. Còn nhà em, rất may không bị ảnh hưởng nặng nhưng 50% diện tích ruộng của gia đình đã bị lũ cuốn mất và không bao giờ có thể lấy lại được” – Yến rưng rưng.

    Ngày đó, Yến đang là học sinh của trường THPT Bát Xát 2. Khi xuống trường, xem ti vi mới biết vì con người phá rừng nên mới bị lũ. “Ngày nhỏ em cứ nghĩ rừng hiển nhiên phải phục vụ con người. Nhà hết củi, em vào rừng lấy. Nhà hết lương thực, em vào rừng tìm. Nhưng trận lũ lịch sử năm 2008 đã thay đổi hoàn toàn nhận thức của em về rừng, không những thế, nó cũng làm thay đổi con đường đi của em sau này” – Yến cho biết.

    Tuy nhiên, mong muốn là thế nhưng cũng không ai hướng dẫn, tư vấn cho em phải học khối nào, thi ở trường nào thế nên em vẫn chọn khối C để ôn luyện thi ĐH. Năm lớp 12, Yến được nhà trường phát cho một số thông tin tuyển sinh của các trường ĐH. Yến thấy ĐH Lâm nghiệp có ngành quản lý rừng nên đã chọn đăng ký. Tuy nhiên, chọn xong cũng là lúc chuẩn bị thi, Yến mới biết 3 năm ôn khối C nhưng 3 ngày sẽ thi khối A. Nhưng may mắn, cùng với điểm khu vực, đối tượng ưu tiên, Yến đã đỗ được vào khoa quản lý tài nguyên rừng như mong ước.

    Cuối năm thứ nhất, Yến được thầy cô trong ĐH Lâm nghiệp giới thiệu chương trình tiên tiến ngành quản lý tài nguyên thiên nhiên, thấy hợp lý, Yến quyết định chuyển sang học. “Em chỉ nghĩ học chương trình tiên tiến sẽ được học tiếng Anh, ra trường sẽ dễ xin việc hơn” – Yến tâm sự.

    Nhưng mọi việc không đơn giản như Yến hình dung trước lúc chọn ngành học. “Suốt học kỳ I năm học thứ hai, em lên lớp ngồi nghe thấy giảng mà không biết các bạn cười vì lý do gì. Vì lên THPT em mới được học tiếng Anh. Học xong 3 năm, em chỉ biết số đếm với mấy câu chào hỏi. Nên khi vào lớp nghe giảng, em như vịt nghe sấm. Chính vì vậy, em thường xuyên bỏ học” – Yến cho hay. Kết thúc học kỳ, kết quả học tập của Yến cực kỳ bết bát, 1,79 (điểm tính theo tín chỉ). Một bạn người dân tộc Tày ở Cao Bằng học cùng lớp với Yến đã phải bỏ học vì không thể theo kịp chương trình. “Em bắt đầu suy nghĩ. Học phí của chương trình tiên tiến rất đắt (14 triệu/năm), gia đình lại khó khăn. Nếu bỏ giữa chừng, em phụ công cha mẹ và không thực hiện được mơ ước của mình. Thế là em lên kế hoạch để chinh phục môn tiếng Anh” – Yến cho hay.

    Bắt đầu từ vạch xuất phát số 0, Yến nhờ sự trợ giúp của một bạn sinh viên nữ người Đức gốc Việt sang ĐH Lâm nghiệp làm tình nguyện viên hướng dẫn học tiếng Anh. “Hàng ngày, buổi nào không học em với bạn ấy đi lên đồi lâm nghiệp – khu đồi sau ĐH Lâm nghiệp – để học từng từ tiếng Anh. Tối về phòng, em xem phim, nghe nhạc. Em xem đi xem lại toàn bộ 12 phần của bộ phim Hai người bạn để học tiếng Anh. Nghe được từ nào em ghi ra giấy, dán khắp phòng” – Yến chia sẻ bí quyết.

    Không những thế, kết thúc thời gian học tại trường, Yến tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi, điều mà trước đó, ngay cả bản thân em cũng không ngờ tới. Tốt nghiệp năm 2022, Yến xin vào làm tại một công ty ở Hưng Yên. Nhưng cuối năm 2022, Yến xin thôi việc và nộp hồ sơ vào tập đoàn Sun Group để làm việc tại khu vực cáp treo Sapa.

    Trong lúc đợi việc, Yến làm hồ sơ xin học bổng học thạc sĩ tại trường ĐH Gottingen (CHLB Đức) ngành quản lý tài nguyên thiên nhiên. Đúng ngày 8/3, Yến nhận được thông báo của trường là em đã trúng tuyển và nhận được học bổng 47.000 euro cho toàn khóa học.

    Ngày 28/8 tới, Yến sẽ lên đường sang Đức nhập học. “Em là người đầu tiên của xã Nậm Chạc học đại học và giờ cũng là người đầu tiên đi du học nước ngoài” – Yến cho hay. Chia sẻ về dự định tương lai, Yến mong muốn học xong, trở về Việt Nam có việc làm và làm được đúng ngành mình đã học, đã thích, đã mơ ước đó là bảo vệ rừng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng Thạc Sĩ 47.000 Euro
  • Cô Gái Người Dao Ở Xã Nghèo Biên Giới Trúng Học Bổng 50.000 Usd
  • Chuyện Chưa Kể Về Cô Gái Người Dao Đỗ Học Bổng Thạc Sĩ Tiền Tỉ Của Đức
  • Muốn Làm Thầy Mo Của Người Dao Đỏ, Phải Qua 3 Lễ Tắm Than
  • Giới Thiệu Sách: Từ Điển Thái
  • Đảng Viên Người Dân Tộc Dao Dân Vận Khéo

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Dạy Chính Tả Lớp 2 Cho Học Sinh Đồng Bào Dân Tộc Ê Đê
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Dân Tộc Ê Đê Ở Đắk Lắk
  • Xao Xuyến Nét Đẹp Trong Sáng Của Cô Gái Dân Tộc Giáy
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Nhạc Cụ Của Dân Tộc Giáy Tại Tỉnh Lào Cai (Mông Xuân Vanh)
  • Người Giữ Vốn Quý Của Dân Tộc Giáy
  • Gần 30 năm tuổi Đảng, với vai trò là cầu nối giữa Đảng ủy, chính quyền xã Phú Thịnh và người dân trên địa bàn, trong các cuộc họp chi bộ thôn, ông Dau luôn phổ biến tới đồng bào chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước. Ông Dau chia sẻ, sau mỗi lần được tham gia các lớp tập huấn công tác Đảng hay đi học tập những mô hình phát triển kinh tế hiệu quả trong tỉnh do xã tổ chức, ông đều đem kiến thức, kinh nghiệm về chia sẻ cùng nhân dân toàn thôn.

    Ông Lý Văn Dau thân thiện trong mắt bà con thôn Nghẹt.

    Ảnh: Nam Sương – TTXVN

    Là Trưởng thôn, ông Dau luôn gương mẫu, đi đầu trong phát triển kinh tế. Gia đình ông có 7 ha đất rừng (trong đó 3 ha đất rừng sản xuất, 4 ha rừng phòng hộ), thu hoạch từ trồng rừng mỗi năm đạt gần 200 triệu đồng. Ông Dau cũng vận động các hộ tăng gia sản xuất, chú trọng trồng rừng, phát triển kinh tế, góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo của thôn. Thôn Nghẹt hiện có hơn 400 ha rừng, trong đó 280 ha rừng sản xuất. Toàn thôn có 113 hộ, 100% là đồng bào Dao (quần trắng). Đầu năm 2022, số hộ nghèo của thôn là 52 hộ (chiếm gần 50%); nhờ tích cực thực hiện chính sách chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang trồng rừng, đến cuối tháng 9, số hộ nghèo giảm xuống còn 21 hộ (chiếm 19%).

    Thực hiện công tác dân vận, ông Dau đến từng nhà để tuyên truyền, động viên đồng bào thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Năm 2012, thôn Nghẹt được đầu tư dự án công trình nước sạch, ông Dau đã vận động nhiều gia đình trong thôn hiến hàng trăm mét đất thổ cư và ngày công lao động hỗ trợ dự án. Năm 2022, thực hiện dự án kiên cố hóa kênh mương, ông tiếp tục vận động nhân dân trong thôn hỗ trợ đóng góp ngày công lao động để lắp đặt hơn 400 mét cấu kiện kênh mương.

    Ông Lý Văn Thông, ở thôn Nghẹt, xã Phú Thịnh, huyện Yên Sơn, cho biết sau khi được ông Dau phổ biến về dự án nước sạch của thôn sẽ đi qua nhà mình, ông đã tình nguyện hiến hơn 30 mét vuông đất vườn thổ cư cho dự án. Cũng nhờ sự vận động, tuyên truyền của ông Dau, ông Thông đã tham gia nhận giao rừng với hơn 8 ha (3 ha rừng sản xuất, 5 ha rừng phòng hộ). Hiện nay, gia đình ông Thông không chỉ thoát nghèo mà còn đầu tư chuồng trại để nuôi lợn. Ngoài tiền thu hoạch rừng (trên 100 triệu đồng/năm), đàn lợn hơn 10 con của gia đình ông cũng bắt đầu có lãi.

    Không chỉ là một Bí thư, Trưởng thôn gương mẫu, ông Dau cùng những người cao tuổi trong thôn luôn tích cực giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn bản sắc văn hóa, trang phục, tiếng nói, phong tục tập quán truyền thống của dân tộc Dao. Các tiết mục văn nghệ của đồng bào Dao (quần trắng) thôn Nghẹt luôn được xã Phú Thịnh lựa chọn tham gia giao lưu với các xã, huyện khác trong tỉnh Tuyên Quang.

    Ông Dau (trái) thân thiện trong mắt bà con thôn Nghẹt.

    Ông Tạ Xuân Trình, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Phú Thịnh khẳng định, với 100% đồng bào Dao, thuộc diện nghèo của xã, thôn Nghẹt được bố trí Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn từ năm 2022. Đảng ủy xã xác định lựa chọn người có uy tín cao nhất của đồng bào trong thôn để bầu giữ chức Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn. Ông Lý Văn Dau là đảng viên lâu năm, giàu kinh nghiệm, trong công tác Đảng cũng như vai trò Trưởng thôn, luôn gương mẫu, mẫn cán, tận tình với nhân dân. Việc đưa người có uy tín, kinh nghiệm lên giữ vai trò lãnh đạo, cầu nối giữa chi bộ Đảng cơ sở với Đảng ủy xã là động lực quan trọng không chỉ trong phát triển kinh tế, đảm bảo công tác tuyên truyền, thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, mà còn góp phần ổn định dân cư, giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương.

    Với những cống hiến cho công tác dân vận, luôn gương mẫu đi đầu trong triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương, năm 2022, ông Dau vinh dự được nhận Giấy khen “Dân vận khéo” của huyện Yên Sơn. Tháng 8/2019, ông Dau được địa phương lựa chọn là người có uy tín tiêu biểu của huyện Yên Sơn đi dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang lần thứ III – năm 2022./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Dân Tộc Dao Ở Việt Nam (Vi Đức Hòi)
  • Dịch Thuật Công Chứng Tiếng Sán Chay
  • Dân Ca Dân Nhạc Vn
  • Vien Sot Ret Ky Sinh Trung
  • Kỹ Năng Đọc Chữ Tiếng Việt Của Học Sinh Lớp 1 Người Dân Tộc Cơ Ho
  • Kỹ Thuật Nấu Sáp Ong Khoái Của Người Dao Tiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Trang Bị Tiếng Dao Thanh Phán Để Cán Bộ, Viên Chức Thực Hiện Tốt Hơn Nhiệm Vụ
  • Top 7 Sách Tự Học Tiếng Anh Hiệu Quả Tại Nhà Mà Bạn Nên Mua
  • Trung Tâm Tiếng Nhật Hoa Anh Đào
  • Top 3 Phần Mềm Học Tiếng Anh Miễn Phí Tốt Nhất
  • 04 Cách Học Tiếng Anh Online Miễn Phí Cho Sinh Viên
  • Sáp ong khoái là nguyên liệu độc đáo đã được bao thế hệ người Dao Tiền ở xóm Hoài Khao, xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình dùng để in các họa tiết, hoa văn trên trang phục. Sáp ong có nhiều loại, nhưng để in hoa văn trên trang phục váy áo thì sáp ong khoái là loại tốt nhất. Bởi vậy, sáp ong khoái là nguyên liệu quan trọng không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Dao. Công đoạn nấu sáp ong khoái cũng đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại của những người dân bản địa.

    Bà con xé nhỏ các vỉa tổ ong khoái cho vào chảo đun.

    Sau bữa cơm thân mật, thắm đượm đậm nghĩa tình làng xóm khi các vỉa tổ ong khoái được lấy về, bà con xóm Hoài Khao lại bắt tay vào việc nấu lấy sáp ong. Đây là một trong những công việc khá cầu kỳ, quyết định sự thành công hay thất bại của việc nấu lấy sáp ong. Vì vậy, cả xóm lại phải bốc thăm chia thành 6 tổ, thay phiên làm theo ca, mỗi ca 2 tiếng đồng hồ. Trong đó, tổ trưởng là người nhiều kinh nghiệm chịu trách nhiệm chính. 3 cái chảo trâu to được rửa sạch, 2 cái đặt trên bếp chuyên dùng để đun nấu sáp ong, 1 cái dùng để hứng nước sáp ong. Bên bếp lửa bập bùng, mọi người cùng nhau nhặt từng vỉa tổ ong khoái cho vào 2 chảo trên bếp và đổ nước vào để nấu. Nước sôi, sáp ong nguyên chất tan dần khỏi tổ, hòa vào nước đang sôi, nhìn loang loáng như vết dầu loang trên mặt nước.

    Nước sôi, sáp ong nguyên chất tan dần khỏi tổ.

    Gặp nước nóng, sáp ong tan chảy ra, nhưng vẫn còn sáp ong xót lại trong những vỉa tổ ong. Vì vậy, bà con đã chuẩn bị sẵn những cái giỏ đan bằng tre nứa xúc những vỉa tổ ong đang đun trong chảo chuyển sang chiếc chảo để không ở ngoài, rồi dùng 2 thanh tre kẹp để ép nước sáp ong chảy ra xuống chảo. Sáp ong thô được loại bỏ ra ngoài. Sau khi ép sáp ong xuống chảo rồi đổ nước lạnh vào chảo, sáp ong gặp nước lạnh, kết tinh dần tạo thành từng vỉa vàng óng nổi trên mặt nước. Người ta dùng rổ vớt sáp ong nguyên chất, bóp cho ra hết nước còn lại rồi cho vào bao tải. Công việc được tiến hành liên tục, các tổ thay phiên nhau, mỗi người một việc, người đun lửa, người ép sáp. Lần lượt hết đội này lại đến đội khác thay ca. Tiếng cười, tiếng nói của các chị em vừa làm vừa hát vang vọng cả núi rừng, xua tan màn đêm tĩnh mịch.

    Sáp ong nguyên chất sau khi tách khỏi tổ ong…

    Quy trình nấu sáp ong khoái không cầu kỳ nhưng đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại, không hấp tấp, vội vàng… Với tinh thần làm việc nhiệt tình, vui vẻ, đêm càng trôi nhanh. Bao tải đựng sáp ong nguyên chất mỗi lúc một đầy thêm. Công đoạn cuối cùng là cô sáp ong thành khối nguyên chất. Lúc này, những vỉa sáp ong đã vớt lên một lần nữa được rửa sạch, loại bỏ hết tạp chất mới được cho vào chảo cô lại, đảm bảo tinh khiết để dùng dần. Đây là bước quan trọng, nấu mà thúc củi cháy to, sáp ong bén lửa có thể bùng cháy to và cháy cả nhà. Vì vậy, khâu này đòi hỏi người phải có kinh nghiệm và thận trọng trong việc đun nấu. Khi những mẻ sáp ong đã được cô lại, phải để nguội mới lấy ra để cho các hộ gia đình trong xóm.

    … được đun trên chảo một lần nữa để cô lại thành khối để dùng dần.

    Sáp ong khoái là nguyên liệu độc đáo đã được bao thế hệ người Dao ở Hoài Khao dùng để in các họa tiết, hoa văn trên trang phục. Sáp ong có nhiều loại, nhưng để in hoa văn trên trang phục váy áo thì sáp ong khoái là loại tốt nhất. Bởi vậy, sáp ong khoái là nguyên liệu quan trọng không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Dao. Bà Đặng Thị Mai – một người dân trong xóm, từ khi lên 10 tuổi đã được mẹ truyền dạy cho nghề in hoa văn bằng sáp ong. Cùng với kinh nghiệm lâu năm và sử dụng nguyên liệu sáp ong khoái, bà Mai đã thêu thùa, in hoa văn tạo nên những bộ trang phục đẹp lộng lẫy để các thiếu nữ người Dao Tiền trình diện trong các dịp lễ hội, ngày cưới xin… Bà cũng làm ra những bộ trang phục cho thầy mo, thầy tào mặc làm lễ cấp sắc…

    Sáp ong khoái là nguyên liệu độc đáo đã được bao thế hệ người Dao ở Hoài Khao dùng để in các họa tiết, hoa văn trên trang phục.

    Sáp ong khoái luôn gắn liền với đời sống văn hóa tâm linh của người Dao, là nguyên liệu tạo nên những bộ trang phục truyền thống của dân tộc. Vì vậy, bà con nhân dân xóm Hoài Khao luôn luôn tôn thờ ong khoái, hàng năm luôn bảo vệ và thờ cúng cho ong khoái mùa xuân ấm áp lại trở về, mang theo sự may mắn, phù hộ cho cả xóm luôn được bình an, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giữ Gìn Ngôn Ngữ Là Bảo Tồn Văn Hóa Tộc Người Dao Tiền
  • Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng 47.000 Euro
  • Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng Thạc Sĩ 47.000 Euro
  • Cô Gái Người Dao Ở Xã Nghèo Biên Giới Trúng Học Bổng 50.000 Usd
  • Chuyện Chưa Kể Về Cô Gái Người Dao Đỗ Học Bổng Thạc Sĩ Tiền Tỉ Của Đức
  • Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng Thạc Sĩ 47.000 Euro

    --- Bài mới hơn ---

  • Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng 47.000 Euro
  • Giữ Gìn Ngôn Ngữ Là Bảo Tồn Văn Hóa Tộc Người Dao Tiền
  • Kỹ Thuật Nấu Sáp Ong Khoái Của Người Dao Tiền
  • Trang Bị Tiếng Dao Thanh Phán Để Cán Bộ, Viên Chức Thực Hiện Tốt Hơn Nhiệm Vụ
  • Top 7 Sách Tự Học Tiếng Anh Hiệu Quả Tại Nhà Mà Bạn Nên Mua
  • Tranh thủ trước ngày lên đường sang Đức du học, Chảo Thị Yến (26 tuổi) đưa bố mẹ và em trai từ Lào Cai xuống Hà Nội chơi. Nhà 4 chị em chỉ Yến vào đại học. Cô gái dân tộc Dao là người đầu tiên ở thôn Ngám Xá, xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát giành học bổng SUFONAMA đi học thạc sĩ 2 năm bên Đức về quản lý tài nguyên rừng bền vững. Suất học bổng trị giá 47.000 Euro (gần 1,2 tỷ đồng).

    Ngám Xá nằm sát biên giới Việt – Trung, cuộc sống của người Dao, Dáy nơi đây còn nhiều khốn khó. Con đường đi học của Yến vì thế gập ghềnh hơn. Học khá, thiếu nữ ước mơ sẽ thành cô giáo dạy chữ cho học sinh. “Làm giáo viên và bác sĩ hầu như là ước mơ của mọi đứa trẻ được đi học nơi đây vì chúng em cũng chỉ biết hai ngành đó”, Yến chia sẻ.

    Hết lớp 9, cô phải nghỉ học ở nhà đi làm nương vì nếp nghĩ “con gái học nhiều chỉ tốn của, lấy chồng thành con nhà người ta” ăn sâu vào tiềm thức người dân, kể cả bố mẹ Yến. Suốt 3 năm, Yến nhiều lần xin bố mẹ cho đi học trở lại, cùng với sự thuyết phục thường xuyên của t hầy Bùi Chí Thanh (Hiệu trưởng THCS Nậm Chạc), cuối cùng bố mẹ em đồng ý. Yến thi đỗ vào trường THPT số 2 Bát Xát, hào hứng nhập trường để hiện thực ước mơ làm cô giáo.

    Trận lũ làm thay đổi cuộc đời

    Tháng 8/2008, Lào Cai hứng chịu trận lũ lịch sử nhiều năm chưa từng thấy. “Lũ cuốn trôi hết trâu bò, ruộng nương, cả mấy mảnh ruộng nhà em ở ven suối. Nguồn sống của gia đình gần như mất sạch”, Yến nghẹn ngào nhớ lại.

    Cô học trò lớp 11 khi ấy nhiều đêm trăn trở, cuối cùng quyết định “thôi mình đừng chọn giống đa số nữa, học lâm nghiệp để còn nghĩ cách giữ rừng, hạn chế lũ”. Yến chọn Đại học Lâm nghiệp, ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường để thi, đậu vào với số điểm vừa đủ.

    Gần hết học kỳ 1 năm nhất, khi nghe thầy giáo giới thiệu chương trình học tiên tiến bằng tiếng Anh, Yến mạnh dạn đăng ký chuyển lớp. Suy nghĩ ban đầu của cô đơn giản lắm “Mình cứ học tiếng Anh cho giỏi, biết đâu ra trường dễ xin việc hơn”. Thế nhưng, việc học chẳng dễ dàng gì. Giáo trình và trao đổi trên lớp đều bằng tiếng Anh khiến cô gái người Dao không hiểu lời giảng, run cầm cập khi lên bảng giới thiệu bằng tiếng Anh.

    “Không hiểu, không nói được tiếng Anh khiến em thấy bế tắc. Học kỳ ấy em nghỉ suốt, đến lớp thì chọn chỗ cuối để ngồi, cúi gằm mặt xuống khi nghe mọi người trao đổi, cầm quyển vở tô vẽ cho hết buổi rồi đi về”, cô nhớ lại.

    Nghĩ đến bố mẹ ở quê vì lo cho con học lớp tiên tiến mà không đủ gạo ăn, em trai không được vào đại học, Yến lại tự trách mình rồi quyết tâm học. May mắn khi cô gặp được Kim – tình nguyện viên người Đức gốc Việt sang dạy tiếng Anh cho sinh viên trong trường. Vào các buổi chiều, Yến nhờ Kim giúp luyện phát âm. Vì run mà cô không thể bật ra được những từ đơn giản nhất. Kim đã dạy Yến rằng, quan trọng nhất khi học tiếng Anh là phải tự tin và chỉ cho cô cách phát âm, cách bật âm cuối, cách dùng từ trong từng ngữ cảnh…

    Thường xuyên luyện tập, vốn từ ngữ tăng lên, biết cách đọc, nói, Yến dần phá bỏ mặc cảm. L ên lớp nghe hiểu lời thầy giảng nên cô hứng thú học hơn, không vắng buổi nào. Khi thầy hỏi Yến cũng mạnh dạn giơ tay, từ nào không biết thì nói tiếng Việt. Cô còn t ham gia CLB tiếng Anh của trung tâm tin học ngoại ngữ, thường xuyên luyện nói cùng các thành viên.

    Cô gái người Dao đã mất nguyên năm học thứ hai để tìm và rèn luyện cách học tiếng Anh, năm thứ ba bắt đầu nói được và cuối năm ba mới tự tin trò chuyện. Nhắc đến nỗ lực suốt thời gian dài học ngoại ngữ, có bạn cùng lớp vẫn trêu ” Chảo Yến, hôm đầu tiên vào lớp tiếng Anh thầy giáo gọi lên giới thiệu đứng run bần bật, nhìn rất thương. Ai ngờ đến năm cuối lại giỏi như thế”.

    Từ đây, việc học cũng bắt đầu khởi sắc khi Yến giành được học bổng cho sinh viên. Lúc tốt nghiệp, điểm tổng kết chung của cô cao thứ ba toàn khóa. Tiền học bổng cùng với thu nhập khi đi làm thêm ở sân golf cũng đủ cho trang trải học hành, không phải xin tiền bố mẹ nữa.

    Trượt học bổng Nhật, giành học bổng Đức

    Cuối 2014 khi chuẩn bị tốt nghiệp, Yến dồn hết sức lực vào việc xin học bổng MEXT của chính phủ Nhật mà thầy Bùi Xuân Dũng, giảng viên trực tiếp hướng dẫn tốt nghiệp giới thiệu. Hồ sơ đã chuẩn bị xong hết nhưng cuối cùng Yến rớt vì không đủ sức khỏe. Cô cũng khá tiếc nuối khi vào năm thứ tư không xin được học bổng VEF của Mỹ vì thời gian gấp, không chuẩn bị đủ hồ sơ.

    Yến vừa đi làm, vừa gửi hồ sơ xin học bổng. Trong bài luận, cô đã kể câu chuyện của mình, ký ức về trận lũ kinh hoàng, về ước mơ đi học để thay đổi cuộc đời và làm điều gì đó cho những đứa trẻ vùng cao nơi cô sống. Ngày 8/3/2016, Yến nhận được email thông báo trúng học bổng. Cô sẽ theo học thạc sĩ ngành Quản lý tài nguyên rừng bền vững tại Đại học Gottingen (CHLB Đức).

    Những người truyền cảm hứng

    Yến tin tưởng rằng những gì đạt được có sự giúp đỡ của rất nhiều người nên luôn cố gắng. Cô biết ơn thầy Bùi Chí Thanh ròng rã suốt 3 năm tới nhà thuyết phục bố mẹ cho đi học trở lại. Cô cũng không quên bà chủ nhà trọ tốt bụng cho đồ dùng khi mới xuống nhập học, nhớ người bạn cùng quê đi tìm rồi đưa cô về lúc lạc đường, cho vay tiền ăn mỗi khi cuối tháng. Yến luôn nhớ “cô giáo Kim” dạy tiếng Anh, cả người bạn cùng khóa tên Mai “bắn” tiếng Anh lưu loát đã khơi dậy niềm hứng khởi học ngoại ngữ cho cô.

    GS Lee Macdonald (Đại học Colorado, Mỹ) và thầy Bùi Xuân Dũng, giảng viên Đại học Lâm nghiệp c ó ảnh hưởng rất lớn tới Chảo Thị Yến. Thầy Dũng giúp Yến làm quen với các suất học bổng du học. Khi còn học năm thứ hai, Yến cùng nhiều sinh viên nghèo từng được GS Lee trao học bổng 2 triệu đồng. Yến cho hay, d ù giá trị có thể không lớn nhưng rất quý trọng ở cách cho. Sau khi trao, thầy sẽ xem sinh viên dùng số tiền học bổng ấy ra sao, còn thường xuyên gửi mail động viên các em cố gắng. Thầy đã viết thư giới thiệu cô tới trường cấp học bổng SUFONAMA.

    Cô gái người Dao luôn mong muốn học xong sẽ trở về Lào Cai làm việc. Ngoài nghiên cứu về rừng, cô còn hy vọng tìm cách nào đó thành lập quỹ học bổng trao thêm cơ hội cho trẻ em nghèo ở quê được đi học. “Em chỉ lo khi về nước không có công việc phù hợp thì đến bản thân không nuôi nổi chứ đừng nói đến học bổng cho các em. Thôi thì chặng đường còn dài, em cứ vừa học vừa tính tiếp”, Yến cười nói.

    Tiễn con gái đi học nước ngoài, ông Chảo Kim Sơn vừa tự hào lại vừa lo lắng. Ông kể, lúc thầy giáo động viên, con gái khóc đòi đi học lại, ông nghĩ nhiều lắm mới chịu gật đầu. Yến đi học rồi, xóm làng vẫn “chọc quê” ông là chỉ tốn tiền, nó lấy chồng rồi không nuôi cha mẹ nữa. Sau này, ông đi làm thuê, nhiều lúc vay nóng chỗ này đắp chỗ kia nuôi con gái vào đại học. ” Giờ mình mới thấy quyết cho nó đi học là đúng rồi”, ông nói.

    Hoàng Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cô Gái Người Dao Ở Xã Nghèo Biên Giới Trúng Học Bổng 50.000 Usd
  • Chuyện Chưa Kể Về Cô Gái Người Dao Đỗ Học Bổng Thạc Sĩ Tiền Tỉ Của Đức
  • Muốn Làm Thầy Mo Của Người Dao Đỏ, Phải Qua 3 Lễ Tắm Than
  • Giới Thiệu Sách: Từ Điển Thái
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Dân Tộc Thổ (Vi Đức Hồi)
  • Chứng Minh Ca Dao Là Tiếng Nói Tình Cảm Của Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận: “thơ Là Tiếng Nói Đầu Tiên, Tiếng Nói Thứ Nhất Của Tâm Hồn Khi Đụng Chạm Tới Cuộc Sống”
  • Phân Tích Tư Tưởng Và Tình Cảm Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Một Số Thuật Ngữ Pháp Lý (Anh
  • Các Khái Niệm Cơ Bản
  • Cả Làng Nói ‘tiếng Lóng’ Độc Đáo Nhất Ở Hà Nội
  • Chứng minh ca dao là tiếng nói tình cảm của con người Việt Nam

    Tham khảo bài làm 1: Tình yêu quê hương của người dân lao động Việt Nam qua Ca dao – dân ca.

    Ngay từ khi sinh ra, người dân quê ta đã gắn liền với đất. Đất là cuộc sống, là máu thịt, là linh hồn của mỗi con người. Do đó họ rất gắn bó và yêu thương tha thiết đối với nơi chôn rau cắt rốn của họ. Tình yêu ấy chính là những cảm hứng dạt dào để họ cất lên những bài ca bày tỏ tâm tình của mình.

    -Trước hết người dân quê khẳng định rất rõ sự quý giá bất khả hoán đổi của quê hương:

    “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Ao chỉ là hình ảnh hoán dụ để chỉ làng quê. Họ không vì tham ánh sáng hoa lệ đô thành mà rời bỏ quê cha đất tổ. Bởi vì quê nhà còn đất “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tấc đất tức vàng bấy nhiêu”. Bởi vì quê nhà còn có ông bà cha mẹ “Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn”.

    -Yêu quê hương còn là yêu những gì thân thương mà chỉ cần mở mắt ra, ngày họ đều thấy:

    -Yêu quê hương còn biểu hiện cao hơn trong tình yêu nước, tự hào về đất nước: “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng”.

    Chính là cái tình yêu quê hương tha thiết mặn nồng từ xa xưa ấy đã tạo nên một nét rất đẹp trong truyền thống của người Việt Nam, đã là chất mem nên thơ nên nhạc, là động lực chủ yếu để dân tộc tồn tại trước bao lần ngoại xâm và nội chiến.

    Tham khảo bài làm 2: Chứng minh rằng ca dao là tiếng nói của tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước mà người Việt Nam rất trân trọng.

    Ca dao dân ca là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng của người dân đất Việt. Những câu ca đằm thắm, trữ tình mang chở cả điệu tâm hồn và chứa chan những tình cảm thiết tha, sâu năng, đặc biệt là tình cảm gia đình. Bởi vậy, có ý kiến cho rằng: “Ca dao dân ca đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc”.

    Những lời hát ấy đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người qua tiếng ru của bà, của mẹ và nhắc nhở chúng ta về công ơn trời biển của mẹ cha:

    Công cha như núi ngất trời

    Nghĩ mẹ như nước ở ngoài biển Đông

    Núi cao biển rộng mênh mông

    Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!

    Bài ca dao như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà tha thiết. Phép so sánh được sử dụng liên tiếp khiến hai câu thơ vừa cụ thể, vừa gợi hình, sinh động. Công cha và nghĩa mẹ được ví với những hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng: núi ngất trời, nước biển Đông. Ơn cha to lớn không thể đo đếm còn tình mẹ thương con sâu nặng, đong đầy. Những lời thơ gợi nhắc về công ơn sinh thành dưỡng dục bao la vô tận của mẹ cha. Công ơn ấy được cụ thể hóa bằng “chin chữ”: (em xem chú thích và viết 9 chữ vào đây). Đồng thời, tác giả dân gian khuyên răn kẻ làm con phải có bổn phận chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ để đền đáp công ơn ấy. Những lời ca dao thấm đượm nghĩa tình như ru hồn người vào thế giới của đạo lý, yêu thương.

    Không những nhắn nhủ con người về công ơn cha mẹ, ca dao dân ca còn thể hiện tình cảm nhớ thương quê mẹ của người con gái xa:

    Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    Câu ca mở ra một âm điệu trầm buồn sâu lắng với hai từ “chiều chiều”. Thời khắc ấy gợi cái tàn lụi của một ngày và cũng gợi cảm giác sum họp gia đình. Ấy là quãng thời gian của buồn, của nhớ và bâng khuâng. Những lời hát của người con gái lấy chồng xa hướng về quê mẹ như thấm đẫm nỗi buồn xa xót ấy. Hai từ “ngõ sau” gợi một không gian khuất nẻo – nơi người con gái có thể bày tỏ nỗi long. Cả thời gian và không gian ấy như đã nói lên tâm trạng con người đang mong nhớ thiết tha. Hai chữ “chiều chiều” mở đầu hô ứng với hai chữ “chin chiều” kết thúc bài ca dao tạo nên hiệu ứng lặp đi lặp lại một nỗi long xót xa, thấm thía của người con gái khi hướng về quê mẹ xa xôi.

    Bên cạnh tình cảm cha mẹ – con cái, ca dao còn là những lời nhắn nhủ cảm động về tình cảm ông bà và cháu con:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”

    Nuộc lạt – một hình ảnh quen thuộc trên những mái nhà tranh của làng quê Việ Nam đã được đưa vào câu ca dao một cách rất tự nhiên, giản dị và gần gũi. Biện pháp so sánh bao nhiêu – bấy nhiêu đã thể hiện tình cảm nhớ thương, sự gắn bó bền chặt, ruột thịt của cháu con với ông bà. Âm điệu lời thơ tha thiết thể hiện sự kính trọng biết ơn!

    Và, có lẽ, những người thân, người lớn trong nhà đã khuyên bào con cháu giữ chặt tình anh em:

    Anh em nào phải người xa

    Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân

    Yêu nhau như thể tay chân

    Anh em hòa thuận hai thân vui vầy

    Một lần nữa lối ví von so sánh lại được sử dụng thành công trong hai câu ca dao. Tình cảm anh em gắn bó bền chặt không thể tách rời như tay với chân. Sự hòa thuận của an hem chính là niềm vui của cha mẹ gia đình. Bài ca dao là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về tình cảm ruột thịt, anh em.

    Với âm điệu thiết tha, sâu lắng cùng lối ví von so sánh đặc trưng, những câu thơ lục bát đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc và thấm thía.

    Nhắc nhở nhẹ nhàng mà không khô khan, khuyên nhủ mà không giáo huấn, ca dao chính là tiếng lòng mang chở cả tư tưởng, triết lý đạo đức của nhân dân. Nó đã trở thành viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam.

    Tham khảo bài làm 3:Chứng minh ca dao là lời hát tâm tình là bài ca về tình yêu quê hương đất nước của người lao động

    Ca dao là lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước. Em hãy chứng minh ý kiến trên.

    Ai trong chúng ta lớn lên và trưởng thành trên mảnh đất quê hương cũng đều cảm nhận được cái hay cái đẹp của Văn học dân gian ngay từ lúc còn nằm trong nôi qua lời ru của mẹ. Vì vậy, có ý kiến nhận định rằng: “Ca dao và lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước”.

    Trải qua bốn nghìn năm lịch sử, chúng ta nhận thức được cái đẹp, cái toàn mĩ bằng tất cả trái tim nhân hậu của mình. Rất mộc mạc và chân tình tha thiết đến xốn xang. Ta hãy nghe nỗi lòng người đi xa nhớ quê hương!

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

    Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao đơn sơ nhưng đậm đà. Đây là bức tranh thủy mạc.

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Niềm tự hào về non sông đất nước được khơi gợi từ những địa danh ngọt ngào.

    Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ

    Xem cầu Thê Húc xem đền Ngọc Sơn

    Đài nghiên tháp bút chưa mòn

    Hỏi ai xây dựng nên non nước này?

    Một cung đàn gảy lên đôi khi còn chùng phím, nhưng sao mỗi bài ca dao đều đem đến cho ta những tình cảm ấm áp và trìu mến lạ kì. Tất cả như một bản đồng ca trỗi lên từ mỗi tâm hồn yêu nước gắn bó với quê hương của mình. Đọc nó ta như bắt gặp lại chính mình trong nhạc điệu rộn ràng bất tử của quê hương, Tất cả như đánh thức trong ta thứ tình cảm mơ hồ nhưng chợt bùng lên như đánh thức ngọn lửa.

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

    Mịt mù khỏi tỏa ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ

    Sẽ chẳng thể nào quên được những “cành trúc” gió đưa nhẹ nhàng trong gió, tiếng chuông ngân nga vang vọng trong khoảng không tĩnh mịch “mặt nước” hồ lăng đang sương mù mơ hồ huyền diệu. Cảnh đẹp ở miền Nam không mang vẻ cổ kính như Huế cũng chẳng tĩnh lặng như bức tranh Tây Hồ, mà ở đây, dường như sống động hơn.

    “Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”

    Câu ca dao như tiếng gọi của chính quê hương, níu bước chân người ra đi, mời đón kẻ trở về, đất mẹ mở rộng vòng tay đón những đứa con. Từ xa xôi một lần được trở lại quê hương, hay được viếng thăm một miền đất “ngỡ lạ mà quen” ta chợt thấy tâm hồn mình như trải dài với bao tình cảm dạt dào tha thiết nhất.

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Cũng một cánh cò trắng, chao liệng trên một khoảng không rộng mở, nhưng thấm vào ta một cảm giác mạnh mẽ mà rạo rực trước sự giàu đẹp của mảnh đất nổi tiếng miền Tây Nam bộ

    Đến với ca dao là đến với tâm hồn Việt Nam, với trái tim Việt Nam. Một quê hương Việt Nam với những cánh cò bay, dòng sông lặng lờ trôi, hoa bưởi trắng những đêm soi bóng nước, hay chiếc đò như khúc nước, chiếc cầu tre lắt lẻo chênh vênh. Dường như mọi cảnh đẹp mà bình dị. Nhưng văn học khác với hội họa hay âm nhạc nhờ ngôn ngữ rất riêng và độc đáo. Văn học còn thể hiện những khía cạnh khác, lột tả một chiều sâu, chiều rộng trong cuộc sống mà các nghệ thuật khác không thể thay thế. Chính vì vậy mà sức tồn tại của Văn học luôn được ví như một tòa nhà vững chắc cùng với thơ ca, ca dao cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định sự giàu đẹp của quê hương. Nó không chỉ khái quát một vẻ đẹp đơn thuần mà từ đó đi sâu vào cuộc sống, đến với tâm hồn của mỗi con người. Chẳng khó hiểu nếu như nói ca dao chính là cái nền vững chắc cho Văn học từ đó đi lên, cuộc sống đời thường và cuộc sống tình cảm của con người luôn hòa quyện sóng đôi. Đến với cuộc sống là câu ca dao đã đi đến với con người. Câu hát của người lao động luôn vang lên qua từng câu tha thiết:

    Cày đồng đang buổi ban trưa

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

    Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    Có đổ giọt mồ hôi để làm ra vật chất, người ta mới thấu hiểu được giá trị của sức lao động. Và từ đó biết trân trọng thành quả do mình hay người khác làm ra. Câu ca dao làm ta sực nhớ đến bài học ngày còn tấm bé: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    Nhung những lời tâm sự của người phụ nữ dưới thời phong kiến khắc nghiệt vẫn là những nỗi đau làm ta bật khóc.

    Em như con hạc đẩu đình

    Muốn bay không cất nổi mình mà bay

    Câu ca dao làm ta nhớ đến lời trách móc của người con gái đồng thời cũng tâm sự về số phận của mình.

    Bây giờ em đã có chồng

    Như chim vào lòng như cá cắn câu

    Cá Cắn câu biết đâu mà gờ

    Chim vào lồng biết thuở nào ra

    Lễ giáo phong kiến tập tục khắc nghiệt là những gọng kềm trói chặt người phụ nữ.

    Thân em như tấm lụa đào

    Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai

    Hay

    Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các hạt, ra luống cày

    Gắn bó với quê hương, cuộc sống con người trang trải với ruộng vườn cảnh vật “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Một lần nữa người nông dân lại bày tỏ tâm tư của mình thông qua chú trâu người bạn gắn liền với nhà nông, với cuộc sống của họ:

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Ta đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Một cuộc sống ấm no là niềm mơ ước của người lao động, ước mơ giản dị mà hồn hậu vẫn để lại trong tâm hồn ta một cảm xúc đẹp. Đó là mơ ước đời thường xuất phát từ tình yêu cuộc sống lao động. Trải qua bao khó khăn thử thách và gian nan con người càng trân trọng hơn sự yên bình.

    Một hạnh phúc bình dị mà họ mong chờ. Một ngôi nhà, một đồng ruộng, một con trâu và trên cả là một chút bâng khuâng của thứ tình cảm ngọt ngào. Câu hát tâm tình của chàng trai cô gái rất tế nhị mà đáng yêu:

    Bây giờ mận mới hỏi đào

    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

    Mận hỏi thì đào xin thưa

    Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

    Thật tinh tế, mộc mạc mà đằm thắm. Tình yêu của họ làm đẹp thêm ngôn ngữ Ca dao và ca dao góp phần làm đẹp cuộc sống. Tất cả đều rộng mở và dâng tặng cho đời.

    Tham khảo bài làm 4:”Ca dao là tiếng nói về tình gia đình đằm thắm và tình làng xóm quê hương tha thiết” Em hãy chứng minh câu nói trên.

    Xuất phát từ sự cảm hứng của người viết đối với ca dao: từ tuổi thơ, ca dao đã đến với tâm hồn ta, dễ thuộc, dễ nhớ, có lẽ vì nó luôn diễn tả được nhwungx tình cảm mà ai ai cũng có, cũng quan tâm. Đó là tình gia đình đằm thắm, tình bạn keo sơn, tình làng xóm, tình quê hương tha thiết.

    Ca dao là tiếng nói về tình gia đình đằm thắm. Đó là lòng kính yêu, biêt ơn ông bà,, cha mẹ, những người đã sinh thành, nuôi dưỡng ta nên người. ca dao ghi lại tấm lòng của lớp lớp con cháu tưởng nhớ tới tổ tiên.

    Con người có tổ có tông

    Như cây có cội, như sông có nguồn

    Không chi tưởng nhớ tới tổ tiên mà còn ghi nhớ công ơn trời biển của ông bà,. Cha mẹ: công ơn đó là vô cùng to lớn:

    Ngó lên nuộc lạc mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạc nhớ ông bà bấy nhiêu

    Hay:

    Ơn cha nặng lắm ai ơi

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang

    Công cha nhu núi thái Sơn

    Tình nghĩa ấy không bao giờ nguôi cạn:

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Sự cảm nhận sâu sắc nổi vất vả mà cha mẹ phải chịu đựng để nuôi dưỡng ta bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu, nhớ đến cơm cha áo mẹ chăm chút cho ta từ ngày bé cỏn con đến khi lớn khôn thế này, họ gửi gắm tấm lòng vào ac dao, nhắc nhau nghĩ sao cho bõ những ngày cha mẹ nuôi ta và ước ao về ta:

    Một lòng thờ mẹ kính cha cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

    Ca dao còn thể hiện tình thương yêu giữa anh em trong một gia đình. Anh em thì cần phải hòa thuận để gia đình êm ấm, hạnh phúc:

    Anh em nào phải người xa

    Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân

    Anh em nhu thể tay chân

    Anh em hòa thuận hai thaanvui vầy.’

    Trong lúc gặp khó khăn hoạn nạn thì cần phải biết giúp đỡ, thương yêu, phải biết đùm bọc lẫn nhau:

    Anh em như chân với tay,

    Rách lành đùm bọc dỡ hay đỡ đần.

    Không chỉ ông bà tổ tiên, bố mẹ,anh chi em mà nó còn thể hiện tình vợ chồng thủy chung son sắt.

    Chồng ta áo rách ta thương

    Chồng người áo gấm xông hương mặc người

    Mặc dù cuộc sống bon chen, kiếm sống vất vả: củi than nhem nhuốc…, ăn uống đạm bạc: râu tôm nấu với ruột bầu nhung vợ chồng luôn nhắc nhau: ghi lời vàng đá xin mình chớ quên. Họ thấy cuộc sống vất vả mà vẫn vui vẫn tin vào một ngày tốt đẹp:

    Rủ nhau đic cấy đi cày

    Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

    Ca dao là tình nghĩa gia đình và nó còn là tiếng nói về tình làng xóm, quê hương tha thiết. Làng xóm ấy trước hết là làng xóm thanh bình, có cánh đồng mênh mông bát ngát, mọi người chăm chỉ làm ăn:

    Làng ta phong cảnh hữu tình,

    Dân cư giang khúc như hình con long

    Nhờ trời hạ kế sang đông,

    Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi

    Bởi vậy khi đi xa thì nhớ, nhớ những gì tuy bình dị nhưng vô cùng thân thương:

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên dduowong hôm nao.

    Mở rộng hơn tình làng xóm là tình yêu quê hương đất nước

    Tình yêu quê hương đất nước thật là đằm thắm, nó thể hiện qua không biêt bao nhiu:

    Thương nhau ta đứng ở đây

    Nước non là bạn, cỏ cây là tình.

    Tình yêu quê hương đất nước không phaỉ là tinh f yêu dành cho quê hương cho đất nước mà đấy là tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau của những người cùng quê hương đất nước:

    Bầu ơi thương lấy bis cùng

    Tuy rằng khác giông như ng chung một giàn.

    Hay

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Đó cũng chính là niềm tự hào về nước non ta về miền nào cũng tươi: Lạng Sơn thì có phố Kì Lừa, có nàng Tô thị có chùa Tam thăng, Thăng Long phồn hoa thì có: phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ.

    Còn miền trung thi Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Còn miền nam lại có:

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh,

    Nước Đồng Tháp lấp lánh cá tôm.

    Ca dao phần lớn là nói về tình cảm, trong đó rất nhiều câu đậm đà tình cảm gia đình, làng xóm quê hương. Nói về tình Cảmđẹp đẽ của con người, lại bằng n hững lời lẽ đẹp, nên ca dao đã dduocj nhiều người yêu thích.

    Nhờ vậy ca dao không chỉ có giá trị về mặt văn chương mà còn là những mẫu mực diễn đạt tình cảm cho những sáng tác văn học viết sau này.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Lên Vai Trò Quan Trọng Của Tình Cảm Trong Thơ
  • Tập Viết Bảng Chữ Cái Tiếng Lào Cho Android
  • Dịch Thuật Và Dạy Tiếng Anh Như Ngôn Ngư Thứ Hai
  • Đáp Án Đề Thi Văn Vào Lớp 10 Lào Cai 2022
  • Chàng Trai Trẻ Và Món Quà Đặc Biệt Gửi Đảo Xa
  • Dân Tộc Dao Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Thiểu Số Còn Ai Nói Tiếng Dân Tộc Mình?
  • Khi Giáo Viên Được Học Tiếng Dân Tộc
  • Dân Tộc Tiếng Anh Là Gì?
  • Dân Tộc Kinh Tiếng Anh Là Gì?
  • Thuyết Minh Về Bảo Tàng Dân Tộc Học Bằng Tiếng Anh
  • (VOV5) – Người Dao còn cócác tên gọi khác: Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền…. là một dân tộc có số dân đứng hàng thứ 9 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, với gần 1 triệu người. Người Dao cư trú tại các bản làng miền rừng núi trải rộng từ phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,…đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình.

    Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên… Người Dao có nhiều nhóm khác nhau phân biệt theo vùng. Tên gọi các nhóm Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phong tục, tập quán mà còn dựa trên trang phục và những đặc điểm truyền thống bên ngoài, như Dao Đỏ (Dao Sừng, Dao Đại Bản…); Dao Quần Chạt (Dao Sơn đầu, Tam Đảo, Nga Hoàng…); Dao Lo Ga (Thanh Phán, Cóc Mun); Dao Tiền ( Dao deo tiền, tiểu bản); Dao Quần trắng (Dao Họ); Dao Thanh Y; Dao Làn Tẻn (ở Tuyên Quang mặc Áo Dài). Người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ. Trang phục của người phụ nữ Dao thường là áo, yếm, chân quấn xà cạp, cùng các đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu… Trang phục của nam giới, thường là chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực. Tiến sỹ Võ mai Phương, Viện bảo tàng Dân tộc Việt Nam, cho biết: Nhóm Dao Đỏ khi nhìn vào bộ quần áo trang phục là có thể nhận thấy ngay vì màu sắc nổi bật là màu đỏ. Màu đỏ chiếm hầu hết trăng phục của họ. từ áo quần váy đến khắn, thắt lưng trên trng phục nữ thì màu đỏ chiếm màu chủ đạo. Vậy khi nhìn Dao Đỏ là có thể nhìn nhận qua trang phục. Hay như Dao Tiền thì là nhóm Dao duy nhất mặc váy trong 7 nhóm Dao. Những nhóm khác thường mặc quần áo. Trên trang phục nữ nười Dao tiền thì in sáp ong. Khi in trên váy hiển thị rõ nhất là hoa văn đồng tiền. Nhóm Dao quần chạt (Sơn Đầu) ở có đặc điểm riêng biệt đó là đầu người phụ nữ cạo trọc và sơn đầu và họ dùng những khăn truyền thống. Hay như nhóm Dao quần Trắng, nhóm dân tộc Dao này chỉ sử dụng quần màu trắng trong trang phục của họ.

    Đám cưới của người Dao

    Người Dao là một trong những dân tộc cho đến bây giờ vẫn duy trì được bản sắc truyền thống đậm nét, không chỉ thể hiện qua trang phục, mà còn thể hiện qua tiếng nói. Dân tộc Dao được chia nhiều nhóm người khác nhau nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất cho thấy rõ mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau. Người Dao sinh sống ở nhiều vùng, miền nhưng sinh hoạt cộng đồng vẫn mang tính chất khép kín, thể hiện qua phong tục tập quán, qua hôn nhân. Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, người Dao chỉ mong là gả trong cộng đồng. Đấy là một trong những đặc điểm để người Dao giữ gìn ngôn ngữ và phong tục tập quán của mình. Cùng với đó, văn hóa tâm linh là yếu tố vô cùng quan trong trong đời sống người Dao, thể hiện đặc biệt qua nghi lễ cúng bái. Tiến sỹ Mai Phương cho biết: Việc truyền nghề thày cúng rất quan trọng trong đời sống người Dao. Khi đã truyền nghề thày cúng thì bắt buộc phải biết viết, biết đọc chữ nôm Dao. Việc học chữ Nôm Dao cũng chính là hình thức truyền nghề cho con cháu mà còn là duy trì chữ viết và tiếng nói của họ rất rõ. Hàng năm người Dao có nhiều lễ hội, thường những lễ hội này. Trong lễ hội, người Dao hát đối đáp bằng tiếng Dao nên đây cũng là nét truyền thống để họ duy trì và bảo tồn được ngôn ngữ một cách tốt nhất.

    Người Dao học chữ Nôm Dao

    Để duy trì được tiếng Dao trong cộng đồng dân tộc người Dao, những người già trong bản làng thường dạy con cháu viết và đọc từ những cuốn sách cổ chữ Dao. Những cuốn sách cổ này hầu như gia đình nhà người Dao nào cũng có. Nhóm Dao Họ là nhóm Dao sống gần miền xuôi và tiếp cận thường xuyên với người Kinh hoặc các nhóm người dân tộc khác. Bản thân những nhóm người Dao họ cũng có thể nói và hiểu được ngôn ngữ của những nhóm dân tộc khác, tuy nhiên, bằng nhiều cách trong cuộc sống, nhóm Dao Họ vẫn duy trì và bảo tồn được ngôn ngữ tiếng Dao của dân tộc mình. Bác Bàn Văn Sang, nhóm Dao Họ, xã Sơn Hà, thôn Khế Mụ, xã Sơn hà, huyện Bảo Thắng, Lào Cai cho biết: Con cháu trong họ chỉ lấy người dân tộc Dao. Dù ra ngoài nhiều nói tiếng kinh rất rõ nhưng về nhà cả gia đình lại chỉ giao tiếp với nhau bằng 1 ngôn ngữ tiếng Dao. Trong làng cứ những ai biết nhiều chữ Dao sẽ được người trẻ tìm đến tập trung học. Nhiều người rất thích học vì chúng tôi đều có các loại sách và đều được giữ cẩn thận trong nhà. Nhà nào cũng có sách nên nếu nhà này có mất thì đã có nhà kia. Nhất là những nhà đi cúng thì đều có sách và sách nhiều. Sách truyện, sách đám cưới, sách cúng đều có. Trong gia đình tôi ai cũng đều biết chữ Dao. Cứ đến dịp tết và ngày lễ của người Dao chúng tôi lại cùng con cháu quây quần ngồi đọc sách chữ Dao. Nên trong nhà tôi không chỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng Dao mà ai cũng biết đọc, biết viết chữ Dao.

    Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, nhiều tục lệ của các dân tộc ít người có phần bị ảnh hưởng, nhưng dân tộc Dao vẫn giữ được nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc của đời sống. Chính những nét văn hóa đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đôi Chân Diệu Kỳ Của Cô Học Trò Người Dân Tộc Sán Dìu
  • Người Lưu Giữ Chữ Thái Bằng Công Nghệ Thông Tin
  • Cách Học Tiếng Thái Hiệu Quả Và Nhanh Chóng
  • Gdth Tổ Chức Dạy Học Thực Nghiệm Tiếng Dân Tộc Thái Lớp 1 Tại Trường Th&thcs Xã Sam Mứn
  • Bàn Về Việc Học Tiếng Thái
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức
  • Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi
  • Là Phó Ban Dân vận Huyện uỷ Hoành Bồ, chị Phạm Thị Thu Hằng thường xuyên đi cơ sở tiếp xúc với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và bà con nhân dân ở các xã, trong đó có nhiều xã vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn. Chị cho biết: “Tiếng Dao giúp ích rất nhiều cho công việc của tôi. Nhờ học qua lớp này, khi đi cơ sở, tôi tiếp xúc với đồng bào dân tộc dễ hơn rất nhiều, nhất là bà con ở những khu vực xa xôi, hẻo lánh, ít có điều kiện đi lại, giao tiếp. Tuy chưa thể sử dụng để nói chuyện lưu loát với bà con, song nghe họ trò chuyện, tôi có thể hiểu họ trao đổi những gì thay vì cứ phải nhờ người phiên dịch như trước đây”.

    Không chỉ có chị Hằng mà hầu hết cán bộ công chức của huyện Hoành Bồ đều khẳng định sự hữu ích khi được học tiếng Dao. Hoành Bồ có 12 xã, thị trấn, trong đó nhiều xã đồng bào dân tộc Dao chiếm đa số, như: Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Bằng Cả, Hoà Bình, Đồng Lâm, Tân Dân. Xuất phát từ đặc thù này, để giúp cán bộ công chức của huyện tiếp xúc với bà con thuận lợi hơn, huyện Hoành Bồ đã đề xuất Sở Nội vụ phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban Dân tộc tỉnh mở lớp dạy tiếng Dao trên địa bàn.

    Khoá tiếng Dao đầu tiên được mở vào cuối năm 2009, đầu năm 2010 với 29 học viên. Khoá thứ hai tổ chức vào năm 2011 với 61 học viên. Họ là cán bộ, công chức, viên chức khối Đảng, đoàn thể và khối phòng, ban chuyên môn của UBND huyện và các đơn vị cộng quản trên địa bàn huyện. Ngay cả bí thư huyện uỷ, phó bí thư huyện uỷ, chủ tịch UBND huyện… cũng tham gia. Giáo viên giảng dạy ở các lớp này là cô giáo người dân tộc Dao sinh sống trên địa bàn huyện. Anh Nguyễn Hoàng Quý, Trưởng phòng Nội vụ của huyện cho biết: “Thuận lợi ở chỗ, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của huyện thường xuyên đi tiếp xúc, trao đổi với bà con đồng bào nên khi tham gia lớp học, họ tiếp thu tiếng Dao nhanh”.

    Nhờ được học qua lớp tiếng Dao, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của huyện Hoành Bồ đến cơ sở thuận lợi hơn, gắn bó với bà con đồng bào dân tộc hơn. Thông qua đó, công tác nắm bắt tư tưởng của bà con cũng dễ dàng; việc vận động người dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng thuận hơn. Khi cán bộ xuống các xã vùng đồng bào dân tộc Dao sinh sống, nếu sử dụng tiếng Dao để tiếp xúc, hướng dẫn… bà con cảm thấy gần gũi, cởi mở hơn, tiếp thu hướng dẫn tốt hơn.

    Nhận thức rõ ý nghĩa của chương trình dạy tiếng Dao, trong năm 2013 này, huyện Hoành Bồ tiếp tục mở thêm 1 lớp tiếng Dao nữa. Theo anh Nguyễn Hoàng Quý, Trưởng phòng Nội vụ của huyện Hoành Bồ: “Lớp học này, chúng tôi sẽ tập trung dạy tiếng Dao cho giáo viên đang giảng dạy ở các xã nơi đông người Dao sinh sống. Hy vọng sau lớp học, các thầy, cô sẽ giúp học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện tiếp thu kiến thức được nhanh hơn, sâu hơn, hiểu được nhu cầu của học sinh nơi này hơn. Đồng thời, việc vận động các gia đình vùng đồng bào dân tộc cho con em đến trường học cũng rất thuận lợi…”.

    Với huyện có nhiều người dân tộc Dao sinh sống như Hoành Bồ, việc mở các lớp học tiếng Dao có ý nghĩa rất lớn. Nó góp phần giúp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của huyện ngày càng chuẩn hoá hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn; từ đó thúc đẩy kinh tế – xã hội của huyện ngày càng phát triển bền vững.

    Thu Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum
  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh
  • Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)
  • Tài Liệu Dân Tộc Dao (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Dấu Hiệu Lừa Tiền Của Các Trung Tâm Tiếng Anh Tồi
  • Tổng Hợp 100 Câu Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Nhất
  • 110 Tục Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Tiếng Anh.
  • Chuyện Học Tiếng Anh – Phần 1: Tôi Đã Học Tiếng Anh Như Thế Nào
  • I- NGUỒN GỐC

    Theo kết quả nghiên cứu của Đề án “Sưu tầm kiểm kê kho sách cổ người Dao” do Tiến sĩ Trần Hữu Sơn (Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin – Thể thao Lào Cai) chủ trì có đăng tại thì: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) gồm 7 nhóm. Người Dao ở Việt Nam và ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, Dao Nga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao Chàm) họ bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17). Để đến được đất Việt, sống ở vùng núi như ngày nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình vượt biển, vượt núi, vượt sông muôn phần gian khổ.

    Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lể của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ.

    Người Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt, bắt đầu từ đảo Hải Nam họ qua Phòng Thành rồi tới Bắc Giang. Từ đây, họ di chuyển theo các hướng khác nhau:

    – Theo sông Lô tới Hà Giang hình thành nên người Dao áo dài.

    – Theo sông Chảy tới Lào Cai, hậu duệ ngày nay gọi là Dao Tuyển.

    – Nhóm ở lại vùng Nga Hoàng thuộc Yên Lập, Yên Phúc một thời gian, sau đó di chuyển tới Văn Chấn (Yên Bái), rồi Văn Bàn (Lào Cai) là tổ tiên người Dao quần chẹt ngày nay.

    Dân tộc Dao còn có các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu .v.v…

    Dân tộc Dao là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, theo điều tra dân số năm 1999 là 620.538 người, đến năm 2009 là 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 Tỉnh, Thành phố. Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người), Thái Nguyên (25.360 người) …

    Người Dao cũng là 1 trong số 56 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (tiếng Hán là Pinyin: Yáo zú, nghĩa là Dao tộc) với dân số là 2.637.000 người.

    Dân tộc này cũng là một dân tộc thiểu số ở Lào, Myanma, Thái Lan.

    III- DÂN TỘC DAO ĐỎ Ở VIỆT NAM

    Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông, cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh Trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam. Các bản làng của họ trải rộng khắp các miền rừng núi phía Bắc: Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang … đến một số Tỉnh Trung du như: Bắc Kạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y).

    Mặc dù, họ có “nhiều nhóm người khác nhau” như vậy, nhưng “ngôn ngữ của họ là thống nhất” để đảm bảo mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau. Ngoài ra, người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục-tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng …

    Người Dao Đỏ có dân số đứng thứ hai sau người H’Mông ở Sa Pa, cũng có nguồn gốc từ Vân Nam – Trung Quốc, người Dao Đỏ là một bộ phận nhỏ của tộc người Dao di cư vào Việt Nam từ thế kỷ XIII đến những năm 40 của thế kỷ trước.

    Họ sống tập trung đông nhất ở các xã Tả Phìn, Nậm Cang, Thanh Kim, Suối Thầu, Trung Chải. Nếu người H’Mông thường chọn những nơi núi cao để sống thì người Dao lại chọn thung lũng hoặc lưng chừng núi để trỉa ngô, trồng lúa và thảo quả. Các lái buôn thường đến tận nhà thu mua mang bán sang Trung Quốc nên cuộc sống của họ được nâng cao. Nhiều nhà có những tiện nghi và phương tiện tốt như xe máy, tivi, thậm chí là cả ô tô, máy kéo dùng trong nông nghiệp.

    Tộc người Dao có nhiều nhóm nhưng sinh sống ở Sa Pa chủ yếu là người Dao Đỏ bởi phụ nữ thường quấn khăn hay đội mũ đỏ, áo xanh đen có nhiều hoa văn đỏ và trắng ở cổ, vạt và tà áo. Trong trang phục truyền thống, người Dao nam mặc quần và áo đơn giản, còn người Dao nữ trang phục phong phú hơn với những trang trí hoa văn truyền thống, đầu đội khăn. Nên trang phục của họ được xem là đẹp nhất ở mỗi phiên chợ Sa Pa.

    Họ cũng có chữ viết riêng dựa theo chữ cổ của Hán ngữ gọi là chữ Nôm – Dao (kiểu chữ dùng mẫu tự Trung Quốc để ghi tiếng Dao), nhưng loại chữ này nay chỉ người cao tuổi mới đọc hiểu và viết được.

    Sách cổ đã sưu tầm và kiểm kê có tới 68% là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán. Sách văn học tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ (22,8%) nhưng có giá trị quan trọng. Bên cạnh một số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học, bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Dao như: “Hàn Bằng”, “Đàm Thanh”, “Bát Nương”, “Lâu Cảnh”, “Trạng Nghèo”, “Đô Nương truyện”, “Đặng Nguyên Huyện truyện”, “Bá Giai truyện”, “Thần sắt ca”… Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả (40%).

    IV- NHÀ CỬA CŨA NGƯỜI DAO

    Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào Tây Nguyên … Tuy nhiên, dù cư trú phân tán và có nhiều nhóm Dao khác nhau như Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao quần trắng …

    Chúng ta vẫn có thể nhận ra nét đặc trưng về nhà ở của tộc người này.

    Về cơ bản, người Dao có ba loại hình nhà ở chính: nhà đất, nhà sàn (người Dao quần trắng ở Yên Bái – Nhà sàn là kiểu đặc trưng vùng rừng núi để chống thú dữ, rắn rết. Mát về mùa hè và ấm về mùa đông) và nhà nửa sàn nửa đất (người Dao đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa – Lào Cai).

    Song, cùng với sự phát triển chung của xã hội, những nét đặc trưng này đang phai nhạt dần, nhất là từ sau năm 1945 và đặc biệt là những năm gần đây.

    Để tìm hiểu quá trình phát triển nhà ở của dân tộc Dao cũng như nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, người ta đặc biệt quan tâm đến kết cấu của bộ khung nhà mà đơn vị kết cấu của bộ khung nhà là các kiểu vì (vì cột, vì trung gian giữa vì kèo – vì cột và vì kèo). Nhà ở của người Dao là các kiểu vì kèo và một yếu tố khác vô cùng quan trọng là tổ chức mặt bằng sinh hoạt. Bởi vì sự khác biệt giữa nhà ở của dân tộc nước ta chủ yếu ở hai yếu tố đó, còn yếu tố khác chỉ là thứ yếu.

    V- TÍN NGƯỠNG CŨA NGƯỜI DAO

    Người Dao thờ tổ tiên là BÀN HỒ, vì họ có tín ngưỡng rằng loài chó là Tổ tiên của họ nên chó luôn luôn được quý trọng.

    Bàn Hồ là nhân vật huyền thoại, Thủy tổ của dân tộc Dao, đã được nhắc tới trong truyện kể dân gian, thần tích và các truyện thơ, trong đó đặc biệt phải kể tới sách “Quá Sơn bảng văn, Bàn Hồ (truyện thơ) và Đặng hành và Bàn Đại Hộ (truyện thơ). Các tác phẩm nêu trên vừa được truyền miệng trong dân gian, vừa được các trí thức người Dao ghi chép thành sách bằng “chữ Nôm Dao”.

    “Quá Sơn bảng văn” hay “Bảng Văn, Bình Hoàng khoán điệp”, được viết trên tấm vải dài, rìa được đệm vải cho cứng chắc. Toàn bộ tài liệu này được ghi bằng chữ Nôm Dao, hai đầu có vẽ cảnh Triều Đình, Vua ngồi trên ngai vàng, dưới chân là con chó Bàn Hồ, nội dung của Quá Sơn bảng văn có thể tóm tắt lại như sau:

    “Bàn Hồ là con long khuyển mình dài ba thước, lông đen vằn vàng, mướt như nhung, từ trên trời giáng xuống trần, được Bình Vương yêu quý, nuôi trong cung vua. Một hôm Bình vương nhận được chiến thư của Cao Vương liền hội triều đình lại để bàn cách đánh lại Cao Vương. Trong khi mọi người còn đang yên lặng vì chưa tìm ra được kế gì, thì con long Khuyển Bàn Hồ nhảy ra phủ phục trước nhà vua xin đi giết Cao Vương. Trước khi Bàn Hồ đi, vua hứa nếu Bàn Hồ giết được Cao Vương thì sẽ gả công chúa cho. Bàn Hồ phải mất 7 ngày 7 đêm mới tới được chỗ Cao Vương. Cao vương thấy con chó Bàn Hồ từ chỗ Bình Vương tới thì cho đó là điềm may, liền mang Bàn Hồ về cung cấm nuôi. Một hôm nhân lúc Cao Vương uống rượu say Bàn Hồ cắn chết Cao Vương, ngoạm đầu mang về báo công với Bình Vương. Giữ lời hứa, Bình Vương gả con gái cho Bàn Hồ. Sau lể cưới, Bàn Hồ mang vợ về núi Cối Kê (Chiết Giang), sau đó vợ chồng Bàn Hồ sinh được 6 con trai và 6 người con gái. 12 người con của Bàn Hồ đều được Bình Vương ban sắc thành 12 họ. Riêng con cả lấy họ cha là họ Bàn, còn các con khác lấy tên họ sau: Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Lý, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu.

    Con cháu Bàn vương sinh sôi ra ngày một nhiều. Tới thời Hồng Vũ (1368-1398), bị hạn ba năm liền không có gì ăn, nhà Vua cung cấp cho mỗi người một cái búa, một con dao để đốn rừng làm rẫy. Con cháu Bàn Hồ phát hết rừng núi của Bình Vương, khiến cho nhà Vua phải cấp cho ‘Quá Sơn bảng văn’ để phân tán đi các nơi tìm đất sinh sống”. Ngày nay, người ta có thể xác định dòng họ và thứ bậc của người Dao qua tên đệm.

    VI- PHONG TỤC & LỄ HỘI NGƯỜI DAO

    Tục “ở rể” cũa người Dao có 2 cấp độ: có thời hạn và vĩnh viễn.

    Ma chay của người Dao được làm theo tục lệ xa xưa (vài vùng còn có tục hỏa táng cho người chết từ 12 tuổi trở lên).

    Gia đình nào đang nấu rượu thì phải cắm lá trước cửa nhà, không cho người lạ vào vì họ quan niệm rằng người lạ vào nhà rượu sẽ bị chua và khê, nên khi thấy có dấu hiệu cắm lá kiêng bạn không nên bước vào nhà.

    Trong gia đình có phụ nữ sinh nở cũng có dấu hiệu kiêng cắm lá trước cửa nhà, để không cho người lạ vào nhà, sợ đứa trẻ mới sinh khóc nhiều.

    Người phụ nữ còn có tục cạo chân mày và một phần tóc phía trên trán cho đẹp.

    Họ cũng có tục cử (kiêng) sờ đầu trẻ em, khi cắt tóc, cạo đầu họ vẫn để chỏm tóc ở đỉnh đầu vì cho đó là nơi trú ngụ các hồn vía con người (quan niệm để chỏm tóc như vậy trẻ em sẽ không hay ốm đau).

    Họ cũng quan niệm là nam và nữ khi chưa kết hôn thì không được chụp ảnh cùng nhau vì như vậy là không tốt, có thể nói đó là một điều cấm kỵ đối với phụ nữ Dao. Người cầm máy ảnh nếu muốn chụp tốt nhất là nên xin phép họ trước.

    Trong năm người Dao cũng có những lễ hội đặc sắc như là:

    – Người đàn ông chỉ được coi là trưởng thành khi đã chịu “Lễ Cấp Sắc”.

    – “Tết Nhảy” được tổ chức vào ngày mồng một và mồng hai tháng giêng.

    – “Hội Hát Giao Duyên” vào ngày mồng mười tháng giêng ở bản Tả Phìn, một bản nhỏ của người Dao và người H’Mông cách thị trấn Sa Pa khoảng 12 Km (bản này nổi tiếng với các loại thổ cẩm đủ kiểu dáng và sắc màu do bàn tay khéo léo tài hoa của người phụ nữ H’Mông, Dao tạo nên).

    – Và đặc biệt là Bài Thuốc “Tắm Lá Cây Rừng” của tổ tiên người Dao Đỏ còn truyền lại cho đến ngày nay, rất tốt cho du khách đi đường xa mệt mỏi.

    VII- LỂ TỤC “KÉO VỢ” CỦA NGƯỜI DAO

    1- TRUYỀN THUYẾT

    Nếu như ở những đồng bào các dân tộc thiểu số khác ở vùng Tây Bắc có tục “ngủ thăm”, “chọc sàn”, “bắt vợ” để chàng trai có thể lấy được người con gái mà mình yêu về làm vợ thì ở dân tộc Dao đỏ lại có tục “kéo vợ” …

    “Truyện kể rằng, ngày xưa có một chàng trai nhà nghèo nhưng trót đem lòng si mê một cô gái xinh đẹp nhà giàu. Không đủ bạc trắng, không có trâu, dê để cưới hỏi cô, nên anh chỉ biết thương thầm trộm nhớ.

    Trong khi đó cô gái thì hoàn toàn không đoái hoài gì tới chàng.

    Thế rồi một ngày kia, tấm chân tình của chàng đã thấu tận Thần Phật và Đấng linh thiêng. Thần đã báo mộng cho chàng rằng hãy làm sao bắt cóc được cô gái về rồi nhân duyên sẽ thành. Chàng làm theo và đã bắt được người mình yêu về giữ trong nhà mình. Tính tình ương ngạnh của cô gái đã được tình cảm chân thành của chàng trai cảm hóa, họ yêu nhau, sống với nhau, sinh con đẻ cái và sống đến trọn đời”.

    Chuyện xưa thể hiện ước muốn của những người nghèo không có khả năng trả nổi tiền cheo, tiền thách mà lấy được người mình mơ ước. Tính nhân văn của câu chuyện đã kéo dài và được thể hiện đầy đủ trong cuộc sống hôn nhân của thanh niên dân tộc Dao đỏ cho đến tận bây giờ …

    Đó là truyền thuyết, còn chuyện ngày xưa khi còn chế độ quan Lang ở xứ này, các quan lang tạo ra luật để ngăn cản những đôi trai gái nên vợ, nên chồng, chàng trai muốn đến xin cưới người mình yêu để làm vợ phải nộp cho nhà gái và dân bản 70 đồng bạc trắng, 70 vò rượu và 2 con lợn. Nếu không có bạc trắng để cưới vợ mà về ở với nhau rồi sinh con đẻ cái thì bị quan Lang bắt vạ, suối đời phải làm nô lệ, phục dịch cho nhà quan Lang. Số lễ vật này tương đương với một gia tài lớn mà một đời người làm lụng vất vả cũng không thể làm ra. Chính hủ tục đã cản trở bao đôi trai gái đến với nhau và tạo nên nhiều cuộc tình oan trái do quá nghèo. Người Dao ở Vàng Ma Chải mới nghĩ ra cách kéo vợ để tìm hạnh phúc và đối phó với luật của quan Lang. Kéo vợ là một hình thức lách luật để những chàng trai, cô gái nghèo có thể tìm hạnh phúc và nên vợ, nên chồng (tạo luật để … lách luật).

    Người Dao đỏ chỉ kéo vợ vào mùa xuân. Những đám kéo rầm rộ nhất là bắt đầu từ ngày mùng 1 Tết âm lịch đến hết rằm tháng Giêng (kéo vợ ngày Tết thì không bị bắt vạ). Thủ tục kéo vợ cũng rất đơn giản: Những đôi trai gái phải lòng nhau rồi, chỉ việc hẹn hò ở trên rừng rồi chàng trai nhờ một vài người bạn lên điểm hẹn kéo về nhà mình. Theo phong tục, khi chàng trai kéo thì cô gái phải chống đối, càng chống đối thì gia đình sau này có nhiều con cái và hạnh phúc. Khi chàng trai kéo vợ chỉ cần một người trong bản nhìn thấy rồi loan tin cho cả bản biết thì trong quan niệm của người Dao đỏ, đôi trai gái đó đã nên vợ nên chồng.

    Từ đó, những ngày giáp Tết đến hết tháng Giêng, khi nhà nào thóc cũng đã đầy bồ, thịt đã treo kín bếp, người người được nghỉ ngơi chuẩn bị cho vụ mùa mới thì cũng là lúc nam thanh, nữ tú đến tuổi trưởng thành lại hướng theo tiếng gọi tình yêu đôi lứa, lo chuyện xây dựng mái ấm gia đình. Trời Tây Bắc vào xuân, thiên nhiên giao hòa, nẩy lộc cũng là lúc những chàng trai người Dao đỏ hòa vào điệp khúc xuân, điệp khúc tình yêu đang ngập tràn trên khắp núi đồi bằng một tục lệ riêng của mình. Giữa lưng chừng những vách đá còn phủ mờ sương sớm, các chàng trai, cô gái người Dao đỏ dường như đã hẹn từ trước, họ ngồi bên nhau, nhìn nhau, trao nhau những lời nói yêu thương, hứa hẹn, tình tứ. Thế rồi, trời ngả bóng về chiều, dường như đã hiểu nhau hơn, chàng trai cùng với bè bạn của mình bắt đầu: “kéo” người mình yêu về … làm vợ.

    Theo cái lý của người Dao, không phải kéo vợ là cứ thấy cô nào xinh xắn, giỏi giang, muốn lấy làm vợ thì kéo về nhà mình. Vì trước khi diễn ra “lễ kéo vợ”, đôi nam nữ đã có thời gian tìm hiểu nhau rất cặn kẽ, rồi ưng nhau. Kéo vợ chỉ là cái tục “buộc phải có” để người con gái chính thức bước chân về nhà chồng.

    Sau khi “được” kéo về nhà chàng trai, cô gái được giữ ở lại trong nhà 3 ngày và vẫn sinh hoạt bình thường, được cha mẹ chàng trai xem như con cái trong nhà. Hết thời hạn 3 ngày, chàng trai hỏi xem cô gái có đồng ý làm vợ mình không? Nếu cô gái đồng ý thì chỉ việc mang con gà, chai rượu sang nhà bố mẹ vợ báo cáo rồi làm thủ tục đăng ký kết hôn. Còn nếu ba ngày sau cô gái không đồng ý thì chàng trai phải thả cô gái về rồi đợi mùa xuân sau đi kéo tiếp.

    Chính vì thế, tục kéo vợ với tính nhân văn, đậm tình người đã thực sự đi vào trong tâm thức và sinh hoạt của người Dao đỏ nơi miền cao Tây Bắc.

    Tục lệ của người Dao đỏ ở Vàng Ma Chải quy định rằng: “Sau khi kéo cô gái về nhà thì nghiễm nhiên đôi trai gái đó đã nên vợ, thành chồng. Họ có thể sống với nhau, sinh con đẻ cái làm ăn đến khi của cải dư thừa rồi mới tổ chức đám cưới”.

    2- CÂU CHUYỆN KÉO VỢ Ở XẢ VÀNG MA CHẢY – LAI CHÂU

    Từ Dào San, con đường quanh co, uốn lượn như dải lụa vắt qua những dãy núi trùng điệp đưa chúng tôi lên xã Vàng Ma Chải, huyện Phong Thổ, Lai Châu.

    Tới nơi cũng vừa lúc trời tối, từng tốp thanh niên đang trò chuyện rôm rả. Ghé vào ngôi nhà phía đầu bản Sì Choang, sau khi nghe giới thiệu, anh chủ nhà năm nay ngoài 45 tuổi, tên Lý Phủ Vảng nhiệt tình mời tôi ở lại. Bên bếp lửa bập bùng, sau vài chén trà ấm, tôi mở lời hỏi về tập tục kéo vợ của đồng bào nơi đây.

    Vừa nhâm nhi chén trà xanh, anh Vảng cho biết:

    – Tục kéo vợ của người Dao đỏ có từ rất lâu đời rồi, thủ tục cũng đơn giản thôi: những đôi trai gái đến tuổi cập kê phải lòng nhau, hẹn hò ở trên rừng, trên đường, hay phiên chợ rồi chàng trai nhờ một vài người bạn lên điểm hẹn kéo về nhà mình. Tuy nhiên, vẫn còn một số đám kéo vợ đôi trai gái chưa có sự tìm hiểu trước hay sự đồng ý của cô gái mà các chàng trai gặp là “bắt về” nhà. Và tục lệ kéo vợ có tự khi nào chẳng ai biết, chỉ biết phong tục này do người đời trước truyền cho người đời sau. Và hầu hết các chàng trai người Dao ở Vàng Ma Chải đều kéo vợ khi muốn lập gia đình. Thời đại ngày nay, việc kéo vợ của người Dao đã có nhiều đổi mới, phù hợp với điều kiện cuộc sống, xã hội.

    Để giúp tôi tận mắt chứng kiến phong tục độc đáo này, anh Vảng bảo cậu con trai năm nay 18 tuổi tên Siểu, dẫn tôi đi xem kéo vợ. Siểu phấn khởi nói:

    Như đã hẹn, từ sáng sớm, Siểu đã diện bộ trang phục dân tộc truyền thống cùng vài người bạn đợi tôi ngoài cửa. Siểu nói:

    – Hôm nay, em rủ anh và bạn đi kéo giúp người yêu em ở xã Mồ Sì San về. Em đã thông báo với bố mẹ rồi, hôm nay sẽ kéo con dâu về nhà.

    Qua vài người bạn của Siểu, tôi được biết: Lý Y Siểu sinh ra và lớn lên ở mảnh đất bản Sì Choang, còn Lý San Mẩy (người yêu Siểu) lại lớn lên từ bản Xéo Hồ Thầu, xã Mồ Sì San. Hai người đều là dân tộc Dao và cũng đến tuổi cập kê. Họ quen nhau trong một lần tình cờ chàng trai đi thăm họ hàng bên xã cô gái. Chỉ mới lần đầu gặp nhau là con mắt đã ưng, cái lòng đã thuận và tình yêu đã nảy nở giữa hai người. Ngày tháng trôi qua, tình cảm của đôi trai gái ngày càng thắm đượm, họ đã thề nguyền cùng chung sống bên nhau suốt đời và hẹn ngày đến “kéo về”.

    Sau nửa tiếng đi xe máy, tại địa điểm cũ hai người thường hẹn nhau, Siểu dặn chúng tôi phải núp đi và khi có tín hiệu thì chạy đến giúp.

    Như đúng kế hoạch đang lúc tâm sự thì chúng tôi nhận được lệnh đến giúp Siểu kéo cô Mẩy về nhà trai. Sự giằng co quyết liệt giữa 2 bên, cô gái cố vùng vẫy, các chàng trai dồn hết sức kéo cô gái về. Siểu và các bạn đã thành công khi đưa được Mẩy về nhà Siểu. Lúc này mẹ Siểu đã đứng đợi sẵn ở ngoài cửa để đón cô gái.

    Ngày hôm đó nhà trai mổ gà thiết đãi con dâu, cô gái phụ giúp mẹ nấu cơm cho gia đình. Theo “cái lý” của người Dao thì chàng trai luôn phải ở bên cạnh cô gái canh không cho cô gái trốn về nhà và ngày hôm sau gia đình chàng trai phải đến thông báo cho nhà gái biết con gái họ đang ở nhà mình.

    Để chuẩn bị cho ngày kéo vợ, gia đình chàng trai chuẩn bị cho con trai và con dâu quần áo, vòng bạc, dây cúc bạc để khi con dâu mới về biết được rằng cô cũng được bố mẹ chồng quan tâm, yêu thương như con đẻ.

    Ba ngày sau, nếu cô gái đồng ý làm vợ mình thì chàng trai mang một con gà, chai rượu ngon sang nhà bố mẹ vợ thông báo và xin phép đưa gia đình nhà mình sang bàn chuyện kết hôn. Còn ngược lại, nếu cô gái không đồng ý thì chàng trai phải thả cho cô gái về rồi đợi đến mùa xuân năm sau đi kéo tiếp.

    Ông Lý Phủ Hành – Chủ tịch UBND xã Vàng Ma Chải, cho biết:

    – Xã có tổng số 541 hộ với 3.184 nhân khẩu, gồm 2 dân tộc Dao và Hà Nhì sống đoàn kết, trong đó dân tộc Dao chiếm trên 90%. Trước đây, các chàng trai thấy cô gái mình thích ở đâu thì kéo bằng được cho dù cô gái không đồng ý. Hiện nay, đôi trai gái được tự do tìm hiểu và tự quyết định hôn nhân của mình. Khi đôi trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, ưng thuận họ sẽ về báo cáo với bố mẹ, dòng họ biết việc sẽ lấy cô gái đó làm vợ. Trong thực tế kể cả bố mẹ nhà trai hay nhà gái không đồng ý cuộc hôn nhân thì đám cưới vẫn được diễn ra và phải chấp nhận đôi vợ chồng này.

    Hôn nhân chính là kết quả của tình yêu tự nguyện đến với nhau, cũng có những cuộc kéo vợ đã không thành khi có sự ép buộc của bên phía chàng trai đối với cô gái. Song nhìn về phía tích cực, các cuộc “kéo vợ” đều chứa đựng những yếu tố nhân văn khẳng định thêm cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng về một gia đình hạnh phúc.Tục kéo vợ nơi vùng cao này được ví như “ông tơ, bà nguyệt” se duyên cho hạnh phúc lứa đôi. Và mùa xuân, mùa của những đôi trai thanh, gái sắc người Dao tìm đến với nhau, yêu nhau, rồi thành vợ thành chồng trên “Chiếc cầu se duyên” của tục kéo vợ.

     

    VIII- LỂ RỬA MẶT CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

    Lể Rửa Mặt là lể diễn ra để xử phạt những người mắc lỗi, sống không đúng mực trong quan hệ vợ chồng, anh em, dòng họ, làng bản.

    Lể diễn ra trong 1 ngày tại nhà Trưởng Họ, những người trong gia đình, dòng họ chỉ dự chứ không được trực tiếp tham gia mà phải nhờ một số người có uy tín của dòng họ khác (cùng làng) đứng ra làm Lể thì mới khách quan.

    Việc nhờ ai thực hiện nghi lể phải có sự bàn bạc, thống nhất 3 bên: Gia đình, dòng họ của người mắc lỗi và người uy tín của dòng họ khác được mời đến.

    Trước hôm diễn ra nghi lễ, Trưởng Dòng Họ mời khoảng 30 người (ông, bà, bố, mẹ, anh, em, cô, dì, chú, bác trong dòng họ) để thống nhất xử phạt, có thể xử phạt bằng hiện vật như: Lợn, gà, gạo, rượu hoặc tiền, bạc trắng …

    Gia đình người có tội phải chuẩn bị 1 chiếc khay trong đó đựng hai chén rượu, 2 hào bạc trắng và một chiếc khăn mặt mới. 2 – 3 người có uy tín của dòng họ khác (được ấn định từ trước) yêu cầu người có tội bưng chiếc khay đến trước mặt các thành viên trong dòng họ và tất cả những người (ngoài dòng họ) được mời đến … vái mỗi người một cái, miệng xin được tha lỗi và hứa từ nay trở đi không gây ra tội lỗi nữa. Khi vái đến ai, người đó đều dặn dò, khuyên nhủ người có tội phải thay đổi hành vi, sống có nghĩa, có tình với họ hàng, làng bản, không được gây xích mích, thù oán nhau, chịu khó lao động phát triển kinh tế gia đình …

    Kết thúc nghi lể, gia đình người có tội phải làm bữa cơm thịnh soạn mời tất cả mọi người có mặt tại buổi lể. Người có tội mang rượu đến cụng chén các vị cao niên trong và ngoài dòng họ để cảm ơn và hứa sẽ không tái phạm.

    (Còn tiếp – Sưu tầm & biên tập lại từ nhiều nguồn _ nguyenvo)

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Phục Của Phụ Nữ Dao Thanh Phán
  • Nguồn Gốc Và Quá Trình Tộc Người
  • Học Tiếng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Để Gần Dân, Hiểu Dân Hơn
  • Các Dân Tộc Tỉnh Kon Tum
  • Tình Hình Sử Dụng Tiếng Mẹ Đẻ Của Người Mông Ở Hà Giang
  • Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao
  • Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi
  • Dạy Tiếng Thái Cho Học Sinh… Dân Tộc Thái
  • Tài Liệu Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Ba Chẽ, Sở Nội vụ phối hợp với Sở Giáo dục – Đào tạo và Ban Dân tộc tỉnh vừa khai giảng lớp đào tạo tiếng Dao Thanh Phán khoá I-2009 cho gần 40 đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức của 3 huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà. Đây là lớp học tiếng dân tộc Dao đầu tiên trên địa bàn tỉnh có sự phối hợp từ các ngành chức năng của tỉnh. Tại lớp học này, các học viên được tiếp cận và nghiên cứu sâu về tiếng dân tộc thiểu số nói chung và tiếng Dao Thanh Phán nói riêng, phục vụ cho công tác chuyên môn và việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và vận động quần chúng ở các vùng đồng bào dân tộc.

    Chủ trương đẩy mạnh và tăng cường phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Bởi vậy nhiều năm qua, cơ sở vật chất, mức sống của người dân ở các vùng này đã được cải thiện, nâng lên đáng kể. Người dân phấn khởi, tin tưởng vào các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

    Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì cuộc sống của người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn so với các vùng thuận lợi. Nhiều nơi cơ sở hạ tầng còn thiếu, chất lượng chưa cao, thiếu đồng bộ; tốc độ phát triển kinh tế – xã hội còn chậm; các hủ tục lạc hậu chưa được loại bỏ triệt để. Đặc biệt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng ở những nơi này còn gặp những khó khăn trở ngại mà một trong những rào cản chủ yếu là do bất đồng về ngôn ngữ. Đặc điểm chung ở các vùng dân tộc thiểu số là trình độ người dân còn hạn chế, thậm chí có nhiều người chưa biết tiếng phổ thông nên việc tiếp cận của cán bộ, đảng viên gặp nhiều trở ngại.

    ý thức được tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng, trong đó cán bộ vận động phải am hiểu tiếng nói và các phong tục tập quán của người dân nên trong những năm gần đây việc dạy và trang bị tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, viên chức công tác ở các địa bàn dân tộc đã được quan tâm, nhất là trong các đơn vị lực lượng vũ trang đứng chân ở các địa bàn biên giới. Qua đó hiệu quả công tác vận động quần chúng đã được tăng lên rõ rệt. Mối quan hệ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa cán bộ và người dân đã khăng khít hơn. Vì vậy việc mở các lớp học tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, viên chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số là hết sức cần thiết, cần được nhân rộng…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum
  • Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên
  • Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên
  • Giữ Gìn Ngôn Ngữ Là Bảo Tồn Văn Hóa Tộc Người Dao Tiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Nấu Sáp Ong Khoái Của Người Dao Tiền
  • Trang Bị Tiếng Dao Thanh Phán Để Cán Bộ, Viên Chức Thực Hiện Tốt Hơn Nhiệm Vụ
  • Top 7 Sách Tự Học Tiếng Anh Hiệu Quả Tại Nhà Mà Bạn Nên Mua
  • Trung Tâm Tiếng Nhật Hoa Anh Đào
  • Top 3 Phần Mềm Học Tiếng Anh Miễn Phí Tốt Nhất
  • Bố mẹ tôi sinh được ba người con, nhưng cả ba anh em chúng tôi đều không thể sử dụng thành thạo một loại tiếng Dao nào. Vậy điều gì khiến thế hệ thứ ba chúng tôi mất đi tiếng nói của dân tộc mình? Ðể gìn giữ ngôn ngữ của dân tộc, chúng tôi phải làm gì? Ðó vẫn là những câu hỏi lớn mà anh em tôi đang phải tìm câu trả lời. Vì ngôn ngữ không chỉ là một thành tố cơ bản của văn hóa, một biểu hiện của những giá trị nhân văn, mà còn là phương tiện để hình thành và lưu truyền các hình thái quan trọng nhất trong đời sống văn hóa của người Dao Tiền. Giữ được ngôn ngữ của dân tộc mình cũng là góp phần bảo tồn và phát triển sự đa dạng trong văn hóa của người Dao Tiền nói riêng và cộng đồng dân tộc Dao nói chung.

    Theo chúng tôi, dù là tiếng Dao Tiền, tiếng Mông hay tiếng Kinh thì môi trường giao tiếp là điều kiện tiên quyết để ngôn ngữ đó tồn tại hay không tồn tại. Muốn giữ được tiếng mẹ đẻ tất yếu phải giữ được những làng bản riêng của từng dân tộc, nếu việc “cộng cư, cộng sinh” có diễn ra thì khi đi học, đi làm có thể giao tiếp bằng tiếng Việt nhưng lúc trở về với gia đình, cha mẹ phải giao tiếp với con bằng ngôn ngữ của dân tộc mình. Làm được điều đó, chắc chắn ngôn ngữ mẹ đẻ của mỗi dân tộc không dễ gì mà mất đi được.

    Trong xu thế hội nhập về văn hóa và ngôn ngữ, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số, tiếng Dao nói chung và tiếng Dao Tiền nói riêng đã có những thay đổi nhanh chóng trên nhiều phương diện. Một trong những thay đổi dễ nhận thấy nhất và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm đó là tiếng Kinh sử dụng rộng rãi trong làng bản của người Dao dẫn đến tình trạng ngôn ngữ Dao đang dần bị mất đi. Ðể gìn giữ tiếng mẹ đẻ của người Dao, theo chúng tôi cần ba điều kiện cơ bản:

    Thứ nhất là điều kiện tự nhiên: Ðịa bàn sinh sống của người Dao nói chung và người Dao Tiền nói riêng phải mang đậm tính chất tộc người, khi sống xen kẽ với các dân tộc khác vẫn phải duy trì ngôn ngữ của dân tộc mình, không để ngôn ngữ phổ thông và ngôn ngữ của các dân tộc khác chi phối.

    Thứ hai là điều kiện xã hội: Ngôn ngữ dân tộc Dao (cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết) phải được đưa vào dạy trong các trường phổ thông dân tộc nội trú; cần có những biện pháp cụ thể để khích lệ được đồng bào sử dụng rộng rãi tiếng mẹ đẻ trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc mình.

    Và thứ ba là điều kiện gia đình: Các gia đình người Dao phải là nơi lưu giữ và duy trì ngôn ngữ của dân tộc mình, cha mẹ chính là người giúp các em có nhiều cơ hội sử dụng tiếng mẹ đẻ cũng như khơi dậy lòng tự hào về ngôn ngữ của dân tộc, lấy ngôn ngữ dân tộc làm gốc, từ đó các em nhỏ có vốn ngôn ngữ cơ bản tiếp thu, học tập tiếng phổ thông.

    Trước thực trạng tiếng nói và chữ viết của người Dao đứng trước nguy cơ mai một, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng người Dao cần có những chương trình hành động mạnh mẽ hơn. Thí dụ như khuyến khích, vận động người Dao ở các bản làng giao tiếp hằng ngày bằng tiếng dân tộc mình; tuyên truyền cho đồng bào hiểu giá trị của ngôn ngữ mẹ đẻ để họ thấy tự hào, từ đó ý thức hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa dân tộc, tránh tình trạng sử dụng thiên lệch ngôn ngữ của dân tộc khác trong đời sống tộc người.

    Tiếp tục thu thập, bảo tồn và phổ biến các văn bản viết bằng chữ Nôm Dao để nâng cao trình độ thưởng thức cũng như giáo dục cho đồng bào biết quý trọng những di sản văn hóa của dân tộc của mình. Ngay bây giờ, chúng ta cần có chính sách lưu giữ, dịch thuật các văn bản văn học của người Dao trước khi những người biết chữ Nôm Dao mất đi. Trên truyền thông đại chúng, nên có thêm thời lượng phát sóng chương trình tiếng Dao với nội dung tuyên truyền, giáo dục ý thức gìn giữ ngôn ngữ của dân tộc mình.

    Căn cứ vào những chính sách ngôn ngữ đúng đắn của Ðảng và Nhà nước, chúng ta cần sớm xây dựng một bộ từ điển Dao – Việt và dạy tiếng Nôm Dao rộng rãi trong các trường phổ thông dân tộc nội trú, khuyến khích giới công chức, viên chức người Dao làm việc tại địa phương học và sử dụng tiếng Dao.

    Bản thân là người dân tộc Dao Tiền, chúng tôi luôn mong muốn, dù sống ở xa quê hương nhưng ngôn ngữ Dao của thế hệ chúng tôi không bị mất đi để mỗi lần trở về quê sẽ được nghe con cháu người Dao Tiền nói đúng tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng làng bản của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng 47.000 Euro
  • Cô Gái Người Dao Giành Học Bổng Thạc Sĩ 47.000 Euro
  • Cô Gái Người Dao Ở Xã Nghèo Biên Giới Trúng Học Bổng 50.000 Usd
  • Chuyện Chưa Kể Về Cô Gái Người Dao Đỗ Học Bổng Thạc Sĩ Tiền Tỉ Của Đức
  • Muốn Làm Thầy Mo Của Người Dao Đỏ, Phải Qua 3 Lễ Tắm Than
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100