Tôi – Người Dân Tộc Cao Lan Tuyên Quang!

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 3: Thắp Lửa Truyền Thống Văn Hóa Gia Đình
  • Phong Tục Văn Hóa Dân Tộc Mạ
  • Đào Hiếu – Những Bài Học Từ Esperanto
  • Không Phải Tiếng Anh, Đây Mới Là Những Ngoại Ngữ Bạn Nên Học Trong Năm 2022!
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Trong Trường Tiểu Học Ở Gia Lai: Nhiều Khó Khăn, Vướng Mắc
  • Tôi – Người dân tộc Cao Lan Tuyên Quang!

    Từ xa xưa mọi người biết đến 64 các dân tộc anh em trên cả nước, nhưng nói đến dân tộc Cao lan mọi người có thể ít biết đến, một dân tộc tiểu số nhất nước ta. Dân tộc Cao lan sống ở các tỉnh phía tây bắc, trong đó có 3 tỉnh miền núi có dân tộc cao lan đó là : Tuyên Quang , Hà giang , yên bái và Lạng sơn. Đó là những tỉnh còn có dân tộc cao lan sinh sống, trong đó Tuyên quang chiếm phần lớn dân tộc này hầu như ở huyện nào của tuyên quang cũng có dân tộc Cao lan sinh sống.

    Phong tục tập quán của người cao lan là có ngôn ngữ riêng và phong tục riêng vào mỗi ngày lễ tết, như lễ cầu mưa, cầu nắng, ngày hội của làng xóm. Mỗi một phong tục mang một nét văn hóa riêng, ngôn ngữ phong phú đa dạng mà giờ chỉ còn già làng mới viết được thứ tiếng đó thành chữ

    Như : kên lẩu là (uống rượu)

    Tú phệt là (con vịt)

    Tú kạy là (con gà)

    Mạc là (quả hay trái cây ) Mạc ủi (quả ổi )

    Ché cục chúng là è? (mẹ đang làm gì thế?)

    Dân tộc Cao lan có những ngôi Đình (đình làng) để đến ngày họp làng xóm mọi người có thể tập chung đông đủ mỗi người góp 5 hay 10 nghìn để tu sửa đình, hay chuyển bị cho một lễ hội của làng tại ngôi đình làng đó,và cùng nhau chuyển bị cho ngày hội làng thật tốt, như ngày hội xuống đồng, ngày lễ cầu mưa và truyền thống khâu quả còn của người dân tộc Cao lan.

    100.000d và người ném chúng quả còn đó sẽ được mọi người trong làng để ý và nhắc tên nhiều trong nhiều ngày như tuyên dương người ném chúng còn của ngày hội năm nay vậy, ngày hội được kéo dài 5 ngày từ ngày mùng 5 và ngày mùng 10 là hội chính, xen kẽ ngày hội ném còn, bên cạnh còn có nhũng trò chơi như đu quay, kéo co….và đặc biệt hơn là có cuộc thi người đẹp Cao lan,đó là một cuộc thi tri thức và sự khéo léo của những cô gái khoác trên mình tấm áo dân tộc cao lan,và những lời bài hát của dân tộc Cao lan hay còn gọi là (hát sình ca) và những bộ quần áo dân tộc được trang trí bằng những dây và khăn quấn đầu mang đậm truyền thống người Dân tộc Cao lan.

     

                                                                                                  Âu Hạnh 

     

     

    0.000000

    0.000000

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệp Hội Những Người Mới Định Cư Đến Canada Ở Pei
  • Dịch Thuật Tiếng Campuchia Sang Tiếng Việt Online Chuẩn Nhất
  • Cảnh Quan Ngôn Ngữ Ở Brunei: Vì Sao Một Số Ngôn Ngữ Không Xuất Hiện Trên Đường Phố?
  • Top 10 Trung Tâm Tiếng Anh Uy Tín Tại Quy Nhơn Bình Định
  • Tiếng Địa Phương Ở Bình Định
  • Về Làng Văn Hóa Dân Tộc Cao Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Mẫu: Miêu Tả Con Vật Bằng Tiếng Trung Mà Bạn Yêu Thích
  • Một Số Từ Vựng Về Con Vật Trong Tiếng Anh Mà Bạn Nên Biết
  • Học Từ Vựng Tiếng Anh Về Con Vật
  • Học Tiếng Anh Tiểu Học Theo Chủ Đề Con Vật (Có Phiên Âm)
  • Từ Vựng Tiếng Nhật Chủ Đề Động Vật
  • Làn điệu sình ca mượt mà, sâu lắng; những điệu múa đẹp đến mê hồn, những phong tục tập quán độc đáo… là “kho báu” của dân tộc Cao Lan ở thôn Trại Khách, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; nơi được ví như một ngôi “làng cổ” của dân tộc Cao Lan, đang gìn giữ những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của dân tộc Cao Lan trước nguy cơ mai một.

    Bà Vi Thị Sửu, Chủ nhiệm câu lạc bộ hát sình ca của thôn Trại Khách cho biết: Sình ca là lối hát đối đáp (giao duyên) của dân tộc Cao Lan, tuy không có nhạc nhưng mỗi câu hát ngân lên lại có sức mạnh lan tỏa rất lớn. Triết lý trong sình ca vô cùng sâu sắc, với những câu hát ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước, hát về con người, vũ trụ…Tương truyền, sình ca được chia thành 12 tập và hát trong 12 đêm, mỗi tập mang một nội dung, ý nghĩa khác nhau; nhưng có một điểm chung là: Khi đã biết và yêu sình ca thì con người sẽ luôn biết giữ đạo đức, biết kính trên nhường dưới, sống chan hòa và yêu thương giúp đỡ lẫn nhau…

    Một buổi tập văn nghệ của CLB văn nghệ sình ca thôn Trại Khách.

    Bà Sửu cũng cho biết thêm: Để sình ca đi vào lòng người không thể thiếu những điệu múa, như múa Nón, múa Quạt, múa Tung Còn, múa Khai Đèn… Những động tác nhịp nhàng, vui tươi trong các điệu múa hòa cùng làn điệu sình ca tạo nên sức hút vô cùng đặc biệt. Đây là niềm tự hào của dân tộc Cao Lan bao thế hệ nay.

    Bên cạnh làn điệu sình ca, cộng đồng dân tộc Cao Lan nơi đây còn tự hào vì bảo tồn được những phong tục truyền thống của dân tộc, như lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ tang…

    Những ngôi nhà sàn cổ cũng là một trong những nét đặc sắc ở ngôi làng này. Ông Hoàng Liên Sơn, trưởng thôn 15 Trại Khách, xã Kim Phú (Yên Sơn, Tuyên Quang) cho biết: Thôn có hơn 90 hộ, trong đó 97% là dân tộc Cao Lan với nhiều dòng họ lớn như: họ Tiêu, họ Hoàng, họ Vi, họ Lâm… Trẻ con sinh ra ở đây ngoài nói tiếng phổ thông đều biết nói tiếng của dân tộc mình, cho nên tiếng nói của dân tộc Cao Lan được bảo tồn rất tốt. Bên cạnh đó, thôn còn giữ được khoảng 70% nhà sàn truyền thống.

    Để giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình trước nguy cơ bị mai một, cộng đồng dân tộc Cao Lan ở đây đã có những cách gìn giữ rất độc đáo.

    Để giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình trước nguy cơ bị mai một, cộng đồng dân tộc Cao Lan ở đây đã có những cách gìn giữ rất độc đáo.

    Chia sẻ với chúng tôi về điều này, ông Sơn cho biết thêm: Người dân nơi đây bảo tồn bản sắc văn hóa theo phương châm “Người người gìn giữ, nhà nhà gìn giữ”, nghĩa là mỗi dòng họ có một hương ước riêng, trong đó quy định phải có trách nhiệm bảo tồn văn hóa của dân tộc mình… Từ đó mỗi người sẽ tự có ý thức và trách nhiệm đối với bản sắc văn hóa của dân tộc, gìn giữ và không để nó mai một.

    Ông Đoàn Khắc Mười, chủ tịch UBND xã Kim Phú (Yên Sơn, Tuyên Quang) cho biết: Xã Kim Phú có 11 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Cao Lan có ý thức, trách nhiệm và cách làm rất hay trong vấn đề tự bảo tồn tinh hoa văn hóa của dân tộc mình. Do đó, bản sắc văn hóa của dân tộc Cao Lan trong xã vẫn còn giữ được những nét nguyên sơ nhất. Để khuyến khích, giúp đỡ đồng bào dân tộc Cao Lan bảo tồn bản sắc văn hóa, hàng năm xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ về trang phục… hướng tới bảo tồn và phát triển làng văn hóa dân tộc Cao Lan; lấy đây là tấm gương để các dân tộc anh em trong xã noi theo…

    Cộng đồng Cao Lan ở thôn Trại Khách nói riêng và toàn tỉnh Tuyên Quang nói chung hôm nay có thể tự hào vì bản sắc của dân tộc mình đang được gìn giữ rất hiệu quả. Bên cạnh đó, viễn cảnh về một ngôi làng trù phú cũng đang mở ra với người dân nơi đây. Bởi trong “Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa tỉnh Tuyên Quang đến năm 2022”, thì trong giai đoạn 2013-2015, đây sẽ là nơi để xây dựng “Làng văn hóa dân tộc Cao Lan”.

    Bài và ảnh: Phạm Yến – Minh Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Giữ Lửa Văn Hóa Dân Tộc Cao Lan
  • Nan Giải Bài Toán Bảo Tồn Văn Hóa Cao Lan
  • Giữ Gìn Điệu Hát Sình Ca Của Dân Tộc Cao Lan
  • Chương Trình Học Tiếng Anh Siêu Tiết Kiệm Tại Canada
  • Chương Trình Tiếng Anh Siêu Tiết Kiệm Tại Canada
  • Người Giữ Lửa Văn Hóa Dân Tộc Cao Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Làng Văn Hóa Dân Tộc Cao Lan
  • Văn Mẫu: Miêu Tả Con Vật Bằng Tiếng Trung Mà Bạn Yêu Thích
  • Một Số Từ Vựng Về Con Vật Trong Tiếng Anh Mà Bạn Nên Biết
  • Học Từ Vựng Tiếng Anh Về Con Vật
  • Học Tiếng Anh Tiểu Học Theo Chủ Đề Con Vật (Có Phiên Âm)
  • Ông Nịnh Văn Chau sưu tầm, biên soạn chữ của người Cao Lan sang tiếng Việt để dạy cho các em trong thôn, xã. Ảnh: Long Vũ

    Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về dạy và học chữ , ngay từ nhỏ, ông Chau luôn miệt mài theo cha học chữ, học đạo làm người. Đến năm 17 tuổi, ông đã thấm nhuần tư tưởng đạo đức, giáo lý, tinh thông các sách và thuộc lòng các bài cúng, bài hát dân ca của người Cao Lan.

    Ông Chau tâm sự: “Văn hóa, tín ngưỡng, tập quán của người Cao Lan chúng tôi được thể hiện rõ nhất qua các chữ viết, cuốn sách. Chữ của người Cao Lan thuộc hệ chữ Hán – Nôm nên rất khó học và viết. Những trang sách của người Cao Lan hàm chứa một lượng lớn tri thức của dân tộc Cao Lan như phong tục, tín ngưỡng, cách trồng trọt, chăn nuôi, phương châm sống. Hiện nay, ở xã còn rất ít người bảo lưu được chữ cổ này”.

    Cuộc sống càng hiện đại thì phong tục tập quán đặc sắc ngày càng thay đổi và có dấu hiệu thất truyền. Ông Chau rất tâm huyết với việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết cổ, phong tục tập quán của người Cao Lan và nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc gìn giữ chữ viết cổ, nên từ năm 2022 đến năm 2022, ông đã mở lớp truyền dạy chữ Hán – Nôm và bài cúng cho học trò có độ tuổi từ 6-25 tuổi tại gia đình ông. Tính đến nay, ông đã truyền dạy được nhiều học trò, các học trò theo ông học chữ nay cũng đã trở thành thầy dạy chữ Hán – Nôm, thầy cúng.

    Anh Lục Văn Sinh, người theo học ông Chau cho biết: “Tôi rất thích tìm hiểu vốn sống, tín ngưỡng, tập quán của đồng bào Cao Lan mình, vì thế, tôi đã theo học thầy Chau. Ban đầu học viết rất khó, bởi chữ Hán – Nôm có nhiều nét. Nhớ để viết lại càng khó. Từ lúc theo học đến nay, tôi cũng đã học được nhiều chữ và biết được nhiều phong tục tập quán của dân tộc mình”.

    Tâm huyết cả đời của ông Chau là mong muốn thế hệ con cháu luôn giữ gìn được truyền thống văn hóa của cha ông. Vì vậy, ông truyền dạy chữ cho học trò với tinh thần tự nguyện, không lấy tiền công. Năm nào cũng vậy, từ ngày mồng 1 Tết cho đến hết ngày rằm tháng Giêng, học trò đến nhà ông, ăn, ở cùng gia đình thầy để học chữ. Thầy giảng dạy bắt đầu từ bài giáo lý, cho đến đạo đức, lối sống. Ông dạy học trò theo sách giáo trình, các sách có nội dung từ đơn giản đến phức tạp, các sách giảng dạy gồm: Thại sênh tà phủ, Sừng sênh, Dừn thin, Nhục vùng… và các sách hát như: Xướng cọ, Sình ca…

    Để đọc thông, viết thạo, các học trò phải theo học 3 năm liên tục. Trong năm đầu và năm thứ hai, ông chỉ dạy chữ và cách đọc, viết và học thuộc lòng. Đến năm thứ 3, các trò được học các bài cúng, bài hát dân tộc và cách thức tổ chức các nghi lễ dân tộc như lễ cấp sắc, lễ cúng ngày Tết, ngày rằm… Ông sử dụng các phương pháp trực quan, phương pháp giảng giải và phương pháp đàm thoại… để giảng cho học trò dễ hiểu, dễ học.

    Không chỉ đam mê dạy học, ông Nịnh Văn Chau còn là người tích cực tuyên truyền cho các con cháu trong làng, thôn giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời, vận động con cháu giữ gìn những trang phục, các bài hát Sình ca, lối sống tốt đẹp của đồng bào suốt hàng trăm năm qua. Ông còn tham gia biên dịch các bài hát độc đáo của người Cao Lan ra chữ Quốc ngữ để giảng dạy cho thanh thiếu niên trong thôn, xã.

    Ông Chau tâm sự: “Bản thân tôi vinh dự và hạnh phúc khi được truyền dạy văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào mình cho lớp trẻ. Tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để có thật nhiều học trò tiếp nối cha ông giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nan Giải Bài Toán Bảo Tồn Văn Hóa Cao Lan
  • Giữ Gìn Điệu Hát Sình Ca Của Dân Tộc Cao Lan
  • Chương Trình Học Tiếng Anh Siêu Tiết Kiệm Tại Canada
  • Chương Trình Tiếng Anh Siêu Tiết Kiệm Tại Canada
  • Chuẩn Bị Tiếng Anh Du Học: Du Học Tiếng Anh Tại Canada
  • Giữ Gìn Điệu Hát Sình Ca Của Dân Tộc Cao Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Nan Giải Bài Toán Bảo Tồn Văn Hóa Cao Lan
  • Người Giữ Lửa Văn Hóa Dân Tộc Cao Lan
  • Về Làng Văn Hóa Dân Tộc Cao Lan
  • Văn Mẫu: Miêu Tả Con Vật Bằng Tiếng Trung Mà Bạn Yêu Thích
  • Một Số Từ Vựng Về Con Vật Trong Tiếng Anh Mà Bạn Nên Biết
  • Lớp trẻ người dân tộc Cao Lan ngày càng say mê

    hát Sình ca. (Nguồn:Internet)

    Sình ca là lối hát giao duyên giữa nam và nữ hay tốp nam với tốp nữ; được hát trong nhiều hoàn cảnh khác nhau: hát trong đám cưới, ngày hội, hát khi tết đến, xuân về. Ngày xưa, các bài hát được ghi bằng chữ nôm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, khi phiên dịch ra tiếng Việt thường được chuyển thành thể lục bát cho có vần, có điệu.

    Thôn Mãn Hoá, xã Đại Phú, huyện Sơn Dương có 95 hộ thì 100% là dân tộc Cao Lan. Bởi vậy việc gìn giữ, phát huy điệu hát Sình ca là việc chung của tất cả mọi người dân trong thôn dưới sự chỉ huy của “Nhạc trưởng” Sầm Văn Dừn. Ông Sầm Văn Dừn năm nay đã 61 tuổi, là Bí thư Chi bộ thôn. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Cao Lan truyền thống, ông Dừn được tiếp truyền niềm say mê các làn điệu Sình ca. Với ông, hình ảnh những đêm hát Sình ca giữa các đôi bạn quanh bếp lửa nhà sàn đã ăn sâu vào tâm thức. Hiện nay, trong nhà ông còn lưu giữ 200 đầu sách về văn hoá dân tộc Cao Lan. Đó chính là nguồn cảm hứng để ông sáng tác những làn điệu Sình ca của dân tộc mình. Yêu văn hoá, văn nghệ dân tộc càng khiến ông trăn trở khi thấy thế hệ trẻ trong thôn không còn biết chữ nôm để hiểu được lời Sình ca; tiếng dân tộc Cao Lan cũng ngày càng ít được sử dụng. Thất truyền điệu hát Sình ca vì thế đang trở thành là nguy cơ hiện hữu. Nỗi niềm của ông đã nhận được sự sẻ chia, đồng cảm của lớp người cao tuổi trong thôn. Họ cùng nhau hoạch định biện pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

    Điều đáng mừng là tâm huyết của ông Dừn được thế hệ trẻ trong thôn đón nhận và hưởng ứng nhiệt tình. Nhận thấy văn hoá dân tộc Cao Lan đứng trước cơ hội được bảo tồn và phát triển, nhất là thoả mãn tâm lý của bà con muốn tìm hiểu về quá khứ, cội nguồn dân tộc, về những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, thôn Mãn Hoá đã thành lập đội văn nghệ nghiệp dư, ngày thì lao động sản xuất, tối đến lại lên sân khấu luyện tập và biểu diễn bằng tất cả niềm đam mê. “Đột phá” nhất của đội văn nghệ chính là sự góp mặt của các cô gái trong những bài múa truyền thống có sự kết hợp của lời Sình ca và chiếc trống sành trên sân khấu. Xưa kia, trong quan niệm của người Cao Lan, các cô gái tối kỵ không được tham gia vào nghi lễ. Đồng bào còn quan niệm: cứ mỗi khi tiếng trống sành vang lên thì dân bản sẽ mất đi một người. Trải qua 10 năm, giờ đây, người Cao Lan nghe thấy tiếng trống sành không còn rùng mình sợ hãi nữa mà kéo đến rất đông, bởi ở đâu có tiếng trống sành, ở đó có biểu diễn văn nghệ, có hát Sình ca. Phong trào văn hoá, văn nghệ dân tộc cũng vì thế ngày càng được mọi người chú ý hơn. Thôn Mãn Hoá đã có 3 thế hệ diễn viên, với 60 người được truyền dạy và biết múa các bài múa cờ, múa kiếm, múa trống của dân tộc. Đội văn nghệ dân gian của thôn đã hơn 10 lần “chạm tay” vào các giải thưởng cao quý: 2 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc, 1 giải A toàn quốc, 1 kỷ niệm chương của Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch, 4 Bằng khen của tỉnh, 8 Giấy khen và 12 giấy chứng nhận các tiết mục đạt giải xuất sắc.

    Hình thức tổ chức và hoạt động của đội văn nghệ của thôn Mãn Hoá được Trung tâm Văn hoá tỉnh Tuyên Quang đánh giá cao vì Nhà nước không phải tốn kinh phí đầu tư mà người dân là chủ thể trực tiếp, chủ động tham gia bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. Đội văn nghệ không chỉ hoạt động khi lễ tết mà còn thường xuyên tổ chức biểu diễn ở khắp nơi, thông qua lời hát Sình ca góp phần xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, đồng thời trở thành nòng cốt để tuyên truyền, phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Cao Lan trong rực rỡ sắc màu văn hoá cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Trên phạm vi rộng hơn, để bảo tồn lối hát Sình ca của dân tộc Cao Lan, tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng “Làng văn hoá dân tộc Cao Lan” tại huyện Yên Sơn. Đồng thời khuyến khích huyện thành lập các câu lạc bộ hát Sình ca, sinh hoạt đều đặn hàng tuần, từng bước đưa Sình ca trở lại phục vụ cuộc sống, đáp ứng nhu cầu văn hoá, văn nghệ cổ truyền của người Cao Lan nói riêng, những người yêu loại hình nghệ thuật độc đáo này nói chung trên địa bàn tỉnh. Được biết, Đoàn nghệ thuật tỉnh cũng đã tích cực khai thác chất liệu Sình ca để cải biên, dàn dựng thành các tiết mục biểu diễn trên sân khấu chuyên nghiệp của tỉnh.

    Sình ca của người Cao Lan đã hồi sinh và đang ngày càng phát triển nhờ tấm lòng của những người yêu nghệ thuật dân gian truyền thống ở Tuyên Quang./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Học Tiếng Anh Siêu Tiết Kiệm Tại Canada
  • Chương Trình Tiếng Anh Siêu Tiết Kiệm Tại Canada
  • Chuẩn Bị Tiếng Anh Du Học: Du Học Tiếng Anh Tại Canada
  • Bất Ngờ Với Học Phí Du Học Canada 2022 Theo Các Bậc Học
  • Du Học Tiếng Anh Với Học Bổng 25% Học Phí Tại Mỹ Và Canada
  • Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Học Sinh Người Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Bắc Sơn
  • Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Hải Sơn
  • Đề Án Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Mường Giai Đoạn 2022
  • Không Đơn Giản Là Người Biết Nhiều Dạy Người Biết Ít!
  • Trường Đại Học Khoa Học
  • Điện Biên TV – Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc trong đó khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc. Tại huyện Tuần Giáo chương trình dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh đã được triển khai tại 15 trường tiểu học và trung học cơ sở.

    Lớp học dạy tiếng Thái cho học sinh tại huyện Tuần Giáo.

    Năm 2011, trường PTDTBT Tiểu học Ta Ma là một trong những đơn vị trường học đầu tiên triển khai dạy tiếng Mông theo Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2022.  Chương trình được triển khai từ lớp 3 đến lớp 5, học sinh đã tương đối thuần tiếng phổ thông nên việc nắm bắt kiến thức tiếng Mông khá thuận lợi.

    Tuy nhiên, theo thầy giáo Nguyễn Phúc Đồng, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết việc dạy tiếng dân tộc cũng gặp một số khó khăn. ĐÓ là nội dung kiến thức còn hơi nặng với học sinh khối lớp 3 bởi một số phần học sinh hơi khó nhớ và khó hiểu. Do vậy, đề nghị trong thời gian tới Đề án nên giảm tải bớt chương trình cho khối lớp 3.

    Chủ động truyền dạy tiếng dân tộc cho học sinh, đội ngũ giáo viên là người dân tộc Thái, dân tộc Mông đã sáng tạo, linh hoạt làm đồ dùng dạy học và sử dụng phù hợp với đặc thù và vùng miền nhằm nâng cao chất lượng truyền thu tiếng dân tộc. Đồng thời lựa chọn lồng ghép giới thiệu văn hóa, phong tục tập quán, các trò chơi dân gian,… của các dân tộc thông qua các chương trình chính khóa, ngoại khóa, các hoạt động tập thể.

    Khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc.

    Ông Đỗ Văn Sơn, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Tuần Giáo, cho biết: Năm học 2011 – 2012, khi bắt đầu triển khai Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2022, huyện Tuần Giáo chỉ có có 2 trường, 4 lớp và 85 học sinh học tiếng Thái; 1 trường, 2 lớp và 48 học sinh học tiếng Mông. Đến nay, sau gần 10 năm triển khai thực hiện Đề án quy mô trường, lớp, học sinh học tiếng dân tộc trên địa bàn huyện Tuần Giáo được mở rộng theo từng năm.

    Tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc, huyện Tuần Giáo  đang vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học môn tiếng Việt vào dạy tiếng dân tộc; ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; xây dựng đội ngũ quản lý viên chức quản lý chỉ đạo dạy tiếng dân tộc có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, hiểu biết tiếng, chữ viết và văn hóa dân tộc… theo tinh thần Nghị quyết số 03/NQ-TW về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

     

    Việt Hòa/DIENBIENTV.VN

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Campuchia Uy Tín, Chất Lượng
  • Tuyển Dụng Giáo Viên Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm Tại Hà Nội
  • Job Type: Bán Thời Gian
  • Kết Quả Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh Phổ Thông Trên Địa Bàn Tỉnh Kon Tum
  • Khai Giảng Lớp Tiếng Bahnar, Khóa I
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Khmer

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Và Học Tiếng Khmer Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Học Tiếng Và Chữ Dân Tộc Mông
  • Hướng Dẫn Kiểm Tra Và Cấp Chứng Chỉ Tiếng Dân Tộc Khmer
  • Trang Tin Điện Tử Của Ủy Ban Dân Tộc
  • Gìn Giữ Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Pakô
  • Ngày 4/11, tại Trà Vinh, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, tổ chức UNICEF Việt Nam và Trường Đại học Trà Vinh tổ chức hội nghị chuyên đề về nâng cao chất lượng dạy và học tiếng dân tộc Khmer tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Gần 100 đại biểu là các chuyên gia quốc tế, đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, cán bộ quản lý giáo dục dân tộc thiểu số thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

    Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Triệu Thị Nái cho biết, tiếng Khmer hiện đang được giảng dạy tại 9 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long: Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, thành phố Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, với số lượng học sinh bậc tiểu học và trung học cơ sở hơn 70.100 học sinh. Những năm qua, chất lượng dạy và học tiếng Khmer đã từng bước được nâng cao, học sinh ngày càng yêu thích môn học tiếng Khmer.

    Tuy vậy, việc dạy và học tiếng Khmer đang bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu “dạy tốt, học tốt tiếng Khmer” để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Những “rào cản” lớn nhất trong việc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Khmer hiện nay là: cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học chưa đáp ứng được yêu cầu; nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ; sách giáo khoa tiếng Khmer do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chưa đồng bộ và đảm bảo tính liên tục ở các cấp học, hiện vẫn chưa có bộ sách giáo khoa mới dành cho học sinh trung học phổ thông, thiếu sách tham khảo cho học sinh và giáo viên,…

    Tại hội nghị các chuyên gia, nhà quản lý đã đề xuất nhiều giải pháp khắc phục những khó khăn, hạn chế nêu trên. Theo đó cần nhanh chóng rà soát về nhu cầu và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên dạy tiếng Khmer ở từng tỉnh, thành phố hiện nay để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kịp thời. Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm lập đề án trình Chính phủ việc tổ chức chỉnh lý sách giáo khoa tiếng Khmer bậc tiểu học, trung học cơ sở và biên soạn sách giáo khoa tiếng Khmer bậc trung học phổ thông. Bên cạnh đó tăng cường sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng cho yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Khmer; xây dựng trường điểm thực hành học 2 buổi/ngày cho học sinh dân tộc Khmer để tăng cường khả năng học, giao tiếp bằng tiếng Việt.

    Hiện nay, cả nước chỉ có duy nhất Trường Đại học Trà Vinh thực hiện đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học chuyên ngành về Văn hóa Khmer Nam bộ, Ngôn ngữ Khmer, Sư phạm Ngữ văn Khmer Nam bộ. Các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long cần đẩy mạnh liên kết với Trường Đại học Trà Vinh để đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên để nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Khmer, đảm bảo thực hiện được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.

    Mời quý độc giả theo dõi Truyền hình trực tuyến các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Nghệ Nhân Nghệ An, Điện Biên Trình Diễn Âm Nhạc Của Người Khơ Mú
  • Nét Độc Đáo Tết Cổ Truyền Của Dân Tộc Khơ Mú
  • Nhiều Ưu Đãi Tại Hội Thảo Du Học Trung Quốc
  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây Cùng Tư Vấn Du Học Vinahure
  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây
  • Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Trong Nghiên Cứu Dân Tộc Học Của Việt Nam
  • Gs. Phan Hữu Dật: Đường Đến Với Dân Tộc Học
  • Dân Tộc Học Là Gì?
  • Dân Tộc Học: What It Is Và Như Thế Nào Để Làm Điều Đó ·
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Dân Tộc Học Là Gì?
  • 1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

    Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

    Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

    So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

    Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

    Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

    (Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

    Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

    + Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

    + Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

    Một số định nghĩa khác về dân tộc:

    Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

    Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

    Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

    Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

    Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

    Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

    Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

    1

    Công tác dân tộc

    Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Nghị định 05/2011/NĐ-CP

    6

    Dân tộc thiểu số tại chỗ

    Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

    15/2008/QĐ-UBND

    (Hết hiệu lực)

    Tỉnh Đắk Lắk

    7

    bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

    9

    Mạng Ủy ban Dân tộc

    Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

    10

    Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

    là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

    11

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

    12

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

    Tỉnh Đắk Lắk

    13

    Vùng dân tộc thiểu số

    Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

    Nguồn: Thư viện pháp luật

    3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

    Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

    – Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

    – Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

    – Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

    – Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

    4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

    Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

    – Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

    – Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

    – Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

    – Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

    Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

    – Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

    – Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    – Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    – Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Cách Học Từ Vựng Tiếng Trung Dễ Nhớ
  • Kinh Nghiệm Học Từ Mới Tiếng Trung
  • Bộ Combo Tự Học Tiếng Trung Cho Người Mới Bắt Đầu + Tự Học Từ Vựng Tiếng Trung Theo Chủ Đề (Tặng Kèm Bookmark Cr)
  • Các Cách Học Từ Vựng Anh Văn Chủ Đề Bạn Bè Cho Trẻ Nhỏ
  • Cách Học Tốt Từ Vựng Anh Văn 9
  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây Cùng Tư Vấn Du Học Vinahure
  • Nhiều Ưu Đãi Tại Hội Thảo Du Học Trung Quốc
  • Nét Độc Đáo Tết Cổ Truyền Của Dân Tộc Khơ Mú
  • Các Nghệ Nhân Nghệ An, Điện Biên Trình Diễn Âm Nhạc Của Người Khơ Mú
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Khmer
  • Đại học Dân tộc Quảng Tây nằm ở thành phố Nam Ninh thủ phủ của tỉnh Quảng Tây. Đây là một trường đại học rất lớn, với rất nhiều các học viện cùng đẩy đủ các chuyên ngành. Trường được thành lập vào năm 1952, được Ủy ban Dân tộc Quốc gia và UBND Khu tự trị Quảng Tây cùng xây dựng và phát triển, là trường đại học trọng điểm của Khu tự trị Quảng Tây. Hiện nay trường có hai cơ sở với tổng diện tích 120 hecta. Trường bao gồm 25 học viện, có hệ thống đào tạo hoàn chỉnh từ cao đẳng, đại học, cao học và nghiên cứu sinh. Trường có hơn 20 ngàn sinh viên trong nước cùng lưu học sinh đang theo học.

    Trường tăng cường tính đặc sắc quốc tế, từ năm 1986 bắt đầu tuyển lưu học sinh, đến nay trường đã thiết lập quan hệ giao lưu và hợp tác với 144 trường đại học và cơ sở nghiên cứu của 19 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã hợp tác thành lập 3 Học viện Khổng Tử với trường Đại học Mahasarakan của Thái Lan, trường Đại học Quốc gia Lào và trường Đại học Tanjung Bula của Indonesia. Từ khi thành lập trường đến nay, trường đã đào tạo được 14 ngàn học sinh, sinh viên đến từ 45 quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Lào, Mỹ, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản… Trường đã phong học hàm giáo sư danh dự cho công chúa Sirindhorn của Thái Lan và phong học vị tiến sĩ danh dự cho thủ tướng Hun Sen của Cam-pu-chia. Các vị lãnh đạo như Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Hoàng tử Sihanouk nguyên thủ Cam-pu-chia, Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương, công chúa Thái Lan Sirindhorn, thủ tướng Lào Bouasone, Phó Tổng thống Myanmar Sai Mauk Kham… đều đã đến thăm và làm việc tại trường.

    Về mặt giảng dạy và đào tạo lưu học sinh, sinh viên học lấy bằng thì học cùng lớp với sinh viên Trung Quốc, còn sinh viên học Hán ngữ thì học riêng theo lớp nhỏ, tùy vào trình độ của lưu học sinh mà nhà trường mở các lớp học theo 6 trình độ, có lớp học từ sơ cấp cho đến cao cấp.

    Giáo viên kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống viết bảng với cách dạy qua đa phương tiện. Trường có đội ngũ giáo viên hùng hậu về chuyên ngành Hán ngữ giáo dục quốc tế, có kinh nghiệm giảng dạy phong phú, luôn đạt hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và được lưu học sinh đánh giá là trường có chất lượng đào tạo Hán ngữ cho sinh viên Việt Nam cũng như sinh viên các nước thuộc hàng đầu tại Quảng Tây. Hàng năm trường tổ chức hai đợt thi HSK, trước kỳ thi có mở lớp phụ đạo ôn tập, hàng năm tỉ lệ thí sinh đỗ bằng HSK của trường luôn đạt trên 90%. Với sinh viên học Hán ngữ từ đầu, sau 1 năm học đều đủ trình độ thi đạt HSK cấp 4. Nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp về nước được tuyển vào các cơ quan nhà nước và chính phủ, làm cán bộ quản lý cao cấp trong các doanh nghiệp, hoặc trở thành các chuyên gia, học giả…

    Tại học viện Giáo dục Quốc tế của Đại học Dân tộc Quảng Tây có Văn phòng công tác lưu học sinh chuyên phụ trách các công tác như tuyển sinh, tư vấn nhập học, làm thủ tục đăng ký, thủ tục nhập học, thủ tục làm visa và quản lý sinh hoạt hàng ngày. Về quản lý ngày thường đối với lưu học sinh, trường Đại học Dân tộc Quảng Tây chú trọng quan tâm về mặt nhân văn, cung cấp dịch vụ chu đáo cho mỗi lưu học sinh. Để làm tốt công tác quản lý và phục vụ trong ngày thường, mỗi lớp đều có một giáo viên tham gia giảng dạy làm chủ nhiệm lớp. Đến trường học tập, các sinh viên chưa biết gì về tiếng Hán cũng không cần lo về bất đồng ngôn ngữ. Trường có Hội lưu học sinh các nước chuyên phụ trách tổ chức các hoạt động phong phú đa dạng hàng ngày và giúp đỡ lưu học sinh. Đối với các sinh viên mới, trường luôn bố trí các tình nguyện viên để hỗ trợ và hướng dẫn để giúp cho các bạn nhanh chóng thích ứng với điều kiện sống và học tập tại trường. Các hoạt động ngoài giờ của lưu học sinh cũng rất phong phú đa dạng như : Tổ chức cuộc thi khẩu ngữ Hán ngữ, tổ chức các hoạt động khảo sát văn hóa như đi thăm các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Tô Châu và Quế Lâm… Ngoài ra còn có các hoạt động văn hóa thể thao như: Triển lãm ẩm thực các nước ASEAN, cuộc thi xe đạp địa hình quốc tế, cuộc thi hoa hậu Mỹ nhân Quảng Tây, thi diễn thuyết, thi hát kịch, thi cầu lông… Lưu học sinh của trường luôn giành được thành tích tốt trong các cuộc thi nêu trên. Thông qua các hoạt động trên, không những làm phong phú sinh hoạt hàng ngày cho sinh viên mà còn giúp họ có thêm hiểu biết về lịch sử văn hóa Trung Quốc, mở rộng tầm nhìn, nâng cao tố chất văn hóa.

    Trường Đại học Dân tộc Quảng Tây được mệnh danh là khu rừng già của các trường đại học tại Nam Ninh bởi trường tọa lạc trên những quả đồi với rất nhiều cây xanh. Trong trường có nhiều cảnh đẹp, có hồ nước đẹp và các loại thực vật vô cùng phong phú. Sinh sống và học tập tại đây các bạn luôn luôn được hít thở không khí trong lành, được hòa mình vào không khí học tập và được sinh hoạt vận động thể dục thể thao với cơ sở hạ tầng hiện đại và tiện nghi. Hiện nay nhà trường đã hoàn thành kí túc xá cao 25 tầng cho lưu học sinh, trong phòng kí túc xá bố trí vật dụng không khác gì khách sạn. Bất kỳ ai khi tới đây học tập sẽ đều thỏa mãn vì điều kiện sống nơi đây.

    1. Lớp Hán ngữ cho người mới: học các môn Hán ngữ sơ cấp, khẩu ngữ sơ cấp và nghe sơ cấp.
    2. Lớp Hán ngữ sơ cấp: học các môn như Hán ngữ sơ cấp, khẩu ngữ sơ cấp, nghe sơ cấp và đọc hiểu sơ cấp.
    3. Lớp Hán ngữ trung cấp: học các môn như Hán ngữ trung cấp, khẩu ngữ trung cấp, nghe trung cấp, đọc hiểu trung cấp, khẩu ngữ ngoại thương, viết trung cấp, ngôn ngữ báo chí và xử lý thông tin tiếng Trung…
    4. Lớp Hán ngữ cao cấp: học các môn như Hán ngữ cao cấp, khẩu ngữ cao cấp, nghe cao cấp, đọc báo cao cấp, ngữ pháp Hán ngữ, Hán ngữ cổ đại, văn học hiện đương đại Trung Quốc, Hán ngữ thương mại, văn hóa Trung Quốc, văn hóa chữ Hán, địa lý Trung Quốc, lịch sử Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc, viết văn ngoại thương…

    -Đối tượng tuyển sinh: người nước ngoài.

    -Điều kiện nhập học phải là công dân nước ngoài có hộ chiếu hợp pháp, trên 16 tuổi, sức khỏe tốt, tuân thủ luật pháp Trung Quốc và nội quy của trường, tôn trọng phong tục tập quán của người Trung Quốc.

    -Sau khi hoàn thành khóa học. Học nửa năm trở lên, kiểm tra đạt yêu cầu sẽ được cấp chứng chỉ học tập.

    Các chuyên ngành tuyển sinh của trường Đại học Dân tộc Quảng Tây.

    A. Các chuyên ngành đại học:

    1. Học viện Giáo dục quốc tế: chuyên ngành Hán ngữ
    2. Học viện Chính trị và Quản lý công cộng: chính trị học và hành chính học, quốc tế học và quan hệ quốc tế, quản lý hành chính công.
    3. Học viện Luật: chuyên ngành luật học, quyền sở hữu trí tuệ.
    4. Học viện Quản lý: chuyên ngành quản lý công thương, quản trị du lịch, hồ sơ học, quản lý nguồn nhân lực.
    5. Học viện Thương mại: chuyên ngành kinh tế và mậu dịch quốc tế, thương mại điện tử, quản lý logistic, marketing, kế toán học, tài chính học, thuế học.
    6. Học viện Văn học: chuyên ngành văn học ngôn ngữ Hán, giáo dục Hán ngữ quốc tế, ngôn ngữ văn học các dân tộc thiếu số Trung Quốc (tiếng Choang, tiếng Dao)
    7. Học viện Ngoại ngữ: chuyên ngành tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt Nam, tiếng Lào, tiếng Thái Lan, tiếng Myanmar, tiếng Indonesia, tiếng Malaysia.
    8. Học viện Dân tộc học và Xã hội học: chuyên ngành xã hội học, công tác xã hội, lịch sử học, dân tộc học, nhân loại học.
    9. Học viện Lý: chuyên ngành toán và toán ứng dụng, thông tin và tin học máy tính, vật lý học, kỹ thuật vật liệu kim loại, tài chính toán học.
    10. Học viện Khoa học thông tin và Công trình: chuyên ngành khoa học và kỹ thuật máy tính, thông tin điện tử, viễn thông, viễn thông (thông tin tín hiệu liên lạc đường sắt), tự động hóa, kỹ thuật mạng, Internet of Things.
    11. Học viện Phần mềm: chuyên ngành quản lý thông tin và hệ thống thông tin, kỹ thuật phần mềm.
    12. Học viện Hóa học hóa công: chuyên ngành công nghệ kỹ thuật hóa học, hóa học, hóa học ứng dụng, khoa học vật liệu polimer, khoa học môi trường, kỹ thuật bào chế dược phẩm, bào chế thuốc đông y.
    13. Học viện Biển và Công nghệ sinh học: chuyên ngành công nghệ sinh học, khoa học biển.
    14. Học viện Thể thao và Khoa học sức khỏe: chuyên ngành giáo dục thể chất, chỉ đạo và quản lý thể thao xã hội.
    15. Học viện Nghệ thuật: chuyên ngành thanh nhạc, trình diễn nhạc cụ, nhảy, mỹ thuật, thiết kế truyền thông hình ảnh, thiết kế môi trường.
    16. Học viện Truyền thông: chuyên ngành nghệ thuật phát thanh và dẫn chương trình, biên đạo chương trình phát thanh và truyền hình, biên tập và xuất bản, truyền thông, báo chí.
    17. Học viện Khoa học giáo dục: chuyên ngành tâm lý học ứng dụng, giáo dục học.

    B. Các chuyên ngành cao học:

    1. Chính trị học: đạo đức học, lý luận chính trị học, hợp tác quốc tế.
    2. Giáo dục: tư tưởng chính trị.
    3. Luật: luật phi pháp, luật hợp pháp, luật hình sự, luật tố tụng.
    4. Xã hội học.
    5. Dân tộc học: dân tộc học, kinh tế các dân tộc thiểu số Trung Quốc, lịch sử các dân tộc thiểu số Trung Quốc, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Trung Quốc, Choang học và Dao học.
    6. Lịch sử Trung Quốc.
    7. Lịch sử KH&CN.
    8. Giáo dục: lịch sử.
    9. Dân tộc học: giáo dục học dân tộc.
    10. Giáo dục: quản lý giáo dục, giáo dục sức khỏe tâm lý
    11. Đào tạo và giáo dục thể chất.
    12. Thể thao truyền thống dân tộc.
    13. Giáo dục: thể thao.
    14. Thẩm mỹ.
    15. Ngôn ngữ văn học Trung Quốc: văn nghệ học, ngôn ngữ học và ngôn ngữ học ứng dụng, văn tự học ngôn ngữ Hán, văn hiến học cổ điển Trung Quốc, văn học cổ đại Trung Quốc, văn học hiện đại và đương đại Trung Quốc, NN văn học các dân tộc thiểu số Trung Quốc, văn học so sánh và văn học thế giới, văn học dân gian Trung Quốc.
    16. Giáo dục Hán ngữ quốc tế.
    17. Giáo dục: ngữ văn.
    18. Ngôn ngữ văn học nước ngoài: ngôn ngữ văn học tiếng Anh, ngôn ngữ văn học tiếng Pháp, ngôn ngữ học nước ngoài và ngôn ngữ học ứng dụng.
    19. Giáo dục: tiếng Anh.
    20. Phiên dịch: dịch viết tiếng Anh, dịch nói tiếng Anh.
    21. Chính trị học: nghiên cứu ASEAN.
    22. Ngôn ngữ văn học nước ngoài: văn minh Trung Quốc và Đông Nam Á.
    23. Luật tố tụng (hướng ASEAN).
    24. Toán học: toán học cơ sở, toán học tính toán, lý thuyết xác suất và thống kê toán học, toán học ứng dụng, nghiên cứu tác nghiệp và khoa học về sự tương tác.
    25. Ngành học liên ngành: toán học máy tính (Computer Mathematics).
    26. Ngành học liên ngành: khoa học vật liệu tính toán.
    27. Giáo dục: toán học, vật lý.
    28. Khoa học và kỹ thuật máy tính: kết cấu hệ thống máy tính, kỹ thuật ứng dụng máy tính, xử lý ảnh và hệ thống thông minh.
    29. Khoa học và kỹ thuật máy tính: lý luận và phần mềm máy tính.
    30. Hóa sinh và sinh học phân tử.
    31. Khoa học kỹ thuật hóa học: hóa học, công nghệ hóa học, kỹ thuật sinh hóa, hóa học ứng dụng, xúc tác công nghiệp, Biomass Chemical Engineering, phân tích công nghiệp.
    32. Giáo dục: hóa học.
    33. Quản lý hành chính.
    34. Bảo hiểm xã hội.
    35. Thông tin thư viện và quản lý hồ sơ: khoa học thư viện, khoa học thông tin, lưu trữ học, chính phủ điện tử.
    36. Quản lý kiến thức doanh nghiệp.
    37. Bảo vệ và khai thác di sản văn hóa dân tộc.
    38. Quản lý công (MPA).
    39. Khoa học và kỹ thuật máy tính: quản lý thông tin thương mại.
    40. Thương mại quốc tế.
    41. Giáo dục: mỹ thuật, nhạc.
    42. Lịch sử TQ: lịch sử nghệ thuật và nghệ thuật hiện đại.
    43. Ngôn ngữ văn học Trung Quốc: lý luận và sáng tác nghệ thuật phim ảnh, ngôn ngữ học và ngôn ngữ học ứng dụng (truyền bá văn hóa và ứng dụng ngôn ngữ).

    C. Các chuyên ngành nghiên cứu sinh:

    1. Dân tộc học: dân tộc xuyên biên giới, nhân loại học, chính sách giáo dục dân tộc, sử chí các dân tộc Trung Quốc và Đông Nam Á, luật pháp học dân tộc, y dược dân tộc, nhân loại học lịch sử các dân tộc Hoa Nam – Đông Nam Á, nghệ thuật dân tộc, nhân chủng học kinh tế và phát triển kinh tế dân tộc, quan hệ ngoại thương của vùng dân tộc, nghiên cứu nhóm tộc người Hoa ở nước ngoài, lịch sử khoa học các dân tộc miền nam và Đông Nam Á, kinh tế dân tộc và quyền sở hữu trí tuệ.
    2. Thẩm mỹ sinh thái: lý luận và phương pháp nghiên cứu thẩm mỹ sinh thái.
    3. Văn nghệ học: phim ảnh và văn hóa đại chúng.
    4. Văn tự học ngôn ngữ Hán: nghiên cứu so sánh dựa trên Hán ngữ.
    5. Văn học cổ đại Trung Quốc: nghiên cứu thơ văn cổ đại.
    6. Văn học hiện đương đại Trung Quốc: nghiên cứu tác phẩm các nhà văn hiện đương đại, nghiên cứu dòng văn học hiện đương đại.
    7. Ngôn ngữ văn học nước ngoài: ngôn ngữ học tri nhận, văn học pháp, nghiên cứu phương pháp dịch văn học so sánh, nghiên cứu văn học và văn hóa Trung Quốc và Đông Nam Á.

    Hồ sơ xét tuyển và thủ tục nhập học Đại học Dân tộc Quảng Tây.

    A. Điều kiện đăng ký học.

    (1). Người học phải là công dân nước ngoài có hộ chiếu hợp pháp, từ 18 tuổi trở lên, sức khỏe tốt, tuân thủ luật pháp Trung Quốc và nội quy nhà trường; tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân Trung Quốc.

    (2). Người học có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.

    (3). Người học chuyên ngành Văn học Trung Quốc, Lịch sử Trung Quốc, Triết học Trung Quốc thì đầu vào phải có bằng HSK cấp 4 trở lên; các chuyên ngành khác thì yêu cầu có bằng cấp 3. Nếu trình độ HSK của người học chưa đạt yêu cầu thì do nhà trường tổ chức trắc nghiệm kiểm tra trình độ Hán ngữ cho người học. Nếu đạt yêu cầu nhất định thì có thể xin học thử một đến hai năm.

    2. Cao học.

    (1). Người học phải là công dân nước ngoài có hộ chiếu hợp pháp, từ 18 tuổi trở lên, sức khỏe tốt, tuân thủ luật pháp Trung Quốc và nội quy nhà trường; tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân Trung Quốc.

    (2). Người học phải có bằng tốt nghiệp đại học và bằng cử nhân.

    (3). Người học phải có bằng HSK cấp 5 về trình độ Hán ngữ. Nếu trình độ HSK chưa đạt yêu cầu thì do nhà trường tổ chức trắc nghiệm kiểm tra trình độ Hán ngữ cho người học, nếu đạt yêu cầu nhất định thì có thể xin học thử một đến hai năm.

    (4). Hai bản “thư giới thiệu của chuyên gia” của hai người phó giáo sư (hoặc chức danh tương đương) trong lĩnh vực chuyên ngành của người học.

    3. Nghiên cứu sinh.

    (1). Người học phải là công dân nước ngoài có hộ chiếu hợp pháp, từ 18 tuổi trở lên, sức khỏe tốt, tuân thủ luật pháp Trung Quốc và nội quy nhà trường; tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân Trung Quốc.

    (2). Người học phải có bằng tốt nghiệp cao học và bằng thạc sĩ.

    (3). Người học phải có bằng HSK cấp 6. Nếu trình độ HSK chưa đạt yêu cầu thì do nhà trường tổ chức trắc nghiệm kiểm tra trình độ Hán ngữ cho người học, nếu đạt yêu cầu nhất định thì có thể xin học thử một đến hai năm.

    (4). Hai bản “thư giới thiệu của chuyên gia” của hai người giáo sư (hoặc chức danh tương đương) trong lĩnh vực chuyên ngành của người học.

    1. Người học tiến tu Hán ngữ phải nộp những hồ sơ như sau:

      (1). “Đơn xin đăng ký lưu học sinh nước ngoài của trường Đại học Dân tộc Quảng Tây.

      (2). Bản sao hộ chiếu.

      (3). Văn bằng học vị cao nhất (nếu có).

    2. Nười học đại học phải nộp những hồ sơ như sau:

      (1). “Đơn xin đăng ký lưu học sinh nước ngoài của trường Đại học Dân tộc Quảng Tây.

      (2). Bản sao hộ chiếu.

      (3). Bản sao giấy chứng nhận trình độ Hán ngữ (HSK cấp 4 trở lên).

      (4). Bản công chứng của bằng tốt nghiệp THPT (bản tiếng Trung hoặc tiếng Anh).

    3. Người học cao học phải nộp những hồ sơ như sau:

      (1). “Đơn xin đăng ký lưu học sinh nước ngoài của trường Đại học Dân tộc Quảng Tây.

      (2). Bản sao hộ chiếu.

      (3). Bản sao giấy chứng nhận trình độ Hán ngữ (HSK cấp 5 trở lên).

      (4). Bằng tốt nghiệp, bằng học vị và bảng điểm tương ứng (bản công chứng bằng tiếng Trung hoặc tiếng Anh; sinh viên tốt nghiệp đương khóa có thể nộp giấy chứng nhận tốt nghiệp trước).

      (5). Hai thư giới thiệu của hai chuyên gia khác nhau (phó giáo sư trở lên).

      (6). Kế hoạch học tập (khoảng 800 chữ, viết bằng tiếng Trung, nội dung gồm chuyên ngành đăng ký, phương hướng nghiên cứu).

    1. Người học có thể gửi hồ sơ xét tuyển đến trường Đại học Dân tộc Quảng Tây bằng phương thức gửi bưu phẩm, fax, email hoặc đến nộp tại chỗ.
    2. Trường Đại học Dân tộc Quảng Tây nhận và xét duyệt hồ sơ, sau đó gửi “Giấy báo nhập học của Trường Đại học Dân tộc Quảng Tây” và “Đơn xin visa của lưu học sinh sang học tại Trung Quốc” cho người trúng tuyển.
    3. Người trúng tuyển cầm “Giấy báo nhập học của trường Đại học Dân tộc Quảng Tây” và “Đơn xin visa của lưu học sinh sang học tại Trung Quốc” đến đại sứ quán hoặc lãnh sự quán Trung Quốc xin visa loại X hoặc F.

    Cầm visa loại X hoặc F đến trường đăng ký nhập học theo thời gian quy định trong “Giấy báo nhập học của Trường Đại học Dân tộc Quảng Tây”.

    1. Nộp kiểm tra những hồ sơ như sau:

      (1). “Giấy báo nhập học của Trường Đại học Dân tộc Quảng Tây” và “Đơn xin visa của lưu học sinh sang học tại Trung Quốc”.

      (2). Hộ chiếu bản gốc.

      (3). Bản gốc của Bằng tốt nghiệp, bằng học vị và giấy chứng nhận trình độ Hán ngữ (HSK).

      (4). 8 tấm ảnh hộ chiếu.

    2. Nộp học phí và tiền ở.
    3. Vào ở ký túc xá.
    4. Khám sức khỏe.
    5. Làm thẻ cư trú, bắt đầu vào học chuyên ngành.

    Học phí của trường Đại học Dân tộc Quảng Tây.

    Kí túc xá:

    • 3000 nhân dân tệ/phòng 4 người/năm
    • 6000 nhân dân tệ/phòng 2 người/năm

    Học phí:

    • Học Hán ngữ 12000 nhân dân tệ/năm, 6000 tệ/một học kì, 4500 tệ/3 tháng, 3000 tệ/2 tháng, 2000 tệ/1 tháng
    • Các chi phí khác: phí báo danh 300 tệ, phí bảo hiểm 500 tệ/năm, phí khám sức khỏe 350 tệ, phí visa 400 tệ/năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Sinh Du Học Trung Quốc
  • Đại Học Dân Tộc Quảng Tây: Trường Đào Tạo Tiếng Trung Hàng Đầu
  • Đặc Sắc Trang Phục Dân Tộc K’ho
  • Hoàn Thiện Hệ Thống Ngữ Vựng Tiếng Hrê Ứng Dụng Xây Dựng Từ Điển Hrê
  • Dạy Tiếng Hrê Cho Cán Bộ Cơ Sở
  • Đảng Viên Người Dân Tộc Dao Dân Vận Khéo

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Dạy Chính Tả Lớp 2 Cho Học Sinh Đồng Bào Dân Tộc Ê Đê
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Dân Tộc Ê Đê Ở Đắk Lắk
  • Xao Xuyến Nét Đẹp Trong Sáng Của Cô Gái Dân Tộc Giáy
  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Nhạc Cụ Của Dân Tộc Giáy Tại Tỉnh Lào Cai (Mông Xuân Vanh)
  • Người Giữ Vốn Quý Của Dân Tộc Giáy
  • Gần 30 năm tuổi Đảng, với vai trò là cầu nối giữa Đảng ủy, chính quyền xã Phú Thịnh và người dân trên địa bàn, trong các cuộc họp chi bộ thôn, ông Dau luôn phổ biến tới đồng bào chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước. Ông Dau chia sẻ, sau mỗi lần được tham gia các lớp tập huấn công tác Đảng hay đi học tập những mô hình phát triển kinh tế hiệu quả trong tỉnh do xã tổ chức, ông đều đem kiến thức, kinh nghiệm về chia sẻ cùng nhân dân toàn thôn.

    Ông Lý Văn Dau thân thiện trong mắt bà con thôn Nghẹt.

    Ảnh: Nam Sương – TTXVN

    Là Trưởng thôn, ông Dau luôn gương mẫu, đi đầu trong phát triển kinh tế. Gia đình ông có 7 ha đất rừng (trong đó 3 ha đất rừng sản xuất, 4 ha rừng phòng hộ), thu hoạch từ trồng rừng mỗi năm đạt gần 200 triệu đồng. Ông Dau cũng vận động các hộ tăng gia sản xuất, chú trọng trồng rừng, phát triển kinh tế, góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo của thôn. Thôn Nghẹt hiện có hơn 400 ha rừng, trong đó 280 ha rừng sản xuất. Toàn thôn có 113 hộ, 100% là đồng bào Dao (quần trắng). Đầu năm 2022, số hộ nghèo của thôn là 52 hộ (chiếm gần 50%); nhờ tích cực thực hiện chính sách chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang trồng rừng, đến cuối tháng 9, số hộ nghèo giảm xuống còn 21 hộ (chiếm 19%).

    Thực hiện công tác dân vận, ông Dau đến từng nhà để tuyên truyền, động viên đồng bào thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Năm 2012, thôn Nghẹt được đầu tư dự án công trình nước sạch, ông Dau đã vận động nhiều gia đình trong thôn hiến hàng trăm mét đất thổ cư và ngày công lao động hỗ trợ dự án. Năm 2022, thực hiện dự án kiên cố hóa kênh mương, ông tiếp tục vận động nhân dân trong thôn hỗ trợ đóng góp ngày công lao động để lắp đặt hơn 400 mét cấu kiện kênh mương.

    Ông Lý Văn Thông, ở thôn Nghẹt, xã Phú Thịnh, huyện Yên Sơn, cho biết sau khi được ông Dau phổ biến về dự án nước sạch của thôn sẽ đi qua nhà mình, ông đã tình nguyện hiến hơn 30 mét vuông đất vườn thổ cư cho dự án. Cũng nhờ sự vận động, tuyên truyền của ông Dau, ông Thông đã tham gia nhận giao rừng với hơn 8 ha (3 ha rừng sản xuất, 5 ha rừng phòng hộ). Hiện nay, gia đình ông Thông không chỉ thoát nghèo mà còn đầu tư chuồng trại để nuôi lợn. Ngoài tiền thu hoạch rừng (trên 100 triệu đồng/năm), đàn lợn hơn 10 con của gia đình ông cũng bắt đầu có lãi.

    Không chỉ là một Bí thư, Trưởng thôn gương mẫu, ông Dau cùng những người cao tuổi trong thôn luôn tích cực giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn bản sắc văn hóa, trang phục, tiếng nói, phong tục tập quán truyền thống của dân tộc Dao. Các tiết mục văn nghệ của đồng bào Dao (quần trắng) thôn Nghẹt luôn được xã Phú Thịnh lựa chọn tham gia giao lưu với các xã, huyện khác trong tỉnh Tuyên Quang.

    Ông Dau (trái) thân thiện trong mắt bà con thôn Nghẹt.

    Ông Tạ Xuân Trình, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Phú Thịnh khẳng định, với 100% đồng bào Dao, thuộc diện nghèo của xã, thôn Nghẹt được bố trí Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn từ năm 2022. Đảng ủy xã xác định lựa chọn người có uy tín cao nhất của đồng bào trong thôn để bầu giữ chức Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn. Ông Lý Văn Dau là đảng viên lâu năm, giàu kinh nghiệm, trong công tác Đảng cũng như vai trò Trưởng thôn, luôn gương mẫu, mẫn cán, tận tình với nhân dân. Việc đưa người có uy tín, kinh nghiệm lên giữ vai trò lãnh đạo, cầu nối giữa chi bộ Đảng cơ sở với Đảng ủy xã là động lực quan trọng không chỉ trong phát triển kinh tế, đảm bảo công tác tuyên truyền, thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, mà còn góp phần ổn định dân cư, giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương.

    Với những cống hiến cho công tác dân vận, luôn gương mẫu đi đầu trong triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương, năm 2022, ông Dau vinh dự được nhận Giấy khen “Dân vận khéo” của huyện Yên Sơn. Tháng 8/2019, ông Dau được địa phương lựa chọn là người có uy tín tiêu biểu của huyện Yên Sơn đi dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang lần thứ III – năm 2022./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Dân Tộc Dao Ở Việt Nam (Vi Đức Hòi)
  • Dịch Thuật Công Chứng Tiếng Sán Chay
  • Dân Ca Dân Nhạc Vn
  • Vien Sot Ret Ky Sinh Trung
  • Kỹ Năng Đọc Chữ Tiếng Việt Của Học Sinh Lớp 1 Người Dân Tộc Cơ Ho
  • Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai
  • Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?
  • Tiếng Việt (TV) là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức. Vì vậy, dạy TV cho học sinh dân tộc thiểu số (HSDTTS) là vấn đề nan giải trong công tác giáo dục vùng cao, nhất là các bậc học đầu tiên.

    Để khắc phục tình trạng này, Bộ Giáo dục- Đào tạo (GD-ĐT) đã tổ chức nhiều chương trình, dự án, hội thảo quy mô mang tính chất dài hơi để tìm ra phương án tốt nhất nhằm nâng cao khả năng sử dụng TV cho HSDTTS. Hiện Bộ GD-ĐT có 5 phương án gắn liền với các dự án gồm: Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo trước tuổi đến trường (do Vụ GD Mầm non chủ trì); dạy tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ trong chương trình song ngữ Jrai- Việt (Vụ GD Dân tộc); nghiên cứu thử nghiệm giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (Trung tâm Nghiên cứu GD Dân tộc); dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 1(Nhóm tăng cường năng lực dạy và học-dự án PEDC); dạy học lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số chưa biết nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệ GD).

    Riêng Gia Lai trước đây còn tham gia các dự án khác như dự án lớp ghép (Bộ GD-DT và UNICEF), Dự án VIE-96010 (do Sở Nông nghiệp và PTNT và Sở GD-ĐT Gia Lai phối hợp thực hiện) cũng nhằm cải thiện khả năng sử dụng TV của HSDTTS trên địa bàn.

    Lớp học thực nghiệm chương trình Giáo dục song ngữ tại Trường Tiểu học Ngô Mây- xã Ia Dêr- huyện Ia Grai. Ảnh: N.T.D

    Cùng với các phương án trên là các chương trình, phương pháp, tài liệu, hình thức dạy học cũng được thay đổi, cải tiến nhằm đạt hiệu quả dạy học TV cao nhất. Chẳng hạn tăng thời lượng dạy học từ 350 tiết thành 500 tiết, tăng thời gian học TV lên 2 buổi/ngày, đưa môn TV vào trường mầm non để học sinh làm quen với TV, vận dụng triệt để tài liệu, tranh ảnh, kỹ năng giao tiếp, sinh hoạt, vui chơi trong ngoài trường…

    Ở Gia Lai, chương trình “Giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ” được triển khai 8 lớp từ lớp mẫu giáo đến hết bậc tiểu học ở xã Ia Phí (huyện Chư Pah) và xã Ia Dêr (huyện Ia Grai) bắt đầu từ năm học 2008-2009 trên bộ song ngữ Việt-Jrai. Sẽ có 6 bộ sách tương ứng từ mẫu giáo đến lớp 5 sau khi hoàn thành dự án. Ưu điểm của phương án là do dạy trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ nên học sinh nghe hiểu, tiếp thu được bài giảng và nắm bắt kiến thức nhanh.

    Qua tìm hiểu thực tế một số điểm trường thực hiện chương trình trên địa bàn tỉnh, chúng tôi nhận thấy, các điểm trường thực nghiệm đã tiến hành khá tốt. Với tư cách của một giáo viên dạy bậc cao đẳng tiểu học nhiều năm, người viết bài này nhận thấy rằng các tài liệu tập huấn, sách giáo khoa, sách giáo viên, đồ dùng dạy học, quá trình tập huấn cho cán bộ điều hành dự án, giáo viên đứng lớp khá công phu và bài bản. Qua nghiên cứu tài liệu, trao đổi với giáo viên điều hành dự án, giáo viên trực tiếp đứng lớp và học sinh lớp này, chúng tôi nhận thấy tiến trình thực hiện dự án được lên kế hoạch chi tiết, khoa học và các khâu kiểm tra, đánh giá rất công phu bằng những phương pháp thống kê, so sánh, trắc nghiệm, đánh giá khoa học.

    So với các lớp đại trà mà gần đây chúng tôi được dự giờ ở một số trường tiểu học trong thành phố Pleiku, chúng tôi nhận thấy rằng HSDTTS thuộc dự án này có kỹ năng học tập khá tốt. Từ những kỹ năng nghe-nói-đọc-viết, thao tác thực hiện lệnh của giáo viên, khả năng giao tiếp TV… đều được các em thực hiện khá nhuần nhuyễn. Đặc biệt, khả năng làm việc nhóm của các em rất tốt. Đây là kỹ năng quan trọng nhất giúp các em đủ khả năng học lên lớp trên, giao tiếp với cộng đồng cũng như khả năng làm việc độc lập của các em sau này.

    Có thể nói, chương trình “Giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ” đã cho thấy kết quả bước đầu khả quan. Bộ GD-ĐT đánh giá cao kết quả việc thực hiện dự án này tại Gia Lai. Cụ thể, HSDTTS thuộc chương trình đã có kết quả học tập, rèn luyện khá tốt, tương đương hoặc có tỷ lệ khá hơn các lớp đại trà, mặc dù đây chỉ là kết quả của học kỳ I năm học đầu tiên bậc tiểu học. Điều quan trọng nhất là HSDTTS các lớp này đã tự tin hơn trong sinh hoạt và học tập, khả năng tiếp thu bài nhanh hơn, học sinh thích đến trường hơn, kỹ năng học tập tốt hơn…

    Việc nâng cao việc dạy học TV cho HSDTTS vẫn là câu hỏi khó cho những người làm công tác giáo dục vùng cao. Mặc dù Nhà nước, ngành Giáo dục đã quan tâm, đầu tư rất nhiều để cải thiện chất lượng nhưng hơn ai hết các nhà quản lý giáo dục trung ương và địa phương nên có phương án linh hoạt, mềm dẻo cho từng vùng, phù hợp với từng đối tượng để hạn chế những khó khăn gặp phải. Được vậy hy vọng sẽ nâng cao năng lực sử dụng TV cho HSDTTS.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Ban Sáng Tạo Website Tự Học Tiếng Và Chữ Viếtcủa Dân Tộc Thái
  • Giáo Trình Học Tiếng Dân Tộc Thái
  • Sách Ngôn Ngữ Dân Tộc Thiểu Số: Những Lưu Ý Khi Xây Dựng Chương Trình Và Biên Soạn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100