Top 10 # Xem Nhiều Nhất Dạy Tiếng Hàn Là Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

Dạy Giáo Lý Là Gì ?

I. NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆC DẠY GIÁO LÝ LÂU NAY:Trước tiên chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và cách làm lâu nay về công việc dạy Giáo Lý, đặc biệt đối với người Việt Nam chúng ta, với những hoàn cảnh thời đại và xã hội có quá nhiều hạn chế.

1. Dạy Giáo Lý không phải là dạy hỏi – thưa:Do mức độ còn hạn chế tùy từng nơi, từng vùng, nhất là ở ngoại thành và thôn quê, một số chương trình Giáo Lý hiện nay vẫn xoay chung quanh việc hỏi – thưa, một cách hệ thống ngắn gọn, chắc ăn, dễ triển khai, dễ kiểm tra. Dù vậy, Giáo Lý Viên trong trường hợp này, vẫn phải tránh lối học từ chương, mà phải luôn cố gắng tổ chức buổi dạy Giáo Lý một cách sống động, có đối thoại, có hội thoại trao đổi, sao cho nội dung Giáo Lý không dừng lại ở từng câu từng chữ giảng máy móc và học thuộc lòng rồi trả bài làu làu như… vẹt !

2. Dạy Giáo Lý không phải là học kinh hạt:Trong giai đoạn còn quá khó khăn trước đây, khi còn thiếu nhiều Linh Mục, lại thiếu các Giáo Lý Viên được đào tạo có hệ thống, rất nhiều nơi đã phải đành chấp nhận chỉ dạy kinh hạt cho các em thiếu nhi thay vì dạy Giáo Lý. Một số Giáo Phận cũng đã cố gắng chuyển tải các điểm cốt yếu trong Giáo Lý bằng những bài thơ lục bát để giúp các em dễ nhớ, dễ thuộc. Dẫu sao, đó chỉ là cách ứng phó tạm thời và hạn chế ở mức độ thấp nhất của việc dạy Giáo Lý.

3. Dạy Giáo Lý không phải là dạy luân lý:Đương nhiên nội dung Giáo Lý có đưa ra một nếp sống luân lý Ky-tô giáo sâu sắc, nhưng không vì thế Giáo Lý Viên dừng lại ở mức độ liệt kê cho các học viên một loạt các điều cho phép được làm và một loạt các điều cấm không được làm trong đời sống đạo. Dạy Giáo Lý vượt lên trên cả những điều ấy khi mở ra cho người học một mối tương quan mật thiết và thấm thía với Thiên Chúa, với Giáo Hội và với tha nhân chung quanh trong cuộc đời.

4. Dạy Giáo Lý không phải là dạy thần học:Thần học là một khoa học chuyên biệt, với nhiều trường phái và quan điểm khảo cứu về Thiên Chúa ( Théologie ), nó cung cấp rất nhiều kiến thức, lý luận, nhận định có hệ thống chặt chẽ về Thiên Chúa, tuy đôi khi vẫn còn có thể gây ra nhiều tranh cãi đưa tới nhiều canh tân đổi mới.

Trong khi đó, việc dạy Giáo Lý, dẫu có vận dụng đến một số điểm thần học căn bản, lại muốn đưa các em đến Lòng Tin, Lòng Yêu Mến và Lòng Cậy Trông chân thành đối với Thiên Chúa, để rồi thể hiện cụ thể ra trong đời sống của mình, vượt qua mọi thứ kiến thức và lý luận của lý trí. Do vậy, học Giáo Lý dứt khoát không phải là để nghe những bài thuyết trình hùng hồn hấp dẫn về Thiên Chúa.

5. Dạy Giáo Lý không phải là loan báo Tin Mừng:Việc loan báo Tin Mừng là hoạt động truyền giáo, đem Lời Chúa đến với người chưa hề biết đạo là gì, chưa hề biết Chúa là Ai. Thường thì việc loan báo Tin Mừng đi trước, kế ngay sau đó là việc giảng dạy Giáo Lý.

Một số vùng truyền giáo ở thượng du phía Bắc và ở Tây Nguyên dành cho người dân tộc hiện nay, sau khi đã được loan báo Tin Mừng, dự tòng là người lớn và cả trẻ em có thể có nhiều năm liền để học Giáo Lý, trong khi bản thân họ vẫn mau mắn quay trở về loan báo Tin Mừng cho những người khác.

6. Dạy Giáo Lý không phải là dạy học như ở Phổ Thông:Việc dạy Giáo Lý, cho dẫu cũng dựa trên một số nguyên tắc sư phạm ( pédagogie ) và phương pháp giáo dục ( méthodologie ) chung, nhưng lại vượt xa việc dạy học ở trường Phổ Thông ở chỗ: Giáo Lý giúp các em gặp gỡ Lời Chúa, gặp gỡ chính Thiên Chúa, khơi gợi và tăng cường Đức Tin ở tận thâm sâu tâm hồn các em và chuyển thành sự sống tôn giáo thiêng liêng.

7. Dạy Giáo Lý cũng chẳng phải là sinh hoạt tập thể:Khi dạy Giáo Lý ở các độ tuổi thiếu nhi và thiếu niên, đương nhiên cần phải có những sinh hoạt vui chơi hát hò, nhưng đó chỉ là một phương cách phụ trợ để gây bầu khí sống động hấp dẫn, góp phần rèn luyện cũng như giáo dục nhân bản cho các em. Cái chính yếu của việc dạy Giáo Lý vẫn là nhắm đến việc đào tạo các Ki-tô hữu, những môn đệ của Đức Ki-tô.

II. ĐỊNH NGHĨA VIỆC DẠY GIÁO LÝ:Tắt một lời, việc dạy Giáo Lý chính là: trình bày Lời Chúa một cách đơn giản, cụ thể và sống động, để giúp các em có thể hiểu và sống Đức Tin. Chữ dạy ở đây, theo nguyên ngữ Hy-lạp, không phải là “didaskein” ( dạy các lý thuyết và kiến thức ), nhưng là “mateutein” ( đào tạo thành những môn đệ ). Từ rất sớm, người ta đã dùng thuật ngữ “Dạy Giáo Lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Giáo Hội nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp mọi người tin rằng Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, để rồi nhờ Đức Tin và nhờ việc dạy dỗ ấy, họ được sống nhân danh Đức Ki-tô ngay giữa lòng đời, góp phần xây dựng Thân Mình của Đức Ki-tô là Giáo Hội. Trong Tông Huấn Catechesi Tradendae ( CT ), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 đã ân cần dặn dò như sau:

Dạy Giáo Lý là một giai đoạn hay một khía cạnh của việc Tin Mừng hóa, do đó, nội dung của Giáo Lý không gì khác hơn nội dung của Tin Mừng hóa: cũng một sứ điệp Tin Mừng cứu độ đã được nghe hằng trăm lần, và được tiếp nhận với tất cả lòng quý mến, sẽ luôn được đào sâu nhờ suy tư và nghiên cứu có hệ thống trong Giáo Lý ( CT 26 ).

Dạy Giáo Lý bao giờ cũng lấy nội dung từ nguồn mạch sống động là Lời Chúa được lưu truyền qua Thánh Truyền và Thánh Kinh, vì Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành kho tàng thánh thiện duy nhất chứa đựng Lời Chúa và được giao phó cho Giáo Hội ( CT 27 ).

III. DẠY GIÁO LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ CỦA GIÁO HỘI:Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến riêng hoạt động mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội bên cạnh việc cử hành các Bí Tích, tổ chức và quản trị cộng đoàn, tổ chức đời sống và các việc bác ái.

Mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội gồm có:

§ Tiền Phúc Âm hóa ( Pré-Évangélisation ) § Phúc Âm hóa hay loan báo Tin Mừng ( Kérygme – Évangélisation ) § Dạy Giáo Lý ( Catéchèse ) § Giảng thuyết ( Homélie ) § Thần Học ( Didascalie )

Mục vụ Giáo Lý là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu được học Giáo Lý của mọi thành phần tín hữu, để đưa cả cộng đoàn lẫn bản thân người tín hữu tới chỗ trưởng thành trong Đức Tin. Đặc biệt đối với trẻ em, sứ mệnh cao cả mà Thiên Chúa và Giáo Hội đã ủy thác cho các Giáo Lý Viên chính là: làm cho Ngôi Lời được sinh ra và lớn lên trong các em.

Ngoài ra, Tông Huấn Catechesi Tradendae còn nhắc nhở:Bản chất của việc dạy Giáo Lý gắn liền với tất cả các hoạt động Phụng Vụ và các Bí Tích, vì chính các Bí Tích và nhất là Bí Tích Thánh Thể là nơi Đức Ki-tô hoạt động một cách sung mãn để biến đổi nhân loại. Việc dạy Giáo Lý sửa soạn cho việc lãnh nhận các Bí Tích ( CT 23 ). Việc dạy Giáo Lý là cần thiết, không những để làm cho Đức Tin của các Ki-tô hữu thêm chín chắn, mà còn để họ làm chứng trên toàn thế giới, sẵn sàng trả lời cho tất cả những ai chất vấn về niềm hy vọng của họ ( CT 25 ). Để được như thế, phải phân tích và đánh giá tình hình để tìm phương cách hoạt động hữu hiệu cho từng đối tượng. Việc giảng dạy Giáo Lý phải có đường hướng và nguyên tắc chỉ dẫn, có chương trình và kế hoạch, có tổ chức và phương pháp thích hợp, cũng như phải có những phương tiện cần thiết.

IV. VIỆC DẠY GIÁO LÝ CẦN ĐƯỢC CANH TÂN KHÔNG NGỪNG: Việc dạy Giáo Lý luôn luôn cần được canh tân cùng với từng biến chuyển lớn của thời đại và xã hội. Khi so sánh với Lời Chúa, Giáo Lý chỉ có giá trị tương đối. Lời Chúa mới có tính chất tuyệt đối. Do đó, Giáo Lý có thể và cần phải được thay đổi và cải tiến. Việc dạy Giáo Lý phải được canh tân không ngừng để Lời Chúa được diễn đạt đúng hơn, dõ hơn, sống động và hợp thời hơn. Chính Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 4 năm 1977 đã khẳng định trong Tông Huấn Catechesi Tradendae: Việc canh tân Giáo Lý là một ân huệ quý giá của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội ngày nay ( CT 3 ).

Việc dạy Giáo Lý cần được canh tân liên tục và quân bình về phương pháp, về việc tìm kiếm một ngôn ngữ thích hợp, về việc khai thác các phương tiện mới mẻ để truyền thông sứ điệp ( CT 17 ).

Giáo Hội phải tỏ ra khôn ngoan, can đảm và trung thành với Tin Mừng trong việc tìm kiếm và vận dụng các đường lối và bối cảnh mới mẻ cho việc dạy Giáo Lý ( CT 17 ). Việc dạy Giáo Lý hiện nay cần được canh tân vì 2 lý do:

§ Thế giới ngày nay biến chuyển không ngừng biến chuyển một cách sâu xa, khoa học kỹ thuật phát triển quá nhanh đưa tới tình trạng tục hóa, giải thiêng. Thời chiến tranh lạnh giữa các cường quốc đã chấm dứt. Mặt khác, nhân loại đặc biệt coi trọng các giá trị nhân văn và xã hội, đặt nặng tinh thần phục vụ hữu hiệu.

§ Trong khi đó, chính đời sống của Giáo Hội cũng có những đổi thay khi các giá trị cổ truyền bị lung lay, một đông tín hữu tỏ ra lãnh đạm với các sinh hoạt tôn giáo, thậm chí đánh mất Đức Tin. Ngược lại, Công Đồng Va-ti-ca-nô 2 được triệu tập, cùng với việc xuất hiện rất nhiều phong trào thiêng liêng hoạt động rất tích cực, đã khiến cho Giáo Hội mở ra cả một bình minh rực rỡ và lạc quan.V. KẾT LUẬN: Như vậy, mọi thành phần trong Giáo Hội cần phải đổi mới cách nhìn ( tư duy ), nhận thức việc dạy Giáo Lý là một nhiệm vụ ưu tiên và tối quan trọng của Giáo Hội, là nhiệm vụ của mọi Ki-tô hữu nhằm giáo dục Đức Tin và đào tạo nên những người Ki-tô hữu trưởng thành. Ngoài ra, còn phải đổi mới cả cách làm ( hành động ) trong việc soạn thảo những nội dung chương trình hợp lý và sâu sắc, chọn được những hình thức giảng dạy phong phú, đầu tư vật chất và nhân sự của Giáo Hội cho việc dạy Giáo Lý.

Riêng với các Giáo Lý Viên, trong tư cách là người đảm nhận việc dạy Giáo Lý, phải luôn chuyên cần học hỏi Lời Chúa, phải kết thân sâu xa với Đức Ki-tô, phải có tinh thần cầu nguyện, biết sẵn sàng từ bỏ chính mình trong công việc phục vụ.

Ta liệu SPGL của Lm. Nguyễn Văn Hiền ( Lm. Quang Uy biên tập.. http://www.trungtammucvudcct.com/

Nguyên Tắc Dạy Học Là Gì?

Giáo dục học chiếm một vị trí quan trọng trong giải quyết các vấn đề giáo dục, nhằm đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội ở mỗi quốc gia, do vậy mà các nguyên tắc dạy học đã ra đời phục vụ cho việc dạy và học giữa thầy cô và học sinh hơn.

1. Định nghĩa của nguyên tắc dạy học

Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo, nói khác theo cách khác thì Nguyên tắc là tư tưởng chỉ đạo quy tắc cơ bản,yêu cầu cơ bản đối với hoạt động và hành vì rút ra từ tính quy luật được khoa học thiết lập.

Cũng giống như nguyên tắc vậy, nguyên tắc dạy học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng mang một nội dung chính là muốn cho người học hiểu được bài. Chúng ta có thể xem qua 2 khái niệm dưới đây:

– Nguyên tắc dạy học là một hệ thống nhiều luận điểm, mỗi nguyên tắc nhấn mạnh một khía cạnh của quá trình dạy học, nói cách khác nguyên tắc dạy học là luận điểm cơ bản cần phải dựa vào khi giảng dạy những vấn đề khoa học

– Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, với nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học.

Nguyên tắc dạy học là phạm trù lịch sử, lịch sử phát triển nhà trường và lý luận nhà trường đã chỉ ra rằng mục đích giáo dục biến đổi dưới tác động của những yêu cầu của sự phát triển xã hội đã dẫn tới sự biến đổi các nguyên tắc dạy học, với lý luận dạy học phải nhạy bén nắm bắt sự biến đổi những yêu cầu của xã hội đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, phản ứng kịp thời trước những yêu cầu đó xây dựng hệ thống những nguyên tắc dạy học chỉ ra một cách đúng đắn phương hướng chung đi đến mục đích và đồng thời cũng cần bảo toàn và hoàn thiện những phương pháp dạy học trước đây mà chưa mất ý nghĩa trong hoàn cảnh mới của nhà trường.

2. Vai trò của nguyên tắc dạy học

Nguyên tắc dạy học đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy và học vì nó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của một trường học, một cơ sở giáo dục cụ thể nào đó mà thực chất là nó quyết định chất lượng ” sản phẩm” của nền giáo dục lấy các nguyên tắc dạy học đó làm nền tảng, vì lẽ đó mỗi giáo viên cần hiểu rõ và biết vận dụng hệ thống các nguyên tắc dạy học vi nó hâu như chi phối toàn bộ nội dung và hình thức dạy học.

3. Hệ thống các nguyên tắc dạy học

3.1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học

Nguyên tắc này chính là đảm bảo sự thống nhất giữa hai mặt phẩm chất và năng lực trong nhân cách học sinh.

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải vũ trang cho người học những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa học, công nghệ và văn hoá hiện đại, phải dần dần giúp học sinh tiếp cận với những phương pháp học tập, nhận thức, thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoa học, dạy học không chỉ làm phát triển lý trí của con người và cung cấp cho người học một khối lượng kiến thức nào đó mà phải làm cháy lên ở họ lòng khát khao học tập một cách nghiêm túc và thiếu điều đó thì cuộc sống không thể nào là một cuộc sống xứng đáng và hạnh phúc.

Cách thực hiện nguyên tắc này cần phải:

– Cần phải bổ xung cho người học những tri thức khoa học hiện đại nhằm giúp cho người học nắm được quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội nhờ khoa học, bên cạnh đó giúp học có cái nhìn tư duy, có cách nhìn và thái độ hành động đúng đắn đối với hiện thực hơn.

– Cung cấp cho người học hiểu biết sâu sắc về xã hội, con người , những truyền thống tốt đẹp của Việt Nam ta trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước qua hàng ngàn năm, từ đó giáo dục cho học sinh tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ công dân bảo vệ các truyền thống đó trước sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong học tập

– Bồi dưỡng cho học sinh các khả năng phân tích, tư duy phê phán một cách đúng nhất các thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng nó đúng hay sai và những vấn đề khác nữa.

– Vận dụng các phương pháp và hình thức dạy học theo hướng khoa học hóa giúp học sinh làm quen được với một số phương pháp nghiên cứu khoa học từ đó dần tiếp cận với hoạt động khoa học, rèn luyện những tác phong, phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.

3.2. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa “lý luận và thực tiễn”, “học đi đôi với hành” và “nhà trường gắn liền với đời sống, với nhiệm vụ phát triển đất nước”

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học nắm vững tri thức, nắm vững cơ sở khoa học, kỹ thuật, văn hoá thông qua đó mà giúp họ ý thức rõ tác dụng của tri thức lý thuyết đối với thực tiễn, hình thành cho họ những kỹ năng vận dụng chúng ở những mức độ khác nhau mà mức độ cao nhất là góp phần phát triển kinh tế- xã hội và văn hoá- khoa học của đất nước.

Bản thân nguyên tắc ” Lý luận và thực tiễn” đã phản ánh luôn nội dung “học đi đôi với hành”, như chúng ta đã biết khi đưa ra lý luận thì cần phải có những dẫn chứng thực tiễn để có thể phân tích được vấn đề cần phải lý luận đó, cũng giống như lúc chúng ta muốn bắn cái tên đến cái đích đã định sẵn, có tên rồi mà lại không bắn được, bắn lệch bắn ngang, việc này muốn nhắc nhở chúng ta cần phải cố gắng học, đồng thời phải thực hành kèm theo.

Bác Hồ đã nói, đã học là phải học phải toàn diện, không những phải có tri thức phổ thông mà còn phải có đạo đức cách mạng, còn với hành theo Bác là vận dụng những điều đã học vào việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đề ra, việc thực hành này không chỉ là những việc to lớn mà cả trong những việc bình thường, ai cũng làm, từ đó có thể nhận thấy nội dung khái niệm học và hành nó liên kết chặt chẽ với nhau, trong nội dung học có nội dung hành và ngược lại.

Để thực hiện nguyên tắc này cần phải:

– Về nội dung dạy học phải làm cho người học nắm vững lý thuyết, thấy rõ nguồn gốc của những giá trị và vai trò của kiến thức khoa học đối với thực tiễn, phải vạch ra phương hướng ứng dụng kiến thức khoa học vào hoàn cảnh cụ thể đất nước và phản ánh được tình hình thực tiễn vào nội dung dạy học.

– Về phương pháp dạy học cần phải giúp người học hiểu được vấn đề từ đó đặt ra những câu hỏi và giải quyết những vấn đề cần lý luận bên cạnh đó cần vận dụng những phương pháp như thí nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu các tài liệu thực tiễn để cho học sinh nắm nhanh và nắm chắc những tri thức lý thuyết và vận dụng những tri thức lý thuyết đó vào giải quyết những tình huống khác nhau.

– Về hình thức tổ chức dạy học thì cần kết hợp các hình thức tổ chức dạy học khác nhau như hình tham quan, thực hành ở phòng thí nghiệm, ở các trung tâm kỹ thuật tổng hợp cần thiết cho môn học

3.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi phải giúp người học lĩnh hội hay nói cách khác là nhận thức được trình tự hệ thống logic, phải cho người học biết hệ thống những kiến thức khoa học hiện đại. Trong lịch sử khoa học, sự nhận thức những vật thể và hiện tượng phức tạp hơn thường đi trước sự nhận thức những thành phần của nó, trong quá trình dạy học ở trường phổ thông khi muốn giới thiệu về tế bào của động, thực vật thì cần phải giới thiệu những thực vật, động vật trước hay việc trình bày các hợp chất trước tiên phải nghiên cứu các phân tử, nguyên tử,… Chính vì thế hệ thống hợp lý về mặt lý luận dạy học của những giáo trình phải được xây dựng trên sự nghiên cứu cẩn thận logic của khoa học và sự phát triển của những khái niệm, định luật trong lịch sử khoa học và trong ý thức của người học sinh.

Để thực hiện nguyên tắc dạy học này, về mặt nội dung dạy học cần:

– Xây dựng hệ thống dạy học cần phải phụ thuộc vào lý thuyết làm cơ sở cho việc giảng dạy, với tính tuần tự như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy lý luận cho học sinh.

3.4. Thống nhất vai trò chủ đạo của người dạy và vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo độc lập của học sinh trong dạy học

Trong dạy học, phải đảm bảo mối quan hệ thuận lợi nhất giữa sự chỉ đạo sư phạm của thầy giáo và lao động tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh

– Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học phải tự nhận thức đầy đủ mục đích của việc học này, nhiệm vụ của mình cần phải làm gì.

– Tính tích cực nhận thức ở đây được hiểu là người học có thái độ tích cực trọng việc học, có sự tương tác cao trong việc dạy và học của hai.

– Tính sáng tạo độc lập ở đây được hiểu là học sinh tự độc lập trong việc giải quyết các vấn đề, cần sáng tạo trong lúc cần thiết điều này cần phải linh động từ ý thức tới hành động .

Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:

– Hoạt động dạy học phải hướng vào người học sinh, phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho họ có thể học tập bằng chính hoạt động của mình.

– Giáo dục cho học sinh ý thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, nhiệm vụ học tập, từ đó có động cơ, thái độ học tập đúng đắn.

– Phát huy tư duy ngôn ngữ cho học sinh, khéo léo dẫn dắt học sinh vào các tình huống có vấn đề, giải các bài tập có tính độc lập.

– Bồi dưỡng cho các em năng lực tự học, tự nghiên cứu, óc hoài nghi khoa học…

– Trong giảng dạy, giáo viên phải thu được thông tin ngược chiều từ phía học sinh để điều chỉnh và hoàn thiện hơn công tác dạy và học.

3.5. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học cần cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với những sự vật hiện tượng hay các hình ảnh của chúng từ đó có thể tự đưa ra các khái niệm, quy luật trừu tượng theo cách suy nghĩ của mình. Và ngược lại, có thể cho học sinh nắm cái trừu tượng, khái quát rồi xem xét các sự vật, hiện tượng cụ thể, đảm bảo được mối liên hệ qua lại giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.

Để thực hiện nguyên tắc này cần:

– Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là phương tiện và các nguồn kiến thức trong khi giảng bài, khi tổ chức, điều khiển hoạt động lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, ôn tập và củng cố kiến thức

– Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan với lời nói, nghĩa là kết hợp hai hệ thống tín hiệu với nhau.

– Rèn luyện cho học sinh óc quan sát và năng lực rút ra những kết luận có tính khái quát.

– Tổ chức, điều khiển học sinh, trong những trường hợp nhất định, nắm những cái khái quát, trừu tượng như các khái niệm, những quy tắc, … rồi từ đó đi đến những cái cụ thể, riêng biệt như lấy ví dụ cụ thể minh họa, vận dụng quy tắc để giải các bài tập cụ thể ..

– Cho học sinh làm các bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập mối liên hệ giữa cụ thể hóa và trừu tượng hóa, giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng …

3.6. Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh

Trong quá trình dạy học, đòi hỏi học sinh phải nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo để khi cần, có thể nhớ, vận dụng được một các linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống nhận thức hay hoạt động thực tiễn khác nhau. Bên cạnh đó rèn luyện ở học sinh phẩm chất tư duy nói chung, phẩm chất mềm dẻo để vận dụng điều đã học vào tình huống quen thuộc và tình huống mới.

Tâm lý học đã khẳng định việc lĩnh hội nội dung dạy học và phát triển năng lực nhận thức là hai mặt của một quá trình, có liên hệ mật thiết với nhau, khi lĩnh hội những tri thức khoa học thì trí não đồng thời thực hiện những nhiệm vụ nhận thức khác nhau, và cùng với điều đó, năng lực nhận thức của học sinh được phát triển.

Biện pháp thực hiện

-Trong dạy học, cần làm nổi bật cái cơ bản của từng đề mục, từng chương để học sinh tập trung sức lực và trí tuệ vào đó, không bị phân tán vào tình huống không cơ bản.

-Trong dạy học, học sinh phải biết sử dụng phối hợp các loại ghi nhớ, ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định, ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa. Trong khi học bài, có những cái phải học thuộc lòng, có cái nhớ đại ý.

– Hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập khác.

– Hướng dẫn học sinh biết cách ôn tập

– Cần tổ chức quá trình dạy học như thế nào để một bộ phận đáng kể những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được củng cố tại tiết học muốn vậy, việc trình bày tài liệu học tập của giáo viên phải logic, rõ ràng, dễ hiểu, phải tác động mạnh về mặt cảm xúc.

3.7. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt và tính tập thể của việc dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, khi lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải không ngừng nâng cao mức độ khó khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách cần thiết, nói cách khác, dạy học vừa sức có nghĩa là trong dạy học phải tạo nên khó khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra phải tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất.

Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, mỗi độ tuổi gắn liền với sự trưởng thành của những cơ quan trong cơ thể và những chức năng của các cơ quan đó, cũng như với sự tích lũy những kinh nghiệm về mặt nhận thức và về mặt xã hội, với loại hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó, lứa tuổi thay đổi thì nhu cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức của trẻ cũng biến đổi.

Để đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều kiện tiến hành dạy và học với cả tập thể cần:

– Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học để thiết lập những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức của học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng học sinh.

– Phối hợp hình thức lên lớp, hình thức độc lập công tác của học sinh và hình thức học tập nhóm tại lớp, trước tập thể lớp, giáo viên đề ra nhiệm vụ chung và dưới sự chỉ đạo của giáo viên, từng cá nhân suy nghĩ cách giải quyết và trong thời gian đó, giáo viên giúp đỡ những học sinh yếu kém.

– Cách tiến hành dạy học như vậy không chỉ giáo dục tinh thần tập thể cho học sinh, mà từng học sinh giúp đỡ lẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên vừa sức mỗi người.

3.8. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và vừa sức riêng trong dạy học

Đảm bảo nguyên tắc này trong dạy học là phải vận dụng nội dung, phương pháp, hình thức dạy học nhằm thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của mọi thành viên trong lớp đồng thời phải quan tâm đến từng cá nhân người học, đảm bảo cho mọi người đều có thể phát triển ở mức tối đa so với khả năng của mình.

Biện pháp thực hiện

– Khi dạy học, cần nắm vững đặc điểm chung của cả lớp, đặc điểm riêng từng em về các mặt, nhất là về năng lực nhận thức và động cơ, thái độ học tập.

– Khi lên lớp, giáo viên phải thường xuyên nắm tình hình lĩnh hội của học sinh để có thể kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình cũng như của học sinh, nhất là học sinh yếu kém.

– Cần cá biệt hóa việc dạy học

– Đây là biện pháp cơ bản để giúp đỡ riêng từng loại đối tượng học sinh, thậm chí từng học sinh.

3.9. Nguyên tắc đảm bảo cảm xúc mang tính tích cực của dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải lôi cuốn hấp dẫn tạo hứng thú học hỏi cho người học, tác động mạnh mẽ lên cảm xúc của họ, bởi tình cảm có vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người, thôi thúc con người hành động, thậm chí đến mức xả thân mình cho sự nghiệp

Thực tiễn cũng chứng minh rằng nếu bạn yêu thích một công việc nào đó thì bạn sẽ dễ dàng hoàn thành nó, mặt khác nếu gặp khó khăn trong chính công việc bạn yêu thích bạn cũng sẽ biết cách giải quyết nó một cách triệt để nhất. Ngược lại, nếu bạn không yêu thích công việc đó thì không những không động viên được chính mình mà còn đè nén nó tạo ra cái cảm giác khó chịu trong lòng làm cho công việc có hiệu quả không được cao bởi vậy việc học tập của học sinh cũng giống như như vậy.

Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:

– Thực hiện mối liên hệ dạy học với cuộc sống, với thực tiễn xây dựng đất nước, với kinh nghiệm sống của bản thân học sinh, đó là phương tiện hình thành tình cảm nghĩa vụ và nâng cao hứng thú học tập.

– Trong nội dung và phương pháp học tập cần làm sao tăng cường hoạt động tích cực tìm tòi, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, phát hiện, điều đó sẽ tạo điều kiện cho học sinh hình thành tình cảm trí tuệ.

– Nên sử dụng các phương tiện nghệ thuật như văn học, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, kịch…trong quá trình dạy học, vì đó là những phương tiện tác động mạnh mẽ đến tình cảm của người học, đây là một phương pháp giúp cho người học thích thú hơn. Người dạy không cần phải lo cho học sinh thiếu tập trung vào công việc học tập nghiêm túc, vì khoa học và nghệ thuật nó gắn liền với nhau.

Khoa học và nghệ thuật đều cùng phản ánh hiện thực khách quan, nhưng phương tiện sử dụng của chúng khác nhau, khoa học phản ánh hiện thực bằng khái niệm, định luật, lý thuyết còn nghệ thuật bằng hình tượng, cả hai cách phản ánh đó không mâu thuẫn nhau mà còn bổ sung và làm phong phú cho nhau, tạo điều kiện hình thành và phối hợp tư duy logic với tư duy thẩm mỹ.

– Tính cảm xúc của quá trình dạy học còn phụ thuộc vào ngữ cảnh, vào hoạt động học tập, hoạt động tập thể của học sinh càng có nội dung, càng phong phú về hình thức thì càng kích thích nhu cầu hiểu biết, hứng thú với học tập, vì vậy cần chú ý tổ chức hoạt động tập thể của học sinh cần tổ chức dạy học như một hình thức tham quan học tập, hình thức ngoại khoá

– Nhân cách người giáo viên có vai trò rất lớn trong việc tác động về mặt cảm xúc đối với người học, ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc thể hiện thái độ của giáo viên đối với những sự vật, hiện tượng và tư tưởng được trình bày không chỉ giúp cho học sinh có tri thức về vấn đề nào đó mà còn kích thích hình thành tình cảm tương ứng.

3.10. Nguyên tắc chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học

Nguyên tắc này đòi hỏi phải hình thành cho người học có nhu cầu, năng lực, phẩm chất tự học để có thể chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học, nghĩa là người học có thể tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách khai thác bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt động của mình, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình.

Để thực hiện nguyên tắc này cần:

– Thông qua phương pháp giảng dạy của giáo viên mà thúc đẩy học sinh thực hiện có hệ thống công tác độc lập nhằm lĩnh hội những tri thức về khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật mà họ yêu thích.

– Trong quá trình dạy học cần chú ý hình thành cho học sinh những kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tự tổ chức, kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động tự học của chính mình, thông qua công tác độc lập làm cho học sinh cảm thấy rằng việc tự học không chỉ là công việc của bản thân từng người mà là sự quan tâm chung của cả tập thể lớp, của giáo viên và của tập thể sư phạm.

– Cần tận dụng những nội dung dạy học, những hoàn cảnh thuận lợi nêu những tấm gương tự học của những nhân vật trong lịch sử đất nước, trong trường, trong lớp để các em lấy đó làm gương mà học tập, noi theo.

– Cần phát động và tổ chức các giờ tự học trong lớp, trong trường cho học sinh.

4. Mối liên hệ giữa các nguyên tắc dạy học

Các nguyên tắc dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau, nội dung của từng nguyên tắc đan kết với nhau hỗ trợ nhau nhằm đảm bảo thực hiện quá trình dạy học đạt được hiệu quả, chẳng hạn khi thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học không thể không chú ý tới nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành; nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học; nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân trong điều kiện dạy học tập thể; nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học; nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học.

Nếu xét các nguyên tắc dạy học khác thì cũng như vậy, trong quá trình dạy học, với nội dung và những điều kiện dạy học nhất định, có thể coi trọng một nguyên tắc dạy học nào đó, điều đó không có nghĩa là coi nhẹ những nguyên tắc khác mà cần phải kết hợp các nguyên tắc thành một thể hoàn chỉnh thì mới đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học.

Ngành Ngôn Ngữ Hàn Quốc (Tiếng Hàn) Là Gì? Học Những Gì, Ra Trường Làm Gì?

Ngành Ngôn ngữ Hàn Quốc cũng được định hướng theo một số chuyên ngành khác nhau để phục vụ các lĩnh vực khác nhau của ngành nghề như:

Các môn học nền tảng của Ngôn ngữ Hàn Quốc như: Ngôn ngữ học tiếng Hàn; Đất nước học Hàn Quốc; Giao tiếp liên văn hóa; Ngữ dụng học tiếng Hàn; Ngôn ngữ học đối chiếu; Hình thái học tiếng Hàn; Hán tự tiếng Hàn; Ngôn ngữ học xã hội; Văn học Hàn Quốc; Văn hóa các nước Châu Á,…

– Ngôn ngữ Hàn Quốc chuyên ngành Tiếng Hàn Phiên dịch: Sinh viên được học các môn chuyên sâu như: Phiên dịch chuyên ngành; Biên dịch chuyên ngành; Kỹ năng nghiệp vụ biên phiên dịch; Dịch nâng cao; Phân tích đánh giá bản dịch; Dịch văn học; Dịch phim Hàn Quốc; Dịch văn bản tin tức báo chí; Tiếng Hàn kinh tế – thương mại; Tiếng Hàn tài chính – ngân hàng; Tiếng Hàn quản trị – kinh doanh; Tiếng Hàn Du lịch – khách sạn; Tiếng Hàn y học; Tiếng Hàn luật pháp; Tiếng Hàn hành chính – văn phòng; Tiếng Hàn văn hóa – nghệ thuật; Tiếng Hàn kiến trúc – xây dựng; Tiếng Hàn công nghệ thông tin,…

– Ngôn ngữ Hàn Quốc chuyên ngành Tiếng Hàn Quốc Du lịch: Sinh viên được học các môn học chuyên sâu lĩnh vực Du lịch như: Phiên dịch; Biên dịch; Tiếng Hàn Du lịch – khách sạn; Quản trị kinh doanh lữ hành; Quản trị kinh doanh khách sạn; Nhập môn khoa học du lịch; Địa lý văn hoá du lịch Hàn Quốc; Kinh tế du lịch Hàn Quốc; Tìm hiểu văn hoá truyền thống Hàn Quốc; Lịch sử Hàn Quốc; Văn hoá kinh doanh Hàn Quốc; Nghiệp vụ lữ hành; Giao tiếp lễ tân,…

– Ngôn ngữ Hàn Quốc chuyên ngành Hàn Quốc học: Sinh viên được học các môn chuyên sâu như: Lịch sử Hàn Quốc; Nhập môn xã hội Hàn Quốc; Kinh tế – Chính trị Hàn Quốc; Hàn Quốc học; Tìm hiểu văn hoá truyền thống Hàn Quốc; Văn hoá Hàn Quốc và Hanlyu (làn sóng Hàn Quốc); Văn hoá giao tiếp Hàn – Việt; Văn hoá kinh doanh Hàn Quốc; Văn học Hàn Quốc; Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên;…

Học ngành Ngôn ngữ Hàn Quốc ra trường làm gì?

Sau khi tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Hàn Quốc, các cử nhân Tiếng Hàn có thể đảm nhận vị trí công việc tại:

– Các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện, văn phòng thương mại, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ của Hàn Quốc;

– Các tổ chức hữu nghị và các cơ quan thông tấn, báo chí; trường học, trung tâm ngoại ngữ, viện nghiên cứu; khu du lịch, nhà hàng, khách sạn, bảo tàng;

– Chuyên viên marketing, tổ chức sự kiện, giao dịch thương mại văn phòng trong các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng tiếng Hàn.

– Cán bộ ngoại giao; nhân viên văn phòng; giám đốc; thư ký; trợ lý giám đốc; chuyên viên dịch thuật; hướng dẫn viên du lịch; giáo viên dạy tiếng Hàn.

Học ngành Ngôn ngữ Hàn Quốc ở đâu, trường nào?

Đại học Ngoại ngữ – ĐH Quốc gia Hà Nội

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

Đại học Sư phạm TP.HCM

Đại học Ngoại ngữ – ĐH Huế

Đại học Ngoại ngữ – ĐH Đà Nẵng

​Mục Đích Của Bạn Khi Học Tiếng Hàn Là Gì?

Cũng khó trả lời, trong cuộc sống hiện tại, việc nào cũng vậy, không phải bất cứ lúc nào cũng tốt và lúc nào cũng xấu, không phải việc gì tốt với mọi người là lại tốt với chính bản thân mình. Với xu hướng toàn cầu hóa, thì việc thay đổi có thể chỉ trong vòng từ 12h-24h thì việc học cái gì, chuẩn bị cái gì cho tương lai, nhiều khi chỉ là một phán đoán tức thời nhất là đối với việc học tiếng Hàn.

Mục đích học tiếng Hàn là để làm gì? Chỉ để cho biết, để thỏa mãn sở thích hay để phục vụ cho công việc.

Bạn nên đặt mục tiêu cho bản thân mình để việc học tiếng Hàn trở nên hứng thú hơn

I. Nếu học tiếng Hàn để phục vụ cho công việc

Học tiếng Hàn mang lại cho bạn việc gì? kết quả gì? Rõ ràng rất nhiều người đã không tính đến hiệu quả khi học tiếng Anh, bỏ ra rất nhiều tiền bạc, công sức, nhưng vẫn không thể sử dụng thành thạo được.

Nếu lấy tiêu chí học để xin việc, để kiếm tiền, để hỗ trợ cho việc làm ăn thì tiếng Hàn ở thời điểm hiện tại là rất tốt. Xin việc, du học, lao động đều dễ dàng và tốt hơn rất nhiều so với những ngôn ngữ khác khi hiện tại có tới 3000 công ty Hàn Quốc đang đầu tư ở Việt Nam.

Các tập đoàn lớn của Hàn Quốc cũng đang xem Việt Nam như một thị trường tiềm năng khi có rất nhiều công ty thành lập chi nhánh tại Việt Nam, điển hình như Lotte, tập đoàn CJ,… Và khi các tập đoàn lớn đi vào Việt Nam thì các doanh nghiệp nhỏ sẽ kéo theo ồ ạt. Các doanh nghiệp lớn Hàn Quốc đang có xu thế rút từ TQ về Việt Nam nhiều hơn trong 3 năm trở lại nay.

3/ Nguồn cung về nguồn nhân lực biết tiếng Hàn này hiện nay?

Về nguồn nhân lực tiếng Anh thì cầu lớn và nguồn cung cũng rất lớn, nhân lực tiếng Hàn cũng vậy có một nguồn nhu cầu rất lớn, tuy nhiên nguồn cung thì lại không thể đáp ứng được dẫn đến thiếu trầm trọng nhân lực tiếng Hàn. Phiên dịch tiếng Hàn cũng thiếu khá nhiều, với những doanh nghiệp Hàn Quốc mở ra ở những vùng quê thì tuyển mãi không thể ra. Điển hình như khu vườn ươm công nghệ Việt-Hàn ở Cần Thơ cần tuyển phiên dịch và sẵn sàng trả mức lương 800 USD/ tháng cũng không thể tìm ra người. Một vài nhu cầu nhân lực chuyên môn biết tiếng Hàn như kế toán, hướng dẫn viên, kỹ sư biết tiếng Hàn hiện tại ít đến khó tìm nếu không muốn nói là không có.

Người Hàn Quốc rất ít sử dụng tiếng Anh khi giao tiếp (thậm chí kém tiếng Anh), họ còn không kiên trì học tiếng Việt, không chịu thích ứng lắm với văn hóa bản địa. Vì thế muốn làm ăn với người Hàn thì tối thiểu cần phải biết một ít tiếng Hàn giao tiếp.

5/ Tiếng Hàn dễ học hơn một số tiếng (tiếng Nhật, tiếng Trung,…):

7/ Xét cho cùng, ngoại ngữ bây giờ là tất yếu, bắt buộc phải học, cũng chỉ là công cụ bổ sung (nhưng cần thiết ).

8/ Người Hàn Quốc cũng có nhiều cái rất đáng học hỏi như cần cù, cầu tiến, hiệu quả, tiết kiệm.

Vào làm việc tại môi trường Hàn Quốc cũng là một quá trình rèn luyện gian nan về tác phong làm việc. Biết tiếng Hàn là một yêu cầu tiên quyết và cũng là một trong những yêu cầu cần thiết để có thể học hỏi những điều hay, cái đẹp, cái tiến bộ trong bản tính của người Hàn Quốc.

9/ Nếu học tiếng Hàn:

II. Nếu học tiếng Hàn chỉ phục vụ cho sở thích tạm thời thì không nên học:

Tags: học tiếng hàn cơ bản tại nhà, học tiếng hàn nhập môn, học tiếng hàn miễn phí, học tiếng hàn online miễn phí, hoc tieng han, dang ky hoc tieng han, hoc tieng han mang lai viec gi, vì sao chúng ta nên học tiếng Hàn