Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Jrai Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai

--- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai, Bah Nar
  • Yêu Cầu Về Kiến Thức Và Kỹ Năng Dạy Luyện Từ Và Câu Tiếng Jrai Trong Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Mục Tiêu Cụ Thể Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Kế Hoạch Dạy Học Ngữ Văn Khmer Tiểu Học
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Khmer Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Khmer
  • Nội dung học phần phương pháp dạy học tiếng Jrai trong Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai được quy định tại Tiết b Tiểu mục 3 Mục IV Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai ban hành kèm theo Thông tư 19/2013/TT-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, theo đó:

    Nội dung học phần phương pháp dạy học tiếng Jrai trong Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai bao gồm:

    – Lí luận và phương pháp dạy học tiếng Jrai

    + Các quan điểm cơ bản của phương pháp dạy học tiếng Jrai theo quan điểm giao tiếp: Những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học tiếng dân tộc; các quan điểm cơ bản, phương pháp và kỹ thuật dạy học tiếng Jrai như ngôn ngữ thứ nhất.

    + Các phương pháp, kỹ thuật và phương tiện dạy học tiếng Jrai theo quan điểm giao tiếp: Hệ thống hóa các phương pháp, kỹ thuật dạy học tiếng Jrai, sử dụng phương tiện dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn dạy học tiếng Jrai;

    + Các hình thức tổ chức và quản lí dạy học tiếng Jrai theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học: Hệ thống hóa các hình thức tổ chức dạy học và quản lí dạy học để có thể tổ chức và thực hiện các hoạt động giảng dạy tiếng Jrai theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học tiếng mẹ đẻ;

    + Thiết kế giáo án, nhật kí, hồ sơ sư phạm: Yêu cầu, kỹ thuật thiết kế và hình thức trình bày, cách thức chuẩn bị và việc quản lí và kiểm tra hồ sơ giáo án; nhật kí và các hồ sơ sư phạm trong thực tiễn dạy học tiếng Jrai;

    + Thực hành giảng dạy và dự giờ quan sát lớp học tiếng Jrai theo quan điểm giao tiếp: Thực hành dạy học một số kiểu bài trên lớp học; kỹ thuật dự giờ và phân tích, đánh giá các bài học khi dự giờ, thăm lớp; đồng thời củng cố các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết khác của người giáo viên (kỹ năng thâm nhập vào thực tiễn nhà trường, kỹ năng tìm hiểu và quản lí người học).

    – Phát triển kỹ năng giao tiếp tiếng Jrai

    + Dạy luyện từ và câu tiếng Jrai: Các kiểu bài tập và phương pháp hỗ trợ quá trình phát triển vốn từ, luyện kỹ năng sử dụng thành thạo từ và câu trong các hoạt động giao tiếp tiếng Jrai phù hợp với việc lĩnh hội và tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất của người học.

    Chào thân ái và chúc sức khỏe!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngôn Ngữ Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Tiếng Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Trường Đh Khoa Học Xh&nv
  • Tiếng Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • Dạy Tiếng Việt Cho Người Indonesia
  • Học Nghe Nói Tiếng Trung Với Giáo Viên Người Hoa.
  • Yêu Cầu Về Kiến Thức Và Kỹ Năng Dạy Luyện Từ Và Câu Tiếng Jrai Trong Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu Cụ Thể Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Kế Hoạch Dạy Học Ngữ Văn Khmer Tiểu Học
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Khmer Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Khmer
  • Dạy Kèm Tiếng Khmer Tại Nhà
  • Dạy Tiếng Khmer Cho Học Sinh Đồng Bào Dân Tộc
  • Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng dạy luyện từ và câu tiếng Jrai trong bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai được quy định như thế nào? Xin chào Ban biên tập Thư Ký Luật, tôi là Ngọc Châu hiện đang sống và làm việc tại Bến Tre. Tôi đang tìm hiểu về hoạt động giáo dục của đồng bào dân tộc thiểu số. Tôi có nghe về Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai. Vậy Ban biên tập cho tôi hỏi yêu cầu về kiến thức và kỹ năng dạy luyện từ và câu tiếng Jrai trong bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai được quy định như thế nào? Vấn đề này được quy định cụ thể tại văn bản nào? Mong Ban biên tập Thư Ký Luật giải đáp giúp tôi. Chân thành cảm ơn.

      Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng dạy luyện từ và câu tiếng Jrai trong bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai được quy định tại Mục 5 Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai ban hành kèm theo Thông tư 19/2013/TT-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, theo đó:

      Kiến thức:

      – Hiểu yêu cầu, nội dung dạy học luyện từ và câu tiếng Jrai; các bước tiến hành, cách thức tổ chức cho người học luyện tập dùng từ và câu tiếng Jrai trong hoạt động giao tiếp;

      – Hiểu mục đích, cấu tạo, cách thức tiến hành các kiểu bài tập luyện từ và câu tiếng Jrai trong giao tiếp của người học.

      Kỹ năng:

      – Thiết kế được các bài tập luyện từ và câu trong giao tiếp phù hợp với trình độ người học, đáp ứng được yêu cầu phát triển vốn từ và câu cho người học;

      – Biết thiết kế và tổ chức giờ học luyện từ và câu theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, tạo hứng thú cho người học;

      – Sử dụng kết quả đánh giá điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học luyện từ và câu phù hợp với đối tượng người học, phù hợp với thực

      Chào thân ái và chúc sức khỏe!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai, Bah Nar
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Jrai Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Ngôn Ngữ Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Tiếng Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Trường Đh Khoa Học Xh&nv
  • Tiếng Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • Mục Tiêu Cụ Thể Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Dạy Học Ngữ Văn Khmer Tiểu Học
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Khmer Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Khmer
  • Dạy Kèm Tiếng Khmer Tại Nhà
  • Dạy Tiếng Khmer Cho Học Sinh Đồng Bào Dân Tộc
  • Lớp Học Tiếng Anh Miễn Phí Ở Buôn Làng K’ho
  • Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    Mục tiêu cụ thể Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai được quy định tại Tiểu mục 2 Mục I Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Jrai ban hành kèm theo Thông tư 19/2013/TT-BGDĐT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, theo đó:

    Chương trình nhằm bồi dưỡng, trang bị cho học viên:

    a) Về kiến thức:

    – Nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước về việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số như ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) nói chung, dân tộc Jrai nói riêng; nhận thức được vai trò và ý nghĩa của việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số ở vùng dân tộc thiểu số;

    – Nắm được các kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Jrai;

    – Hiểu rõ xu hướng phát triển của việc dạy học tiếng Jrai; lí luận và phương pháp dạy học tiếng Jrai; các hình thức tổ chức, quản lý dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Jrai của người học.

    b) Về kỹ năng:

    – Các kỹ năng tìm hiểu, học tập ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Jrai;

    – Các kỹ năng cơ bản trong hoạt động dạy học tiếng Jrai: Kỹ năng tìm hiểu đối tượng và môi trường dạy tiếng Jrai; kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học; kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; kỹ năng sử dụng sáng tạo phương tiện dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học và kỹ năng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Jrai của người học;

    – Các kỹ năng hỗ trợ cho hoạt động dạy học tiếng Jrai: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng tổ chức, quản lý, quan sát, nhận xét giờ học; kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học môn tiếng Jrai phù hợp với đặc thù môn học; kỹ năng tự bồi dưỡng và phát triển nghề nghiệp.

    c) Về thái độ:

    – Có ý thức nâng cao năng lực nghề nghiệp, trau dồi đạo đức và tác phong sư­ phạm mẫu mực của nhà giáo, lòng say mê và hứng thú trong hoạt động dạy học môn tiếng Jrai;

    – Có thái độ khách quan, khoa học trong đánh giá và tự đánh giá quá trình dạy học để nâng cao chất lượng dạy học tiếng Jrai;

    – Có ý thức bảo tồn, phát triển tiếng nói, chữ viết, văn hóa của đồng bào dân tộc Jrai, góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc.

    Chào thân ái và chúc sức khỏe!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yêu Cầu Về Kiến Thức Và Kỹ Năng Dạy Luyện Từ Và Câu Tiếng Jrai Trong Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Tài Liệu Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai, Bah Nar
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Jrai Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Ngôn Ngữ Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Tiếng Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Trường Đh Khoa Học Xh&nv
  • ​từ Điển Điện Tử Phương Ngữ Jrai

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Nhật Bài 1 Giáo Trình Minna No Nihongo
  • Học Tiếng Nhật Cấp Tốc Tại Tphcm
  • Học Tập Cách Học Tiếng Anh Của Người Nhật Bản, Hàn Quốc
  • Đơn Vị Đo Lường Của Nhật Bản
  • Nhật Bản Muốn Cải Tổ Cách Học Tiếng Anh Của Học Sinh
  • Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Jrai đã được Nhà nước công nhận, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một bộ từ điển điện tử nào về ngôn ngữ Jrai được xây dựng (trong cả nước hiện nay chưa có bộ từ điển điện tử nào về ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số). Trong khi đó nhu cầu học tập, nghiên cứu của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng. Việc tra cứu trên bộ từ điển giấy lại rất bất tiện và tốn kém. Việc học tiếng Jrai bằng cách dùng từ điển giấy cũng không hiệu quả bằng từ điển điện tử vì không thể kèm theo âm thanh. Mặt khác quá trình hội nhập và sự phát triển của đất nước đang thổi một sức sống mới đến với đồng bào Jrai nhưng đồng thời các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào Jrai cũng đang dần bị mai một trước làn sóng du nhập ồ ạt của các văn hoá thời kỳ hội nhập, nhiều phong tục tập quán bị ảnh hưởng của lối sống hiện đại, các giá trị văn hoá phi vật thể dần bị mất đi mà có thể không bao giờ lấy lại được… Trước thực trạng đó việc xây dựng bộ “Từ điển điện tử phương ngữ Jrai-Việt” cho phép tra chéo giữa tiếng Jrai-Việt, kèm theo các âm thanh, hình ảnh về phong tục, tập quán và văn hoá Jrai trong giai đoạn hiện nay là thật sự cần thiết.

    Để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu về tiếng nói, chữ viết và giới thiệu về bản sắc văn hoá, phong tục tập quán của đồng bào Jrai tại Gia Lai, Sở Thông tin và Truyền thông Gia Lai được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ triển khai thực hiện Đề tài khoa học ” Từ điển điện tử phương ngữ Jrai – Việt”.

    Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu và xây dựng một bộ từ điển điện tử để đáp ứng nhu cầu tra cứu chéo giữa tiếng Jrai sang tiếng Việt và ngược lại từ tiếng Việt sang tiếng Jrai. Trong đó các từ đều được phát âm theo phương ngữ của các vùng, các từ được phân theo từ loại, cung cấp các từ đồng nghĩa và ví dụ minh hoạ, đồng thời từ điển còn cung cấp các hình ảnh và các đoạn phim về phong tục tập quán, văn hoá của đồng bào Jrai trên địa bàn tỉnh.

    Từ điển được thiết kế linh hoạt cho phép thêm, xoá, sửa từ ngữ, hình ảnh và cung cấp đồng thời dưới dạng phần mềm chạy trên máy tính đơn và ứng dụng web chạy trên internet giúp mọi người có thể truy cập dễ dàng, thuận tiện trong việc tra cứu.

    3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu:Đề tài nghiên cứu, thu thập các từ ngữ Jrai (bao gồm tiếng nói và chữ viết) và tạo lập các đoạn phim về phong tục tập quán, văn hoá của người Jrai đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng phần mềm từ điển điện tử và cơ sở dữ liệu về ngôn ngữ Jrai.

    Từ điển điện tử phương ngữ Jrai-Việt là đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh được UBND tỉnh Gia Lai giao cho Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện. Nhiệm vụ chính của đề tài là nghiên cứu, thu thập các từ ngữ Jrai, hình ảnh và phát âm theo phương ngữ từng vùng trên địa bàn tỉnh Gia Lai (05 vùng phương ngữ chính) để tạo lập bộ từ điển điện tử bằng cách ứng dụng CNTT để số hoá các dữ liệu. Bên cạnh đó đề tài còn thu thập, tạo dựng và cung cấp các đoạn phim về văn hoá Jrai.

    -Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

    -Phân tích, đánh giá những vấn đề KH&CN còn tồn tại, hạn chế

    -Phương pháp nghiên cứu triển khai thực nghiệm

    -Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật áp dụng

    Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, đề tài được chia làm những nội dung chính sau:

    Nội dung 1:Ngôn ngữ và phương ngữ Jrai Nội dung 4: Nội dung 5: Nội dung 6:Xây dựng phần mềm từ điển điện tử Xây dựng các đoạn phim về phong tục tập quán và văn hoá Jrai Đọc và phát âm các từ Jrai

    Nội dung 3: Tạo lập cơ sở dữ liệu từ ngữ Jrai

    -Bộ từ ngữ Jrai – Việt.

    -Phát âm các từ.

    -Các đoạn phim.

    -Phần mềm từ điển trên máy tính đơn.

    -Ứng dụng web trên internet.

    Sau thời gian gần 2 năm nghiên cứu, triển khai thực hiện, đến nay đề tài khoa học Từ điển điện tử phương ngữ Jrai-Việt đã hoàn tất nhiều nội dung quan trọng như thu thập, biên dịch, đọc và phát âm hơn 8.000 từ bao gồm cả phương ngữ và hơn 100 hình ảnh, 25 đoạn phim với thời lượng hơn 50 phút về văn hoá Jrai. Bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin, Đề tài đã xây dựng phần mềm từ điển chạy trên máy đơn và ứng dụng web chạy trên internet (tại địa chỉ http://tudienjrai.vn). Bộ Từ điển điện tử phương ngữ Jrai-Việt gồm 03 từ điển chính là Jrai-Việt, Việt-Jrai và Từ điển hình ảnh được cấu thành từ các thành phần như bộ từ vựng gồm tập hợp của những từ Jrai và Việt. Các từ này được phân theo từ loại gồm những từ có cùng tính chất ngữ pháp, kèm theo đó là các phương ngữ, các từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa, các ví dụ mẫu minh hoạ cho từ tra cứu và các hình ảnh, đoạn phim về văn hoá của đồng bào Jrai. Ngoài chức năng cơ bản là tra cứu các dữ liệu có sẵn, từ điển được thiết kế linh động để có thể cập nhật, xoá, sửa từ ngữ nhằm giúp cho người dùng cài đặt trên máy tính cá nhân có thể chỉnh sửa, bổ sung theo yêu cầu sử dụng.

    Bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin, đề tài khoa học Từ điển điện tử phương ngữ Jrai-Việt đã tạo ra một kho cơ sở dữ liệu số đầu tiên về ngôn ngữ, phong tục tập quán và văn hoá truyền thống của đồng bào Jrai tại Gia Lai và là một biện pháp hữu hiệu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ hội nhập, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng địa phương.

    * Hiệu quả về khoa học và công nghệ:

    Đề tài từ điển điện tử phương ngữ Jrai-Việt sẽ tạo ra một cơ sở dữ liệu số đầu tiên về ngôn ngữ Jrai, đồng thời là công cụ phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu, tra cứu, góp phần thay đổi phương pháp học tập bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin cũng như sử dụng các hệ thống thông tin điện tử.

    * Hiệu quả về kinh tế xã hội:

    -Từ điển sẽ là công cụ quan trọng phục vụ việc học tập tra cứu một cách nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm.

    -Từ điển không chỉ đơn thuần là một công cụ để tra cứu mà còn là phương tiện để các dân tộc khác tìm hiểu về văn hoá, chữ viết, tiếng nói, phong tục tập quán. Qua đó tình đoàn kết giữa các dân tộc ngày được bền chặt hơn, cùng giúp nhau phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống, góp phần giữ vững an ninh, chính trị tại địa phương.

    -Góp phần làm rõ các dị bản tiếng Jrai trên địa bàn tỉnh Gia Lai nhằm tạo nên sự thống nhất trong ngôn ngữ của người Jrai (tiếng Jrai trên địa bàn tỉnh có đến 5 vùng phương ngữ).

    Sở KH-CN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Ả Rập Là Cách Rèn Luyện Cho Não
  • 11 Cụm Từ Tiếng Hindi Sẽ Khiến Bạn Yêu Ngôn Ngữ Này
  • ✅ Gia Sư Tiếng Hindi ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️
  • Trung Tâm Dạy Tiếng Hindi Ở Tphcm
  • 13 Bí Mật Học Ngoại Ngữ Của Người Do Thái Về Học Ngôn Ngữ Hiệu Quả
  • Tài Liệu Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai, Bah Nar

    --- Bài mới hơn ---

  • Yêu Cầu Về Kiến Thức Và Kỹ Năng Dạy Luyện Từ Và Câu Tiếng Jrai Trong Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Mục Tiêu Cụ Thể Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Kế Hoạch Dạy Học Ngữ Văn Khmer Tiểu Học
  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Khmer Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Khmer
  • Dạy Kèm Tiếng Khmer Tại Nhà
  • 27/04/2015 2:11:41 CH – Lượt xem: 2673

    NGÔN NGỮ DÂN TỘC VÀ DẠY NGÔN NGỮ DÂN TỘC VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

    Th.s Chử Lương Đào

    I. Chủ trương, đường lối,chính sách và pháp luật của Đảng và nhà nước về ngôn ngữ dân tộc và dạy ngôn ngữ dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số

    – Xưa nay, ở những quốc gia đa dân tộc, chính quyền bao giờ cũng có chính sách dân tộc, trong đó có chính sách ngôn ngữ dân tộc.

    – Trong lịch sử, những kẻ sau khi đã thôn tính quốc gia khác, cùng với bóc lột về kinh tế là âm mưu đồng hóa về chính trị và văn hóa. Ngôn ngữ xâm lược được truyền dạy cho một bộ phận nhỏ người bản địa với mục đích đào tạo công chức, viên chức cho chính quyền và bành trướng văn hóa.

    + Khi giành được độc lập dân tộc năm 938 sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, một mặt cha ông ta quyết tâm khẳng định và bảo vệ nền độc lập ấy, mặt khác lại xây dựng mô hình nhà nước phong kiến giống Trung Hoa. Và chữ Hán là ngôn ngữ hành chính chính thức của các triều đại phong kiến Việt Nam 10 thế kỉ, trừ triều đại Tây Sơn ngắn ngủi 4 năm chủ trương dùng chữ Nôm.

    +Thời thuộc Pháp ( 1861-1945) Việt Nam cùng tồn tại 4 loại văn tự là Pháp,Nôm, Hán, Quốc ngữ.

    * Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Ngoài người Việt (Kinh) chiếm 85% còn lại 53 dân tộc thiểu số khác. Đông đúc là Tày, Mường, Thái, Khơ me…ít ỏi là Brâu, Rơ măm (Kon Tum) và Chứt( Rục- Quảng Bình) thuộc các ngữ hệ khác nhau( Thái Mèo- Dao, Hán- Tạng…) Người Bah Nar thuộc ngữ hệ Nam Á; người Jrai thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Các dân tộc có chữ viết lâu đời là Thái, Tày, Nùng, Chăm, Khơ me, Dao…

    * Chính sách đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

    Nhà nước Việt Nam chủ trương tôn trọng tiếng mẹ đẻ của các dân tộc, đảm bảo sự phát triển tự do và bình đẳng của tất cả các ngôn ngữ dân tộc ở VN. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng 1930 đã đề ra chính sách ” đoàn kết dân tộc trên cơ sở những nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau để giành lại độc lập và hạnh phúc chung cho các dân tộc”. Chính cương 1951 ghi rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước VN đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ…Cải thiện đời sống cho các dân tộc ít người, giúp đỡ họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo để họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong việc giáo dục ở các địa phương.”

    Chính sách ngôn ngữ dân tộc cũng được ghi trong Hiến pháp, từ bản đầu tiên 1946 đến các bản sửa đổi những năm 1960, 1980,1992. ” Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình” ( Điều 5) ” Tòa án nhân dân đảm bảo cho công dân nước CHXHCNVN thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước tòa án” ( Điều 133) ( HP 1992)

    Luật phổ cập giáo dục tiểu học ban hành ngày 6/8/1991: ” Các dân tộc thiểu số có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.”

    Luật Giáo dục tiểu học ngày 10/12/1998 nói rõ hơn: ” Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói chữ viết của dân tộc mình. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số sẽ được thực hiện theo qui định của chính phủ.”

    Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và chính phủ đều nhằm 3 mục đích:

    1.Cải tiến và xây dựng chữ viết cho các dân tộc thiểu số.( theo hướng gần gũi với chữ quốc ngữ)

    2. Sử dụng tiếng nói và chữ viết dân tộc sao cho thích hợp, hiệu quả.

    3. Duy trì bảo vệ ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.(1)

    Ngôn ngữ dân tộc là một nội dung, là bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc.Duy trì và bảo vệ ngôn ngữ dân tộc là duy trì và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc- một công việc mang tính nhân văn sâu sắc. Vì nếu mất đi sự đa dạng ngôn ngữ( trên thế giới hàng ngày đã có những ngôn ngữ bị biến mất) cũng có nghĩa là mất đi về trí tuệ, văn hóa. Vì vậy bảo vệ môi trường văn hóa là rất quan trọng.Đối với nhân loại, giá trị của mọi ngôn ngữ đều có chức năng và văn hóa như nhau. Kho tàng ngôn ngữ các dân tộc là tài sản quí báu của dân tộc, quốc gia và của toàn nhân loại. Quyết định của Hội đồng chính phủ về chủ trương đối với chữ viết các dân tộc thiểu số ngày 22/2/1980 viết: ” Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số ở VN vừa là vốn quí của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước.”

    Từ kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, trong một nghiên cứu của mình, Trần Chí

    Dõi rút ra: vấn đề giáo dục ngôn ngữ ” phải được đặt trong nhu cầu lợi ích của người thụ hưởng nền giáo dục ấy. Chính nhu cầu lợi ích của người thụ hưởng giáo dục song ngữ nhiều khi là yếu tố quyết định chi phối hoạt động giáo dục song ngữ. Trong thực hiện giáo dục song ngữ, khi ngôn ngữ thứ hai là tiếng mẹ đẻ của người thụ hưởng thì lợi ích văn hóa là lợi ích nổi trội nhất. Nếu không nắm bắt đầy đủ lợi ích này để nhận biết đầy đủ tính đa dạng của mục đích thụ hưởng thì việc xây dựng một chương trình giáo dục ngôn ngữ sẽ ít khả năng thu được thành công.” ( 2)

    * Ở Gia Lai: Thái độ, công việc của người thầy giáo Jrai đầu tiên Nay Der với chữ viết dân tộc, tiếng Việt, tiếng Pháp.

    Năm 1923, Nay Der tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn và trở thành thầy giáo đầu tiên của người Jrai. Ông là người soạn ra bộ chữ cái Jrai đầu tiên bằng mẫu tự latin để ghi lại tiếng nói của dân tộc mình.( chỉnh sửa 1983, 2011) Lớp học đầu tiên ở Kon Tum có 40 học sinh.( Trong đó 12 em là người Jrai, Bah Nar, Xơ Đăng, Rơ Ngao, 28 học sinh người Việt) Năm học 1940-1941 công sứ Pháp báo cho đốc học Kon Tum là Ăng Toan biết là cần đưa tiếng Pháp vào dạy ở bậc tiểu học. Nay Der phản đối và nói: ” Học sinh trong trường tuy là con em các sắc tộc thiểu số nhưng đều là người An Nam cả. Vì vậy việc dạy chữ quốc ngữ ghi tiếng mẹ đẻ là cần thiết bên cạnh việc dạy chữ dân tộc thiểu số. Còn dạy chữ Pháp ở bậc tiểu học là không cần. Nếu ông Thống sứ và ông Đốc học lấy uy quyền mà bắt buộc thì chỉ dạy một tuần vài tiết có tính chất giới thiệu. Học sinh sẽ không phải kiểm tra, sát hạch gì.” ( 1)

    II. Vai trò, ý nghĩa của việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển tư duy và nhân cách của người học.

    Việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số có vai trò, ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển tư duy và nhân cách của học sinh bởi các lí do sau đây:

    – Cùng với phong tục tập quán, với kho tàng Folclore…ngôn ngữ(*) dân tộc là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc.( ” văn hóa” hiểu theo nghĩa truyền thống và hiện đại) Nó là công cụ để tư duy và giao tiếp của các cá thể trong cộng đồng một tộc người; là nơi lưu giữ và phổ biến kinh nghiệm sống, tri thức, nghệ thuật…của dân tộc.( Ví dụ: so sánh tục ngữ, thành ngữ của người Việt với của người Jrai, Bah Nar) Có thể nói mà không sợ quá lời rằng: Nếu không còn ngôn ngữ thì cũng sẽ không còn văn hóa dân tộc.

    -Như trên đã nói, ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Nếu không có ngôn ngữ thì không thể tiến hành cảm nhận, nhận thức thế giới ( nội tâm và bên ngoài) và giao tiếp giữa người với người. Thực tế cho thấy vốn từ người nào càng phong phú thì năng lực tư duy càng cao và ngược lại. Đây là qui luật không có ngoại lệ. Vì vậy dạy học tiếng dân tộc cho học sinh ở mức độ lí tưởng nhất là giúp các em phát triển tư duy,diễn đạt đúng tiến tới hay, sinh động, phong phú những suy nghĩ của mình bằng tiếng mẹ đẻ.

    – Nhân cách con người do nhiều yếu tố tạo nên. Giáo dục, phát triển nhân cách của học sinh qua việc dạy học tiếng dân tộc cần tiến hành các công việc:

    + Bồi dưỡng tình cảm yêu mến, trân trọng và tự hào về tiếng mẹ đẻ của mình.

    + Có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc.

    + Có nhu cầu phát huy, quảng bá tiếng nói dân tộc bằng cách sáng tạo từ mới, cách nói mới, giới thiệu cái hay cái đẹp của tiếng nói với bạn bè, và những người thuộc dân tộc khác…

    + Tránh hai xu hướng: tự ti, mặc cảm ( chỉ thích nói tiếng Việt) hoặc quá lạm dụng tiếng mẹ đẻ, hạn chế tới quá trình tiếp thu kiến thức ở những lớp trên( Vì ” liều lượng” tiếng dân tộc sẽ theo hình chóp nón từ lớp 1 trở lên)

    Có thể khẳng định: Sẽ là một nhân cách xộc xệch, méo mó nếu người nào đấy coi thường hoặc không thông hiểu tiếng nói mẹ đẻ của mình.

    Chú thích: (*) Trong bài này ” ngôn ngữ” có lúc được hiểu là ” tiếng nói”, có lúc hiểu là ” chữ viết”.

    1. Chử Anh Đào- Người thầy giáo Jrai đầu tiên. GD.1986
    2. Nguyễn Thiện Giáp- Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kì lịch sử- Nguồn: Intenet.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Học Phần Phương Pháp Dạy Học Tiếng Jrai Trong Chương Trình Bồi Dưỡng Giáo Viên Dạy Tiếng Jrai
  • Ngôn Ngữ Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Tiếng Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Trường Đh Khoa Học Xh&nv
  • Tiếng Indonesia Chính Thức Được Giảng Dạy Tại Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
  • Dạy Tiếng Việt Cho Người Indonesia
  • Dạy Tiếng Bahnar, Jrai Cho Học Sinh Th Vùng Dtts: Bồi Dưỡng Tình Yêu Tiếng Mẹ Đẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Tiểu Học Xã Hà Tây Đổi Mới Phương Pháp Dạy Tiếng Bahnar
  • Dạy Chữ J’rai Và Bahnar Cho Hơn 11 Ngàn Học Sinh
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Qua Một Số Trò Chơi Dân Gian
  • Cách Học Tiếng Anh Thần Kỳ Lừa Đảo Hay Không?
  • Trò Lừa Kéo Dài 4 Năm Của Phan Ngọc Quốc
  • Được đưa vào triển khai rộng rãi tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số từ 3 năm nay, chương trình dạy tiếng Bahnar, Jrai đã thực sự giúp cho học sinh vượt qua được tâm lý tự ti, nhút nhát, tiếp thu bài học nhanh hơn. Tại huyện Phú Thiện (Gia Lai), chương trình này đã được học sinh đón nhận một cách hào hứng.

    Lớp 4A- Trường Tiểu học Nay Der, xã Chư A Thai (huyện Phú Thiện) với 20 học sinh bỗng chốc trở nên sôi nổi hơn khi bước vào tiết học tiếng Bahnar. Ở một ngôi trường có đến hơn 95% học sinh người Bahnar thì đây là một chương trình được đánh giá hết sức thiết thực khi mà lâu nay ngôn ngữ luôn là một rào cản lớn.

    Theo đánh giá của nhiều thầy cô, tương tự như việc học sinh người Kinh cần học tốt tiếng Việt trước khi học một ngôn ngữ khác, học sinh vùng dân tộc thiểu số cũng sẽ tiếp thu tiếng Việt và chương trình học phổ thông tốt hơn nếu trước đó được học tiếng mẹ đẻ. Do đó, với các học sinh lớp 4A- Trường Tiểu học Nay Der, giờ học chính tả trở nên gần gũi hơn rất nhiều; học sinh nhanh nhảu ghi từng chữ lên chiếc bảng con sau khi nghe thầy đọc to vài lần.

    Em Kpă Thân bẽn lẽn nói: “Em thích học tiếng Bahnar vì… dễ học”. Thầy Siu Grư trao đổi: “Là giáo viên người Jrai nhưng phải dạy tiếng Bahnar nên tôi phải học hỏi thêm rất nhiều; ngoài ra vừa dạy, giáo viên vừa phải điều chỉnh một chút cho hợp với phương ngữ do sách được soạn theo tiếng Bahnar ở Kon Tum”. Tuy nhiên, điều vui nhất đối với anh là học sinh luôn hào hứng trong mỗi tiết học và tiếp thu rất nhanh.

    Việc dạy tiếng Bahnar, Jrai cho học sinh dân tộc thiểu số ở cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh được tiến hành dạy thực nghiệm 10 năm (1997-2007) và đưa vào triển khai dạy đại trà từ năm 2008. Chương trình được dạy 3 tiết/tuần bắt đầu từ lớp 3, tính điểm trung bình vào kết quả học tập chung như những môn học khác. Đến nay, toàn tỉnh có 97 Trường Tiểu học tổ chức dạy tiếng Bahnar, Jrai cho 10.093 học sinh.

    “Gần như các em vừa học vừa chơi nên giờ học rất hào hứng, việc chia nhóm cũng giúp những em nhút nhát tiến bộ nhanh hơn”- thầy Nay Đơn nói. Siu H’Nuin- một học sinh của lớp, cho biết em được học tiếng Jrai đã 3 năm và rất thích vì “trong sách có nhiều chuyện cổ tích rất hay”. H’Nuin khoe điểm kiểm tra giữa học kỳ vừa rồi của em ở môn học tiếng Jrai được đến 9 điểm. Tuy nhiên, với những lớp có học sinh người Kinh, các em có quyền chọn học hoặc không học tiếng Jrai, Bahnar.

    Nhận xét về ảnh hưởng tích cực của chương trình dạy tiếng Bahnar, Jrai, ông Rơ Mah Xôn- Phó Trưởng phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Phú Thiện, cho biết: “Qua 3 năm triển khai, có thể thấy đây là chương trình rất có lợi cho học sinh, giúp các em hiểu tiếng mẹ đẻ, từ đó cũng hiểu tiếng Việt tốt hơn, tiếp thu bài tốt và thực tế là kết quả học tập cũng được cải thiện hơn”.

    Ông Phạm Văn Căn- Phó Trưởng ban Giáo dục Dân tộc (Sở Giáo dục- Đào tạo), cũng nhìn nhận khá lạc quan: “Chương trình đã đáp ứng yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành giao tiếp, giúp các em mở rộng những hiểu biết về văn hóa của dân tộc mình, bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ cho học sinh và góp phần rèn luyện tư duy, từ đó học tốt tiếng Việt và các môn khác trong trường tiểu học”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Cảm Tạ Kinh Thánh Tiếng Bahnar
  • Về Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam
  • Một Lần Đến Với Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam
  • Giáo Trình Học Tiếng Thái
  • Học Tiếng Anh Qua Báo 10 Hiểu Biết Sai Lệch Về Cơ Thể Con Người
  • Dạy Và Học Tiếng Jrai, Bahnar Ở Quân Đoàn 3: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tuyên Truyền, Vận Động

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Học Tiếng Nhật Để Du Học Nhật Bản
  • Du Học Nhật Bản 2021 Cần Bao Nhiêu Tiền Và Chi Phí Gì?
  • Chi Phí Không Thể Bỏ Qua
  • Du Học Tiếng Nhật Ở Nhật Bản Là Gì? – Thực Tế Ra Sao?
  • Thời Gian Học Tiếng Anh Tốt Nhất Trong Ngày Đem Lại Hiệu Quả Bất Ngờ
  • ​(GLO)- Những năm gần đây, Quân đoàn 3 đã tổ chức nhiều lớp dạy tiếng Jrai, Bahnar cho cán bộ, sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp. Đây được xem là giải pháp thiết thực để đơn vị nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc trên địa bàn.

    ​Đã gần đến giờ nghỉ trưa nhưng ở hội trường Trung đoàn 54 (Sư đoàn 320, Quân

    đoàn 3) vẫn còn văng vẳng tiếng học bài. Trên bục giảng, thầy giáo Hiao Kuan

    (Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Gia Lai) vừa ghi từ vựng lên bảng vừa

    đọc mẫu rồi hướng dẫn các học viên đọc theo. Thấy học viên nào phát âm chưa

    chuẩn, thầy liền hướng dẫn đọc lại rồi mới tiếp tục dạy từ khác.

    images1161735_1_danh_quang.png

    Thầy

    giáo Hiao Kuan trao đổi với học viên trong lớp học. Ảnh: Danh Quang

    Thầy

    Hiao Kuan cho biết, đây là khóa học tiếng Jrai thứ 9 mà thầy dạy cho cán bộ, sĩ

    quan và quân nhân chuyên nghiệp các đơn vị thuộc Quân đoàn 3. Vì vậy, thầy có

    rất nhiều kinh nghiệm trong việc truyền đạt kiến thức đến người học. “Tôi rất

    vui khi nhận lớp học này bởi các học viên đều có ý thức, trách nhiệm trong học

    tập. Tôi dạy cho họ từ đọc đúng đến đọc trôi chảy rồi mới tới giao tiếp, lắng

    nghe. Tôi tin rằng, sau này về đơn vị, họ sẽ công tác tốt hơn”.

    Lớp học tiếng Jrai năm 2021 có 25 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp ở các cơ

    quan, đơn vị trong Quân đoàn 3. Mục tiêu của lớp học là sau 3 tháng, các học

    viên có thể nói thông thạo các từ ngữ thường gặp trong cuộc sống, sinh hoạt của

    người dân, làm chủ được các tình huống giao tiếp thông thường và biết cách

    tuyên truyền, vận động bà con dân tộc thiểu số bằng tiếng bản địa. Lồng ghép

    đến phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, nếp sống, sinh hoạt thường ngày

    của người dân Jrai để học viên có thêm hiểu biết trong quá trình làm công tác

    dân vận sau này.

    Trung

    tá Lê Đình Lâm (Chính trị viên Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320)-học

    viên lớp học, tâm sự: “Do thường xuyên phải tiếp xúc tuyên truyền, vận động

    đồng bào dân tộc thiểu số nên chúng tôi xác định phải học tiếng Jrai để hoàn

    thành tốt nhiệm vụ được giao”. Ngoài ra, theo tìm hiểu của chúng tôi, hàng năm,

    có khoảng 30% chiến sĩ mới của các đơn vị trong Quân đoàn 3 là người dân tộc

    thiểu số trên địa bàn Tây Nguyên. Do vậy, bên cạnh nhiệm vụ vận động, tuyên

    truyền quần chúng, cán bộ biết tiếng dân tộc thiểu số sẽ dễ dàng hơn trong việc

    nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của chiến sĩ, từ đó có phương pháp giáo dục, quản

    lý số chiến sĩ người dân tộc thiểu số phù hợp, hiệu quả hơn.

    Được

    Bộ Tư lệnh Quân đoàn giao nhiệm vụ tổ chức, quản lý lớp học tiếng Jrai, lãnh

    đạo, chỉ huy Trung đoàn 54 đã cố gắng tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học

    viên yên tâm học tập. Theo đó, ngoài việc bảo đảm các chế độ chung cho học viên

    tham gia lớp học theo quy định, đơn vị còn cấp ti vi, báo, dụng cụ thể thao để

    giúp các học viên cập nhật thông tin, vui chơi giải trí sau mỗi ngày học tập.

    Cho

    đến nay, Quân đoàn 3 đã tổ chức được nhiều lớp dạy tiếng Jrai, Bahnar cho hàng

    trăm cán bộ, sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp. Điều này  đã góp phần cải

    thiện chất lượng giáo dục, huấn luyện chiến sĩ các dân tộc Tây Nguyên, đồng

    thời nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu

    số, giúp họ giữ vững niềm tin vào Đảng và Nhà nước, qua đó giữ vững thế trận

    lòng dân trên địa bàn chiến lược của Tổ quốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Thuật Tiếng Ý Tại Đà Nẵng: Nhanh, Uy Tín, Giá Rẻ
  • Trung Tâm Học Tiếng Ý Uy Tín Giá Rẻ Tại Tphcm
  • Học Ngoại Ngữ Thì Mất Bao Lâu?
  • Phiên Dịch Thông Dịch Tiếng Ý Tại Biên Hòa
  • Những Bí Quyết Giúp Bạn Học Tiếng Ý Hiệu Quả
  • 2 Giai Đoạn Học Tiếng Jrai Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Bồi Dưỡng Tiếng Jrai, Bahnar Cho Công Chức, Viên Chức: Hiệu Quả, Thiết Thực
  • Nên Học Tiếng Trung Hay Tiếng Nhật?
  • Học Tiếng Nhật Mỗi Ngày: 9 Phương Pháp Hữu Ích.
  • 11 Bí Kíp Học Tiếng Nhật Cấp Tốc Siêu Hiệu Quả
  • Nên Học Nghề Gì Bây Giờ 12 Nghề Tự Do Lương Cao Nhất Hiện Nay
  • GD&TĐ – Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Jrai vừa được Bộ GD&ĐT công bố xin ý kiến góp ý.

    Theo dự thảo, môn Tiếng Jrai là môn học tự chọn thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ được triển khai dạy học cho học sinh từ bậc A đến bậc B. Ở bậc A (trình độ A1, A2) tương ứng với giai đoạn giáo dục cơ bản, bậc B (trình độ B) tương ứng với giai đoạn giáo dục hướng nghiệp.

    Nội dung chính của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kĩ năng cơ bản về tiếng Jrai, thiết yếu về tiếng Jrai các nét văn hoá của dân tộc Jrai đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng trình độ; được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (bậc A) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (bậc B).

    Ở giai đoạn giáo dục cơ bản (bậc A): Chương trình được thiết kế theo các mạch chính tương ứng với các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Kiến thức được tích hợp trong quá trình dạy học nghe, nói, đọc, viết. Các ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh ở mỗi bậc/trình độ. Mục tiêu của giai đoạn này là giúp học sinh sử dụng tiếng Jrai để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống nhằm bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ và văn hóa dân tộc.

    Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (bậc B): Chương trình củng cố và phát triển các kết quả của trình độ bậc A (trình độ A1, A2), giúp học sinh nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ; trang bị một s

    Thời lượng thực hiện chương trình ở các trình độ (theo số tiết học): Trình độ A1 (350 tiết); trình độ A2 (420 tiết); trình độ B (315 tiết). Tiểu học học 2tiết/tuần; THCS, THPT học 3 tiết/tuần theo quy định thông tư 32/TT-BGDĐT về CT GDPT mới.

    Chương trình môn tiếng Jrai là chương trình khung, được thực hiện thống nhất trong các trường học trên toàn quốc có dạy học tiếng Jrai cho học sinh như là học ngôn ngữ mẹ đẻ.

    Căn cứ vào chương trình khung này, có thể sẽ có nhiều nhóm tác giả biên soạn những bộ sách giáo khoa tiếng Jrai khác nhau. Điều này thể hiện chủ trương đa dạng hóa sách giáo khoa mà vẫn đảm bảo được sự thống nhất về chương trình giáo dục của Đảng và Nhà nước.

    Mỗi nhóm tác giả sách giáo khoa, tùy vào quan điểm của mình, có quyền chọn thiết kế các bộ sách có cấu trúc khác nhau, chẳng hạn:

    Có thể bộ sách gồm nhiều cuốn, mỗi cuốn học trong một năm học; có thể bộ sách gồm số lượng cuốn nhất định cho mỗi trình độ (ví dụ trình độ A1 gồm cuốn 1, cuốn 2, cuốn 3; trình độ A2 gồm cuốn 4, cuốn 5, cuốn 6; trình độ B gồm cuốn 7, cuốn 8).

    Dù thiết kế cấu trúc của bộ sách theo cách nào thì các tác giả sách vẫn phải đảm bảo sách giáo khoa bao gồm đủ những nội dung học tập và định hướng về phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá đã nêu trong chương trình này.

    Dự thảo cũng nêu rõ: Để đạt được mục tiêu của chương trình, cần đảm bảo một số điều kiện cơ bản sau:

    Dạy học tiếng Jrai cần dựa trên nguyện vọng, nhu cầu được học tiếng Jrai của người Jrai (theo Nghị định số 82/2010/NĐCP về Qui định việc dạy và học tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên).

    Bộ GD&ĐT cần có văn bản hướng dẫnSở GD&ĐT các tỉnh một cách cụ thể về việc học sinh học tự chọn môn tiếng Jrai.

    Hệ thống ngữ âm và chữ viết của chương trình tiếng Jrai cần thực hiện theo Quyết định số 30/2011/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 của UBND tỉnh Gia Lai về việc công bố bộ chữ cái và hệ thống âm, vần tiếng Jrai.

    Giáo viên dạy tiếng Jrai đạt trình độ chuẩn đào tạo của cấp học tương ứng, được đào tạo dạy tiếng Jrai tại các trường cao đẳng, đại học sư phạm, khoa sư phạm.

    Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học tiếng Jrai theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Có chế độ chính sách hỗ trợ cho giáo viên tham gia công tác giảng dạy môn tiếng Jrai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Tiếng Anh Tại Ireland (Ai
  • Dịch Thuật Tiếng Iran Sang Tiếng Việt Chuẩn Xác
  • Thủ Tục Xin Visa Du Học Iran
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Du Học Iran
  • Dịch Thuật Tiếng Iran Nhanh Và Chuẩn Xác Chỉ Có Tại Việt Uy Tín
  • Nghiên Cứu Và Xây Dựng Hệ Thống Dịch Tự Động Jrai

    --- Bài mới hơn ---

  • Trẻ Em Nhật Học Chữ Hán (Kanji) Như Thế Nào?
  • Trẻ Con Nhật Bản Bắt Đầu Học Tiếng Nhật Như Thế Nào?
  • Trẻ Em Nhật Đã Học Ngôn Ngữ “mẹ Đẻ” Như Thế Nào?
  • Đánh Giá Một Số Trung Tâm Học Tiếng Anh Giao Tiếp Ở Nhật
  • Tin Được Không? Hoàn Toàn Có Thể Du Học Nhật Bản Bằng Tiếng Anh!
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    ĐỖ THỊ THUẬN

    NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG

    DỊCH TỰ ĐỘNG JRAI – VIỆT VÀ VIỆT – JRAI

    Chuyên ngành : Khoa học máy tính

    Mã số : 60.48.01

    TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

    Đà Nẵng – Năm 2012

    2

    Công trình ñược hoàn thành tại

    ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    Người hướng dẫn khoa học: TS. HUỲNH CÔNG PHÁP

    Phản biện 1 : chúng tôi LÊ VĂN SƠN

    Phản biện 2 : TS. NGUYỄN MẬU HÂN

    Luận văn ñược bảo vệ tại Hội ñồng chấm Luận văn tốt

    nghiệp thạc sĩ kỹ thuật họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 16

    tháng 12 năm 2012

    Có thể tìm hiểu luận văn tại:

    – Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng;

    – Trung tâm Học liệu, Đại học Đà Nẵng;

    3

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn ñề tài

    Cộng ñồng các dân tộc Việt Nam có ñến 54 dân tộc anh em

    và Jrai là một dân tộc có dân số khá ñông, chỉ ñứng thứ hai (sau

    người Kinh). Người Jrai cư trú trên một dải ñất rộng lớn, chủ yếu

    phân bổ ở tỉnh Gia Lai và ñồng bào sử dụng tiếng Jrai làm ngôn ngữ

    giao tiếp chính thống. Tuy nhiên, tiếng Việt lại là ngôn ngữ chính

    ñược sử dụng ở Việt Nam, ñiều này dẫn ñến việc chuyển tải chủ

    trương, ñường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ñến

    với các ñồng bào dân tộc Jrai gặp rất nhiều khó khăn. Đồng bào

    cũng gặp khó khăn trong việc học tập và tiếp thu tri thức bằng tiếng

    Việt.

    Ngày nay, ở vào thời ñại công nghệ thông tin bùng nổ, ñể

    bảo tồn và phát huy ñược bản sắc các dân tộc, chúng tôi nghĩ ñến

    các biện pháp ñưa ngôn ngữ Jrai vào máy tính. Do ñó, việc xây dựng

    một hệ thống dịch qua lại giữa tiếng Jrai và tiếng Việt là rất cần

    thiết.

    Hiện tại, Trung tâm CNTT-TT Sở Thông tin và Truyền

    thông Gia Lai và Công ty TNHH Công nghệ thông tin Tuổi trẻ Lạc

    Việt ñã cho ra ñời phần mềm “Từ ñiển ñiện tử phương ngữ Jrai Việt” cho phép chúng ta tra nghĩa theo từ. Tuy nhiên, với một tài

    liệu lớn muốn dịch từ tiếng Jrai sang tiếng Việt hay ngược lại thì

    việc tra cứu từng từ là rất bất cập và mất thời gian.

    Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, chúng tôi có ý tưởng

    nghiên cứu và xây dựng một hệ thống dịch tự ñộng giữa tiếng Jrai

    và tiếng Việt.

    4

    Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp dịch tự ñộng ñã

    ñược sử dụng như dịch máy dựa trên luật, dịch máy dựa trên ví dụ

    mẫu, dịch máy dựa trên xác suất thống kê, …. Tuy nhiên, dịch máy

    dựa trên phương pháp thống kê ñang là một hướng phát triển ñầy

    tiềm năng bởi những ưu ñiểm vượt trội so với các phương pháp

    khác. Thay vì xây dựng các từ ñiển, các quy luật chuyển ñổi bằng

    tay, hệ dịch này tự ñộng xây dựng các từ ñiển, các quy luật dựa trên

    kết quả thống kê có ñược từ các kho ngữ liệu. Chính vì vậy, dịch

    máy dựa vào thống kê có tính khả chuyển cao áp dụng ñược cho bất

    kỳ cặp ngôn ngữ nào.

    Với những ñiều kiện và lý do nêu trên, chúng tôi chọn

    hướng nghiên cứu về phương pháp dịch máy dựa trên xác suất thống

    kê ñể xây dựng hệ thống dịch tự ñộng Jrai – Việt và Việt – Jrai.

    2. Mục ñích và nhiệm vụ của ñề tài

    Mục ñích của ñề tài là tập trung nghiên cứu, tìm hiểu các

    phương pháp dịch máy và áp dụng ñể xây dựng hệ thống dịch tự

    ñộng Jrai – Việt và Việt – Jrai.

    Nhiệm vụ cụ thể:

    Nghiên cứu các văn bản tiếng Jrai.

    Nghiên cứu tổng quan về các phương pháp dịch máy.

    Đề xuất phương pháp dịch máy hiệu quả và vận dụng ñể

    xây dựng hệ thống dịch tự ñộng Jrai – Việt và Việt –

    Jrai.

    Nghiên cứu các phương pháp ñánh giá hệ dịch tự ñộng.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu

    Các văn bản văn hóa hóa tiếng Jrai.

    5

    Các phần mềm dịch tự ñộng hiện có.

    Các phương pháp dịch tự ñộng.

    Các công cụ ñánh giá dịch tự ñộng

    Phạm vi nghiên cứu

    Đề tài tập trung vào nghiên cứu về dịch các tài liệu dạng

    văn bản văn hóa tiếng Việt và tiếng Jrai.

    4. Phương pháp nghiên cứu

    Tìm hiểu các hệ dịch tự ñộng ñã có ñể tìm ra các

    phương pháp dịch máy mà các hệ dịch hiện ñang sử

    dụng.

    Nghiên cứu và ñánh giá các phương pháp dịch máy,

    những ưu ñiểm và những hạn chế, sau ñó tìm ra một

    phương pháp có hiệu quả và ñề xuất áp dụng cho bài

    toán ñề tài ñặt ra.

    Nghiên cứu các phương pháp ñánh giá chất lượng dịch

    máy ñể ñánh giá hiệu quả dịch cho hệ thống ñề tài ñã

    xây dựng.

    5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài

    Ý nghĩa khoa học

    Hiểu và vận dụng ñược phương pháp dịch máy thống kê

    vào thực tiển.

    Xây dựng thành công phần mềm dịch tự ñộng giữa tiếng

    Jrai và tiếng Việt

    Ý nghĩa thực tiễn

    Hệ thống dịch máy giữa tiếng Jrai và tiếng Việt tạo ñiều

    kiện thuận lời cho việc nghiên cứu, học tập tiếng Jrai.

    6

    Trợ giúp cho công tác quản lý của cán bộ người Việt ở

    Jrai

    6. Cấu trúc của luận văn

    Luận văn ñược tổ chức gồm 3 chương chính như sau:

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH MÁY

    CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH – THIẾT KẾ – ĐẶC TẢ HỆ

    THỐNG DỊCH MÁY THỐNG KÊ

    CHƯƠNG 3: TRIỂN KHAI VÀ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG

    DỊCH MÁY THỐNG KÊ

    KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH MÁY

    1.1. KHÁI NIỆM VỀ DỊCH MÁY

    Dịch máy hay còn gọi là dịch tự ñộng, thực hiện dịch một

    ngôn ngữ này (gọi là ngôn ngữ nguồn) sang một hoặc nhiều ngôn

    ngữ khác (gọi là ngôn ngữ ñích) một cách tự ñộng, không có sự can

    thiệp của con người trong quá trình dịch.

    1.2. LỊCH SỬ DỊCH MÁY

    1.3. MỘT SỐ DỊCH VỤ DỊCH MÁY

    1.3.1. Google

    Trang Web truy cập http://translate.google.com

    1.3.2. Microsoft

    Trang Web truy cập http://www.microsofttranslator.com/

    1.3.3. EVTRAN

    EVTRAN (English Vietnamese Translator), phần mềm dịch

    tự ñộng Anh – Việt.

    7

    1.3.4. Vdic

    Trang Web truy cập http://vdict.com/?autotranslation

    1.3.5. Lạc Việt

    Trang Web truy cập http://tratu.vietgle.vn/hoc-tienganh/dich-van-ban.html

    1.3.6. Yahoo!

    Trang Web truy cập http://babelfish.yahoo.com

    1.4. NHẬN XÉT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH TIẾNG VIỆT

    Các dịch vụ dịch máy hiện nay nhìn chung là hiệu quả dịch

    chưa cao, một số dịch vụ chưa có hỗ trợ dịch tiếng Việt. Do chất

    lượng chưa thật tốt nên hầu hết các sản phẩm dịch tự ñộng ñều chỉ

    mang tính tham khảo, các bản dịch chỉ cho biết ñại ý và nó hoàn

    toàn có thể dịch sai một phần hoặc toàn bộ nội dung cốt lõi của văn

    bản.

    1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP DỊCH MÁY

    1.5.1. Dịch trực tiếp (Direct MT)

    1.5.1.1. Khái niệm

    Hệ thống dịch bằng cách thay thế những từ/ngữ trong ngôn

    ngữ nguồn bằng những từ/ngữ trong ngôn ngữ ñích một cách máy

    móc.

    1.5.1.2. Phân tích hình thái

    Trong ngôn ngữ học, phân tích hình thái ngôn ngữ là xác

    ñịnh, phân tích và miêu tả cấu trúc của hình vị (âm tiết) và các ñơn

    vị ý nghĩa khác như từ, phụ tố, từ loại, thanh ñiệu, hàm ý.

    1.5.2. Dịch máy theo chuyển ñổi cú pháp (Syntactic

    Transfer MT)

    Hệ thống dịch bằng cách phân tích (hình thái và cú pháp)

    câu của ngôn ngữ nguồn và sau ñó áp dụng những luật ngôn ngữ và

    8

    từ vựng (gọi là quy luật chuyển ñổi) ñể ánh xạ thông tin văn phạm

    từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ ñích.

    1.5.3. Dịch máy qua ngôn ngữ trung gian (Interlingual

    MT)

    1.5.3.1. Khái niệm

    Hệ thống dịch qua một ngôn ngữ trung gian gọi là liên ngôn

    ngữ (interlingual).

    1.5.3.2. Ngôn ngữ trung gian UNL (Universal Networking

    Language)

    Đây là một ngôn ngữ trung gian biểu ñạt riêng cho máy tính,

    cho phép biểu diễn về mặt ngữ nghĩa ở mức ñơn giản nhất có thể

    (giảm thiểu những rắc rối do vấn ñề ngữ nghĩa).

    1.5.4. Dịch máy dựa theo luật (RBMT: Rule-based MT)

    Cách tiếp cận truyền thống này dựa vào các luật dẫn thường

    ñược xây dựng bằng tay bởi các chuyên gia ngôn ngữ.

    1.5.5. Dịch máy dựa trên ví dụ (EBMT: Example-based

    MT)

    Theo cách tiếp cận này, khi hệ dịch nhận ñược một câu

    ngôn ngữ nguồn, hệ thống sẽ so khớp với các mẫu trong kho ngữ

    liệu song ngữ ñể xác ñịnh mẫu nào gần ñúng nhất và ñưa ra thành

    phần dịch tương ứng của mẫu ñó.

    1.5.6. Dịch máy dựa trên cơ sở tri thức (KBMT:

    Knowledge-Based MT)

    Theo cách dịch này, máy tính phải ñược trang bị tri thức

    ngôn ngữ và tri thức về thế giới thực y như con người. Do ñó, chúng

    ta phải xây dựng một cơ sở tri thức khổng lồ mà bao trùm ñược mọi

    tri thức về thế giới thực ở mọi lĩnh vực.

    9

    1.5.7. Dịch máy dựa trên thống kê (SMT: Statistical-based

    MT)

    Cách tiếp cận dịch máy dựa trên thống kê ñể xây dựng từ

    ñiển và các quy luật dịch một cách tự ñộng. Để thực hiện ñược ñiều

    này, cần có một kho ngữ liệu song ngữ rất lớn.

    1.5.8. Dịch máy dựa trên ngữ liệu (CBMT: Corpus-Based

    MT)

    Dựa trên cơ sở ngôn ngữ học và công nghệ máy học ñể có

    ñược các bộ luật chuyển ñổi nhờ vào kho ngữ liệu dạng ñơn ngữ hay

    song ngữ. Các luật này phải ñược ñảm bảo là chính xác, bao quát,

    không mâu thuẫn và dễ kiểm soát hơn so với các luật ñược xây dựng

    một cách thủ công của các nhà ngôn ngữ học.

    1.6. NHẬN XÉT CÁC PHƯƠNG PHÁP DỊCH MÁY

    1.7. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG

    DỊCH MÁY

    1.7.1. Đánh giá chủ quan (Subjective)

    Do con người trực tiếp ñánh giá theo tính ñầy ñủ và ñộ trôi

    chảy của bản dịch (ñiểm số 1 ñến 5).

    1.7.2. Đánh giá khách quan (Objective)

    1.7.2.1. BLEU (BiLingual Evaluation Understudy)

    BLEU ñược ñề xuất bới IBM tại hội nghị ACL ở

    Philadelphie vào tháng 7-2001. Ý tưởng chính của phương pháp là

    so sánh kết quả bản dịch tự ñộng bằng máy với một bản dịch chuẩn

    dùng làm bản ñối chiếu.

    10

    1.7.2.2. NIST (National Institute of Standards and

    Technology)

    NIST phát triển dựa trên phương pháp BLEU nhưng có một

    khác biệt về quan ñiểm ñánh giá là việc chọn lựa N-grams và thông

    tin trên mỗi n-gram sẽ ñược sử dụng ñể phục vụ việc ñánh giá. NIST

    ñánh số ñiểm cao hơn cho các n-gram chứa nhiều thông tin hơn

    trong khi ñối với BLEU là như nhau nếu cùng số từ. Với tiêu chuẩn

    này, số ñiểm cao thì hệ dịch ñược xem là tốt.

    CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH -THIẾT KẾ – ĐẶC TẢ HỆ

    THỐNG DỊCH MÁY THỐNG KÊ

    2.1. PHƯƠNG PHÁP DỊCH MÁY THỐNG KÊ

    2.1.1. Lý thuyết xác suất

    Lý thuyết xác suất ñược sử dụng khi chúng ta phải xử lý các

    sự kiện với những kết quả không chắc chắn, và có nhiều khả năng có

    thể xảy ra.

    2.1.1.1. Phân phối xác suất

    Về mặt toán học, một phân phối xác suất là một hàm ánh xạ

    trả về các giá trị giữa 0 và 1.

    2.1.1.2. Ước lượng phân phối xác suất

    Ước lượng phân phối xác suất dịch từ vựng bằng cách ñếm

    số lần xuất hiện của từ, sau ñó lấy tỷ lệ với tổng số từ có trong bộ

    ngữ liệu.

    pf : e → pf ( e)

    (2.1)

    pf thỏa mãn 2 thuộc tính:

    p f (e ) = 1

    (2.2)

    e

    ∀e : 0 ≤ p f (e) ≤ 1

    (2.3)

    pf(e) có giá trị cao hơn nếu từ tiếng Anh e là một bản dịch

    thông dụng, giá trị thấp nếu từ tiếng Anh e là bản dịch hiếm ñược sử

    dụng, giá trị 0 nếu không có bản dịch tương ứng.

    11

    2.1.2. Các mô hình dịch máy thống kê

    2.1.2.1. Dịch máy thống kê dựa trên cơ sở từ (Word-based

    SMT)

    Các mô hình dịch máy thông kê ban ñầu dựa trên ñơn vị từ,

    dịch từng từ, có thể thêm hoặc bớt từ sau ñó sắp xếp các từ lại thành

    bản dịch. Bản dịch một cặp câu chính là sự ánh xạ các từ tương ứng

    giữa 2 ngôn ngữ thông qua chức năng liên kết từ. Mô hình dịch dựa

    trên ñơn vị từ không cho kết quả tốt trong trường hợp kết nối 1nhiều, nhiều-1 hoặc nhiều-nhiều. Khi ñó, phân tích dựa trên ñơn vị

    cụm từ ñược ñề xuất ñể giải quyết vấn ñề này.

    2.1.2.2. Dịch máy thống kê dựa trên cơ sở cụm từ (Phrasebased SMT)

    Đây là mô hình dịch máy thống kê thực thi tốt nhất hiện

    nay. Ở ñây, khái niệm cụm từ không theo ñịnh nghĩa của ngôn ngữ

    học mà ñược sinh ra dựa vào các phương pháp thống kê áp dụng

    trên ngữ liệu học. Một chuỗi các từ liên tiếp ñược dịch sang ngôn

    ngữ ñích, với ñộ dài cụm từ ngôn ngữ nguồn và ñích có thể khác

    nhau. Hình 2.1 minh hoạ quá trình dịch máy thống kê dựa trên cụm

    từ, dịch từ tiếng Đức sang tiếng Anh.

    natuerlich

    of couse

    hat

    john

    john

    spass am

    has

    fun with the

    spiel

    game

    Hình 2.1 Ví dụ về dịch thống kê dựa trên cụm từ

    2.1.2.3. Dịch máy dựa trên cú pháp (Tree-based SMT)

    Câu ngôn ngữ nguồn f ñược phân tích thành cây cú pháp.

    Cây cú pháp này sẽ ñược sắp xếp lại ñể phù hợp với cú pháp của câu

    ngôn ngữ ñích e. Sau ñó, một số từ mới có thể ñược chèn vào cây

    12

    hiện tại cho phù hợp hơn với cú pháp của ngôn ngữ ñích. Cuối cùng,

    các từ trong cây cú pháp của câu ngôn ngữ nguồn sẽ ñược dịch sang

    ngôn ngữ ñích.

    2.2. QUY TRÌNH XÂY DỰNG HỆ THỐNG DỊCH MÁY

    THỐNG KÊ

    Koehn mô tả một cách khái quát quá trình dịch thống kê dựa

    trên cụm từ như sau:

    – Câu nguồn ñược tách thành các cụm từ

    – Mỗi cụm từ ñược dịch sang ngôn ngữ ñích.

    – Các cụm từ ñã dịch ñược sắp xếp theo một thứ tự phù

    hợp

    2.3. CÁC THÀNH PHẦN CỦA MỘT HỆ THỐNG DỊCH

    MÁY THỐNG KÊ

    Một mô hình dịch máy bao gồm 3 thành phần:

    – Mô hình ngôn ngữ: Phản ánh ñộ trôi chảy của câu dịch

    và ñược huấn luyện trên ngữ liệu ñơn ngữ

    – Mô hình dịch: Cho biết xác suất của câu ngôn ngữ

    nguồn là bản dịch từ câu ngôn ngữ ñích và ñược huấn

    luyện trên dừ liệu song ngữ.

    – Bộ giải mã: Thuật toán tìm kiếm ra bản dịch tốt nhất

    cho câu ngôn ngữ nguồn.

    2.3.1. Mô hình ngôn ngữ

    Đây là một trong những thành phần quan trọng của bất kỳ

    hệ thống dịch máy thống kê, nó là các phân phối xác suất trên một

    ngữ liệu ñơn ngữ, dùng ñể ño mức ñộ chính xác của việc sắp xếp

    các từ trong bản dịch.

    2.3.1.1. Mô hình ngôn ngữ n-gram

    Mô hình này dựa trên số liệu thống kê về khả năng các từ có

    thể ñi theo nhau trong câu.

    13

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Ấn Muốn Phát Triển Tiếng Hindi Tại Việt Nam
  • Hướng Dẫn Tạo Video Nói Tiếng Hindi Sử Dụng Ai
  • Những Lợi Ích Từ Việc Học Tiếng Hindi
  • Học Tiếng Hindi Miễn Phí Cho Android
  • Tải Học Tiếng Hindi Miễn Phí Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Bồi Dưỡng Tiếng Jrai, Bahnar Cho Công Chức, Viên Chức: Hiệu Quả, Thiết Thực

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Học Tiếng Trung Hay Tiếng Nhật?
  • Học Tiếng Nhật Mỗi Ngày: 9 Phương Pháp Hữu Ích.
  • 11 Bí Kíp Học Tiếng Nhật Cấp Tốc Siêu Hiệu Quả
  • Nên Học Nghề Gì Bây Giờ 12 Nghề Tự Do Lương Cao Nhất Hiện Nay
  • Ngoại Ngữ Nào Mở Ra Cơ Hội Làm Việc Lương Cao?
  • (GLO)- Thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TU, ngày 13-3-2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo công đào tạo, bồi dưỡng tiếng Jrai, Bahnar đối với cán bộ, công chức, những năm qua, các cấp ủy, chính quyền đã xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đơn vị và đạt những kết quả quan trọng.

    Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TU, các cấp ủy, chính quyền đã có chuyển biến tích cực trong nhận thức, từ đó tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, góp phần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động đồng bào Jrai và Bahnar, xây dựng khối đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Lễ khai giảng lớp học tiếng Jrai cho cán bộ, công chức xã, phường TP. Pleiku. Ảnh: T.N

    Từ năm 2009 đến nay, toàn tỉnh đã mở 243 lớp đào tạo tiếng Jrai, Bahnar với 9.181 lược học viên. Trong đó, có cả các lớp hợp đồng đào tạo ngoài ngân sách của tỉnh, giữa Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh với các đơn vị quân đội, Công an và các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên cấp huyện tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức của cấp mình và cơ sở. Từ năm 2021 đến năm 2021, toàn tỉnh đã đào tạo, bồi dưỡng tiếng Jrai, Bahnar cho 1.389 học viên tự túc học phí. Điển hình, thị xã An Khê mở 5 lớp bồi dưỡng tiếng Bahnar cho cán bộ, công chức, viên chức toàn thị xã; huyện Đức Cơ mở 11 lớp bồi dưỡng tiếng Jrai cho 559 lượt cán bộ, công chức trên địa bàn huyện; huyện Kông Chro mở 14 lớp bồi dưỡng tiếng Bahnar với 705 cán bộ, viên chức tham gia học tập.

    Cùng với đó, đội ngũ giáo viên tiếng Jrai, Bahnar đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu giảng dạy. Toàn tỉnh hiện có 227 giáo viên (tăng 208 giáo viên so với năm 2014), trong đó có 189 giáo viên giảng dạy tiếng Jrai (tăng 176 giáo viên so với năm 2014) và 38 giáo viên dạy tiếng Bahnar (tăng 32 giáo viên so với năm 2014). Hầu hết giáo viên dạy tiếng Jrai, Bahnar đều có kỹ năng sư phạm, có ý thức trách nhiệm trong công tác giảng dạy và được Sở Giáo dục và Đào tạo cấp chứng chỉ. Công tác giảng dạy, học tập, kiểm tra, giám sát và cấp chứng chỉ được thực hiện theo đúng quy định. Những học viên nghỉ học quá 20% tổng số tiết học của chương trình hoặc không đạt điểm trung bình trong các kỳ kiểm tra định kỳ không được phép dự thi cuối khóa. Kết thúc khóa học, đơn vị mở lớp thành lập hội đồng kiểm tra cuối khóa đối với 4 kỹ năng nghe-nói-đọc-viết của học viên để tổng hợp kết quả, xét đề nghị cấp chứng nhận theo quy định.

    Bên cạnh đó, việc bố trí kinh phí hàng năm để thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng tiếng Jrai, Bahnar cũng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Các cơ quan, đơn vị luôn quan tâm cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng tiếng Jrai, Bahnar, nhất là những đối tượng thường xuyên tiếp xúc với đồng bào dân tộc thiểu số ở cơ sở và cán bộ, công chức tăng cường cơ sở; ngoài ra còn tạo điều kiện thuận lợi cho người được cử đi học như: hỗ trợ một phần kinh phí đi lại, hỗ trợ tiền tài liệu; bố trí nơi ăn, nghỉ phù hợp cho cán bộ, công chức có nhu cầu nội trú… Các ngành đã phối hợp chặt chẽ trong việc huy động các chuyên gia để biên soạn, thẩm định và ban hành tài liệu, giáo trình giảng dạy tiếng Jrai, Bahnar phù hợp với thực tiễn địa phương. Năm 2014, Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nội vụ đã biên soạn, chỉnh sửa bộ giáo trình tiếng Jrai, Bahnar và đưa vào giảng dạy.

    Theo ghi nhận thực tế, nhiều học viên sau khi kết thúc khóa học đã sử dụng kiến thức cơ bản trong giao tiếp, giúp hiểu biết hơn về phong tục tập quán, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số; giao tiếp được với đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền, vận động người dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Giai Đoạn Học Tiếng Jrai Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông
  • Học Tiếng Anh Tại Ireland (Ai
  • Dịch Thuật Tiếng Iran Sang Tiếng Việt Chuẩn Xác
  • Thủ Tục Xin Visa Du Học Iran
  • Kinh Nghiệm Xin Visa Du Học Iran
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50