Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ

Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc

Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức

Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi

Là Phó Ban Dân vận Huyện uỷ Hoành Bồ, chị Phạm Thị Thu Hằng thường xuyên đi cơ sở tiếp xúc với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và bà con nhân dân ở các xã, trong đó có nhiều xã vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn. Chị cho biết: “Tiếng Dao giúp ích rất nhiều cho công việc của tôi. Nhờ học qua lớp này, khi đi cơ sở, tôi tiếp xúc với đồng bào dân tộc dễ hơn rất nhiều, nhất là bà con ở những khu vực xa xôi, hẻo lánh, ít có điều kiện đi lại, giao tiếp. Tuy chưa thể sử dụng để nói chuyện lưu loát với bà con, song nghe họ trò chuyện, tôi có thể hiểu họ trao đổi những gì thay vì cứ phải nhờ người phiên dịch như trước đây”.

Không chỉ có chị Hằng mà hầu hết cán bộ công chức của huyện Hoành Bồ đều khẳng định sự hữu ích khi được học tiếng Dao. Hoành Bồ có 12 xã, thị trấn, trong đó nhiều xã đồng bào dân tộc Dao chiếm đa số, như: Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Bằng Cả, Hoà Bình, Đồng Lâm, Tân Dân. Xuất phát từ đặc thù này, để giúp cán bộ công chức của huyện tiếp xúc với bà con thuận lợi hơn, huyện Hoành Bồ đã đề xuất Sở Nội vụ phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban Dân tộc tỉnh mở lớp dạy tiếng Dao trên địa bàn.

Khoá tiếng Dao đầu tiên được mở vào cuối năm 2009, đầu năm 2010 với 29 học viên. Khoá thứ hai tổ chức vào năm 2011 với 61 học viên. Họ là cán bộ, công chức, viên chức khối Đảng, đoàn thể và khối phòng, ban chuyên môn của UBND huyện và các đơn vị cộng quản trên địa bàn huyện. Ngay cả bí thư huyện uỷ, phó bí thư huyện uỷ, chủ tịch UBND huyện… cũng tham gia. Giáo viên giảng dạy ở các lớp này là cô giáo người dân tộc Dao sinh sống trên địa bàn huyện. Anh Nguyễn Hoàng Quý, Trưởng phòng Nội vụ của huyện cho biết: “Thuận lợi ở chỗ, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của huyện thường xuyên đi tiếp xúc, trao đổi với bà con đồng bào nên khi tham gia lớp học, họ tiếp thu tiếng Dao nhanh”.

Nhờ được học qua lớp tiếng Dao, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của huyện Hoành Bồ đến cơ sở thuận lợi hơn, gắn bó với bà con đồng bào dân tộc hơn. Thông qua đó, công tác nắm bắt tư tưởng của bà con cũng dễ dàng; việc vận động người dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng thuận hơn. Khi cán bộ xuống các xã vùng đồng bào dân tộc Dao sinh sống, nếu sử dụng tiếng Dao để tiếp xúc, hướng dẫn… bà con cảm thấy gần gũi, cởi mở hơn, tiếp thu hướng dẫn tốt hơn.

Nhận thức rõ ý nghĩa của chương trình dạy tiếng Dao, trong năm 2013 này, huyện Hoành Bồ tiếp tục mở thêm 1 lớp tiếng Dao nữa. Theo anh Nguyễn Hoàng Quý, Trưởng phòng Nội vụ của huyện Hoành Bồ: “Lớp học này, chúng tôi sẽ tập trung dạy tiếng Dao cho giáo viên đang giảng dạy ở các xã nơi đông người Dao sinh sống. Hy vọng sau lớp học, các thầy, cô sẽ giúp học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện tiếp thu kiến thức được nhanh hơn, sâu hơn, hiểu được nhu cầu của học sinh nơi này hơn. Đồng thời, việc vận động các gia đình vùng đồng bào dân tộc cho con em đến trường học cũng rất thuận lợi…”.

Với huyện có nhiều người dân tộc Dao sinh sống như Hoành Bồ, việc mở các lớp học tiếng Dao có ý nghĩa rất lớn. Nó góp phần giúp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của huyện ngày càng chuẩn hoá hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn; từ đó thúc đẩy kinh tế – xã hội của huyện ngày càng phát triển bền vững.

Thu Nguyệt

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên

Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh

Dạy Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Cho Trẻ Em (Con Vật, Trái Cây)

Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức

Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi

Dạy Tiếng Thái Cho Học Sinh… Dân Tộc Thái

Tài Liệu Học Tiếng Dân Tộc Thái

Tại Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Ba Chẽ, Sở Nội vụ phối hợp với Sở Giáo dục – Đào tạo và Ban Dân tộc tỉnh vừa khai giảng lớp đào tạo tiếng Dao Thanh Phán khoá I-2009 cho gần 40 đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức của 3 huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà. Đây là lớp học tiếng dân tộc Dao đầu tiên trên địa bàn tỉnh có sự phối hợp từ các ngành chức năng của tỉnh. Tại lớp học này, các học viên được tiếp cận và nghiên cứu sâu về tiếng dân tộc thiểu số nói chung và tiếng Dao Thanh Phán nói riêng, phục vụ cho công tác chuyên môn và việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và vận động quần chúng ở các vùng đồng bào dân tộc.

Chủ trương đẩy mạnh và tăng cường phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Bởi vậy nhiều năm qua, cơ sở vật chất, mức sống của người dân ở các vùng này đã được cải thiện, nâng lên đáng kể. Người dân phấn khởi, tin tưởng vào các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì cuộc sống của người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn so với các vùng thuận lợi. Nhiều nơi cơ sở hạ tầng còn thiếu, chất lượng chưa cao, thiếu đồng bộ; tốc độ phát triển kinh tế – xã hội còn chậm; các hủ tục lạc hậu chưa được loại bỏ triệt để. Đặc biệt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng ở những nơi này còn gặp những khó khăn trở ngại mà một trong những rào cản chủ yếu là do bất đồng về ngôn ngữ. Đặc điểm chung ở các vùng dân tộc thiểu số là trình độ người dân còn hạn chế, thậm chí có nhiều người chưa biết tiếng phổ thông nên việc tiếp cận của cán bộ, đảng viên gặp nhiều trở ngại.

ý thức được tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng, trong đó cán bộ vận động phải am hiểu tiếng nói và các phong tục tập quán của người dân nên trong những năm gần đây việc dạy và trang bị tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, viên chức công tác ở các địa bàn dân tộc đã được quan tâm, nhất là trong các đơn vị lực lượng vũ trang đứng chân ở các địa bàn biên giới. Qua đó hiệu quả công tác vận động quần chúng đã được tăng lên rõ rệt. Mối quan hệ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa cán bộ và người dân đã khăng khít hơn. Vì vậy việc mở các lớp học tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, viên chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số là hết sức cần thiết, cần được nhân rộng…

Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc

Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên

Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên

Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi

Dạy Tiếng Thái Cho Học Sinh… Dân Tộc Thái

Tài Liệu Học Tiếng Dân Tộc Thái

Chuyện Về Người Cán Bộ Tâm Huyết Truyền Dạy Ngôn Ngữ Và Chữ Viết Tiếng Thái

Thanh Hóa là tỉnh có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó người Dao là một trong 3 dân tộc có chữ viết. Trên thực tế, đồng bào Dao ở Thanh Hóa đang ngày càng ít biết về chữ viết của dân tộc mình.

Trăn trở gìn giữ chữ Nôm Dao

Lớn lên, ông Phùng Quang Du đã trải qua nhiều vị trí công tác như: Chủ nhiệm Hợp tác xã, cán bộ địa chính xã, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, Bí thư Chi bộ thôn Hạ Sơn (xã Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc…). Dù trên cương vị công tác nào, ông Du luôn dành rất nhiều thời gian và công sức để thu thập những tư liệu về các lễ hội cổ truyền, các tác phẩm văn học cổ, các bản chữ cổ, những phong tục, tập quán, lễ nghi của dân tộc Dao đã và đang dần mai một theo thời gian.

Hiện ông Phùng Quang Du đang lưu giữ hàng trăm loại sách, tư liệu quý bằng chữ Dao có tuổi đời hàng chục, hàng trăm năm, trong đó có khá nhiều sách cổ từ thời ông nội của ông để lại. Tủ sách của ông có nhiều tư liệu lịch sử rất quý được viết bằng chữ Dao như: “Hiền văn”, “Nghìn tự văn”, “Vạn niên”, “Đại sư ca” (dùng trong Tết nhảy của người Dao), “Lục hạt” (Xem ngày tháng của người Dao cổ)…

Theo ông Phùng Quang Du, người Dao có tiếng nói và chữ viết riêng, là điều mà nhiều dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam không có. Vì thế, ông luôn trăn trở và mong mỏi người dân tộc Dao đều phải biết nói tiếng Dao, biết đọc, biết viết chữ Dao, để hiểu được nguồn gốc của dân tộc mình. Khi Nhà nước và tỉnh Thanh Hóa có chủ trương bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số, năm 2013, dưới sự giúp đỡ của Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa, Hội Dân tộc học và Nhân học Thanh Hóa, tại bản người Dao Hạ Sơn (thôn Hạ Sơn, xã Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc), ông Phùng Quang Du đã cùng một số người biết chữ Nôm Dao ở Thanh Hóa họp bàn về việc bảo tồn tiếng nói và chữ viết của người Dao.

Năm 2022, ông Phùng Quang Du được tham dự lớp học nâng cao trình độ chữ Nôm Dao do Hội Dân tộc học và Nhân học tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Trường Đại học Hồng Đức tổ chức, để tạo tiền đề cho việc thực hiện đề án dạy tiếng Nôm Dao trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Sau khóa học này, ông Phùng Quang Du cùng 43 nghệ nhân dân tộc Dao khác được cấp chứng chỉ dạy chữ Nôm Dao.

Ông Phùng Quang Du cho biết, bộ chữ Nôm Dao Thanh Hóa hiện có 9 quyển với khoảng 1.400 chữ, bộ sách giới thiệu những nét khái quát nhất về chữ Nôm Dao, đồng thời hướng dẫn cách viết, cách đọc bộ chữ Nôm Dao. Đây là những cuốn sách giáo dục con người về đạo đức, nhân nghĩa, cách đối nhân xử thế, cách làm ăn cũng như cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, giúp bà con dân tộc Dao cùng đoàn kết, gắn bó, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc và cuộc sống…

Học chữ Dao để giữ văn hóa dân tộc

Hiện nay, dù đã ngoài 70 tuổi, ông Phùng Quang Du vẫn tham gia giảng dạy chữ Nôm Dao cho bà con dân tộc mình. Ông còn phối hợp với Trường Đại học Hồng Đức, Hội Dân tộc học và Nhân học tỉnh Thanh Hóa dạy chữ Nôm Dao cho cán bộ, chiến sỹ các lực lượng vũ trang công tác ở các huyện, các xã miền núi, vùng cao biên giới. Trong thời gian 3 tháng, ông Du cùng các giảng viên và nghệ nhân người dân tộc Dao trực tiếp giảng dạy, giúp các học viên có thể đọc thông, viết thạo Bộ chữ Nôm Dao Thanh Hóa.

Anh Triệu Văn Hùng, ở khu phố Hạ Sơn, thị trấn Ngọc Lặc cho biết: “Tôi là người Dao, nhưng chưa biết viết, đọc chữ Dao. Tôi theo học với mong muốn mình hiểu thêm về nguồn gốc dân tộc, học hỏi cách thực hiện các lễ nghi để sau này có thể tự phục vụ công việc của gia đình, đồng thời góp phần giữ gìn văn hóa dân tộc Dao. Nhờ sự truyền dạy của các thầy, đến nay, tôi đã có thể đọc và viết được chữ Nôm Dao.”

Bà Triệu Thị Ngọc, bản người Dao Hạ Sơn (thị trấn Ngọc Lặc) cho biết: “Thầy Phùng Quang Du dạy chữ và kêu gọi mọi người đi học để hiểu hơn về chữ viết truyền thống của dân tộc mình, bà con trong bản ai cũng phấn khởi. Ban ngày đi làm rất mệt, tối về lại đi học chữ, rất vất vả nhưng ai cũng cố gắng. Trước đây, tôi chỉ biết nói chứ không biết đọc, biết viết tiếng Dao. Nay tôi đã được học chữ Dao để sau này biết chữ về dạy lại cho con, cho cháu”.

Ông Trần Văn Thịnh, Chủ tịch Hội Dân tộc học và Nhân học tỉnh Thanh Hóa khẳng định: “Ông Phùng Quang Du vừa là thầy giáo dạy chữ Nôm Dao, vừa là Chi hội trưởng Chi hội Dân tộc và Nhân học huyện Ngọc Lặc (thuộc Hội Dân tộc học và Nhân học Thanh Hóa). Ông Du là người có uy tín trong cộng đồng người Dao Ngọc Lặc và có đóng góp rất quan trọng trong việc bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Dao. Việc tổ chức lớp học chữ Nôm Dao ở Thanh Hóa thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, của tỉnh đối với đồng bào dân tộc Dao. Từ những lớp học này, chúng tôi mong muốn những tri thức, bản sắc giá trị văn hóa của cha ông sẽ được tiếp thu, lưu giữ, bảo tồn và ngày càng phát triển mạnh mẽ”.

Được biết, trong năm 2022, Chi hội Dân tộc và Nhân học huyện Ngọc Lặc đang tiếp tục triển khai kế hoạch biên soạn tập Từ điển tiếng Dao, sưu tầm biên soạn bộ tài liệu dạy tiếng Dao, mở lớp học dạy tiếng Dao cho cán bộ, công chức cấp xã trở lên và những người có nhu cầu học chữ Nôm Dao.

Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức

Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc

Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên

Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Hải Sơn

Đề Án Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Mường Giai Đoạn 2022

Không Đơn Giản Là Người Biết Nhiều Dạy Người Biết Ít!

Trường Đại Học Khoa Học

Trẻ Em Nên Bắt Đầu Học Tiếng Đức Từ Độ Tuổi Nào?

Một Số Câu Giao Tiếp Cơ Bản Trong Tiếng Hàn Quốc

Chiều ngày 12/11, Thành Đoàn Móng Cái tiếp tục tổ chức khai giảng lớp dạy tiếng dân tộc Dao miễn phí cho hơn 30 học viên là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đang công tác trên địa bàn xã Hải Sơn. Đây là hoạt động nằm trong chương trình phối hợp giữa UBND thành phố với Khối MTTQ và các Đoàn thể CT-XH năm 2022.

Quang cảnh lễ khai giảng lớp học

Đông đảo đại biểu đến dự

Trong thời gian 1 tháng, các học viên sẽ được giáo viên là người dân tộc Dao phụ trách giảng dạy, bồi dưỡng ngôn ngữ. Sau khóa học, các học viên có thể sử dụng tiếng Dao trong công việc và giao tiếp hàng ngày với đồng bào thiểu số.

Đồng chí Trần Ngọc Trung, Bí thư Thành đoàn Móng Cái phát biểu 

Cũng như xã Bắc Sơn, hiện nay người dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn Hải Sơn chiếm tỉ lệ cao. Do vậy, việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ, giáo viên tại các xã miền núi có ý nghĩa thiết thực. Qua đó nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tại các địa phương vùng cao, tiếp cận gần hơn với bản sắc văn hóa miền núi, phong tục tập quán của người dân. Đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc vùng miền, phát huy những nét đẹp, tinh hoa ngôn ngữ dân tộc Việt Nam; đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cùng ngày, Thành đoàn Móng Cái tổ chức kiện toàn chức danh Bí thư và Phó Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hải Sơn.

Kiện toàn chức danh Bí thư, Phó Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hải Sơn

Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Bắc Sơn

Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Học Sinh Người Dân Tộc

Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Campuchia Uy Tín, Chất Lượng

Tuyển Dụng Giáo Viên Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm Tại Hà Nội

Job Type: Bán Thời Gian

Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Bắc Sơn

Khai Giảng Lớp Dạy Tiếng Dân Tộc Dao Tại Xã Hải Sơn

Đề Án Dạy Và Học Tiếng Dân Tộc Mường Giai Đoạn 2022

Không Đơn Giản Là Người Biết Nhiều Dạy Người Biết Ít!

Trường Đại Học Khoa Học

Trẻ Em Nên Bắt Đầu Học Tiếng Đức Từ Độ Tuổi Nào?

Chiều ngày 6/11, Thành Đoàn Móng Cái tổ chức khai giảng lớp dạy tiếng dân tộc Dao miễn phí cho hơn 30 học viên là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đang công tác trên địa bàn xã Bắc Sơn. Đây là hoạt động nằm trong chương trình phối hợp giữa UBND thành phố với Khối MTTQ và các Đoàn thể CT-XH năm 2022.

Quang cảnh lễ khai giảng

Đại biểu dự lễ khai giảng

Trong thời gian 01 tháng, các học viên sẽ được giáo viên trường Tiểu học và Trung học cơ sở Bắc Sơn là người dân tộc Dao phụ trách giảng dạy, bồi dưỡng. Sau khóa học, các học viên có thể sử dụng tiếng Dao trong công việc và giao tiếp hàng ngày với đồng bào thiểu số.

Bí thư Thành đoàn Móng Cái phát biểu

Lãnh đạo đại diện Đảng ủy xã Bắc Sơn phát biểu

Hiện nay, xã Bắc Sơn có trên 86% dân cư sinh sống là người dân tộc Dao và Sán Chỉ. Do đó, đa số các cán bộ, công chức, viên chức đến làm việc gặp không ít khó khăn trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân. Vì vậy, việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ, giáo viên tại các xã miền núi có ý nghĩa thiết thực. Qua đó nâng cao hiệu quả công tác dân vận tại các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tiếp cận gần hơn với bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người dân miền núi. Đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc vùng miền, phát huy những nét đẹp, tinh hoa ngôn ngữ dân tộc Việt Nam; đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời theo tấm gương đạo đức chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thời gian tới, Thành Đoàn Móng Cái tiếp tục tổ chức khai giảng lớp dạy tiếng Dao miễn phí tại xã Hải Sơn với trên 30 học viên đăng ký.

Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Học Sinh Người Dân Tộc

Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Campuchia Uy Tín, Chất Lượng

Tuyển Dụng Giáo Viên Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Người Đi Làm Tại Hà Nội

Job Type: Bán Thời Gian

Kết Quả Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh Phổ Thông Trên Địa Bàn Tỉnh Kon Tum

Dân Tộc Dao Ở Việt Nam

Người Thiểu Số Còn Ai Nói Tiếng Dân Tộc Mình?

Khi Giáo Viên Được Học Tiếng Dân Tộc

Dân Tộc Tiếng Anh Là Gì?

Dân Tộc Kinh Tiếng Anh Là Gì?

Thuyết Minh Về Bảo Tàng Dân Tộc Học Bằng Tiếng Anh

(VOV5) – Người Dao còn cócác tên gọi khác: Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền…. là một dân tộc có số dân đứng hàng thứ 9 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, với gần 1 triệu người. Người Dao cư trú tại các bản làng miền rừng núi trải rộng từ phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang,…đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình.

Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào sinh sống ở khu vực Tây Nguyên… Người Dao có nhiều nhóm khác nhau phân biệt theo vùng. Tên gọi các nhóm Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phong tục, tập quán mà còn dựa trên trang phục và những đặc điểm truyền thống bên ngoài, như Dao Đỏ (Dao Sừng, Dao Đại Bản…); Dao Quần Chạt (Dao Sơn đầu, Tam Đảo, Nga Hoàng…); Dao Lo Ga (Thanh Phán, Cóc Mun); Dao Tiền ( Dao deo tiền, tiểu bản); Dao Quần trắng (Dao Họ); Dao Thanh Y; Dao Làn Tẻn (ở Tuyên Quang mặc Áo Dài). Người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ. Trang phục của người phụ nữ Dao thường là áo, yếm, chân quấn xà cạp, cùng các đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu… Trang phục của nam giới, thường là chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực. Tiến sỹ Võ mai Phương, Viện bảo tàng Dân tộc Việt Nam, cho biết: Nhóm Dao Đỏ khi nhìn vào bộ quần áo trang phục là có thể nhận thấy ngay vì màu sắc nổi bật là màu đỏ. Màu đỏ chiếm hầu hết trăng phục của họ. từ áo quần váy đến khắn, thắt lưng trên trng phục nữ thì màu đỏ chiếm màu chủ đạo. Vậy khi nhìn Dao Đỏ là có thể nhìn nhận qua trang phục. Hay như Dao Tiền thì là nhóm Dao duy nhất mặc váy trong 7 nhóm Dao. Những nhóm khác thường mặc quần áo. Trên trang phục nữ nười Dao tiền thì in sáp ong. Khi in trên váy hiển thị rõ nhất là hoa văn đồng tiền. Nhóm Dao quần chạt (Sơn Đầu) ở có đặc điểm riêng biệt đó là đầu người phụ nữ cạo trọc và sơn đầu và họ dùng những khăn truyền thống. Hay như nhóm Dao quần Trắng, nhóm dân tộc Dao này chỉ sử dụng quần màu trắng trong trang phục của họ.

Đám cưới của người Dao

Người Dao là một trong những dân tộc cho đến bây giờ vẫn duy trì được bản sắc truyền thống đậm nét, không chỉ thể hiện qua trang phục, mà còn thể hiện qua tiếng nói. Dân tộc Dao được chia nhiều nhóm người khác nhau nhưng ngôn ngữ của họ là thống nhất cho thấy rõ mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau. Người Dao sinh sống ở nhiều vùng, miền nhưng sinh hoạt cộng đồng vẫn mang tính chất khép kín, thể hiện qua phong tục tập quán, qua hôn nhân. Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, người Dao chỉ mong là gả trong cộng đồng. Đấy là một trong những đặc điểm để người Dao giữ gìn ngôn ngữ và phong tục tập quán của mình. Cùng với đó, văn hóa tâm linh là yếu tố vô cùng quan trong trong đời sống người Dao, thể hiện đặc biệt qua nghi lễ cúng bái. Tiến sỹ Mai Phương cho biết: Việc truyền nghề thày cúng rất quan trọng trong đời sống người Dao. Khi đã truyền nghề thày cúng thì bắt buộc phải biết viết, biết đọc chữ nôm Dao. Việc học chữ Nôm Dao cũng chính là hình thức truyền nghề cho con cháu mà còn là duy trì chữ viết và tiếng nói của họ rất rõ. Hàng năm người Dao có nhiều lễ hội, thường những lễ hội này. Trong lễ hội, người Dao hát đối đáp bằng tiếng Dao nên đây cũng là nét truyền thống để họ duy trì và bảo tồn được ngôn ngữ một cách tốt nhất.

Người Dao học chữ Nôm Dao

Để duy trì được tiếng Dao trong cộng đồng dân tộc người Dao, những người già trong bản làng thường dạy con cháu viết và đọc từ những cuốn sách cổ chữ Dao. Những cuốn sách cổ này hầu như gia đình nhà người Dao nào cũng có. Nhóm Dao Họ là nhóm Dao sống gần miền xuôi và tiếp cận thường xuyên với người Kinh hoặc các nhóm người dân tộc khác. Bản thân những nhóm người Dao họ cũng có thể nói và hiểu được ngôn ngữ của những nhóm dân tộc khác, tuy nhiên, bằng nhiều cách trong cuộc sống, nhóm Dao Họ vẫn duy trì và bảo tồn được ngôn ngữ tiếng Dao của dân tộc mình. Bác Bàn Văn Sang, nhóm Dao Họ, xã Sơn Hà, thôn Khế Mụ, xã Sơn hà, huyện Bảo Thắng, Lào Cai cho biết: Con cháu trong họ chỉ lấy người dân tộc Dao. Dù ra ngoài nhiều nói tiếng kinh rất rõ nhưng về nhà cả gia đình lại chỉ giao tiếp với nhau bằng 1 ngôn ngữ tiếng Dao. Trong làng cứ những ai biết nhiều chữ Dao sẽ được người trẻ tìm đến tập trung học. Nhiều người rất thích học vì chúng tôi đều có các loại sách và đều được giữ cẩn thận trong nhà. Nhà nào cũng có sách nên nếu nhà này có mất thì đã có nhà kia. Nhất là những nhà đi cúng thì đều có sách và sách nhiều. Sách truyện, sách đám cưới, sách cúng đều có. Trong gia đình tôi ai cũng đều biết chữ Dao. Cứ đến dịp tết và ngày lễ của người Dao chúng tôi lại cùng con cháu quây quần ngồi đọc sách chữ Dao. Nên trong nhà tôi không chỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng Dao mà ai cũng biết đọc, biết viết chữ Dao.

Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, nhiều tục lệ của các dân tộc ít người có phần bị ảnh hưởng, nhưng dân tộc Dao vẫn giữ được nền văn hóa rất phong phú và đậm đà bản sắc của đời sống. Chính những nét văn hóa đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam./.

Đôi Chân Diệu Kỳ Của Cô Học Trò Người Dân Tộc Sán Dìu

Người Lưu Giữ Chữ Thái Bằng Công Nghệ Thông Tin

Cách Học Tiếng Thái Hiệu Quả Và Nhanh Chóng

Gdth Tổ Chức Dạy Học Thực Nghiệm Tiếng Dân Tộc Thái Lớp 1 Tại Trường Th&thcs Xã Sam Mứn

Bàn Về Việc Học Tiếng Thái

Tài Liệu Dân Tộc Dao (Phần 1)

3 Dấu Hiệu Lừa Tiền Của Các Trung Tâm Tiếng Anh Tồi

Tổng Hợp 100 Câu Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Nhất

110 Tục Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng Nhất

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Tiếng Anh.

Chuyện Học Tiếng Anh – Phần 1: Tôi Đã Học Tiếng Anh Như Thế Nào

I- NGUỒN GỐC

Theo kết quả nghiên cứu của Đề án “Sưu tầm kiểm kê kho sách cổ người Dao” do Tiến sĩ Trần Hữu Sơn (Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin – Thể thao Lào Cai) chủ trì có đăng tại thì: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) gồm 7 nhóm. Người Dao ở Việt Nam và ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, Dao Nga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao Chàm) họ bắt đầu di cư sang Việt Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17). Để đến được đất Việt, sống ở vùng núi như ngày nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình vượt biển, vượt núi, vượt sông muôn phần gian khổ.

Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lể của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ.

Người Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt, bắt đầu từ đảo Hải Nam họ qua Phòng Thành rồi tới Bắc Giang. Từ đây, họ di chuyển theo các hướng khác nhau:

– Theo sông Lô tới Hà Giang hình thành nên người Dao áo dài.

– Theo sông Chảy tới Lào Cai, hậu duệ ngày nay gọi là Dao Tuyển.

– Nhóm ở lại vùng Nga Hoàng thuộc Yên Lập, Yên Phúc một thời gian, sau đó di chuyển tới Văn Chấn (Yên Bái), rồi Văn Bàn (Lào Cai) là tổ tiên người Dao quần chẹt ngày nay.

Dân tộc Dao còn có các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu .v.v…

Dân tộc Dao là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, theo điều tra dân số năm 1999 là 620.538 người, đến năm 2009 là 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 Tỉnh, Thành phố. Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số người Dao tại Việt Nam), Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Sơn (25.666 người), Thái Nguyên (25.360 người) …

Người Dao cũng là 1 trong số 56 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (tiếng Hán là Pinyin: Yáo zú, nghĩa là Dao tộc) với dân số là 2.637.000 người.

Dân tộc này cũng là một dân tộc thiểu số ở Lào, Myanma, Thái Lan.

III- DÂN TỘC DAO ĐỎ Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông, cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh Trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam. Các bản làng của họ trải rộng khắp các miền rừng núi phía Bắc: Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang … đến một số Tỉnh Trung du như: Bắc Kạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y).

Mặc dù, họ có “nhiều nhóm người khác nhau” như vậy, nhưng “ngôn ngữ của họ là thống nhất” để đảm bảo mối quan hệ gắn kết giữa các cộng đồng người Dao với nhau. Ngoài ra, người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục-tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ như: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng …

Người Dao Đỏ có dân số đứng thứ hai sau người H’Mông ở Sa Pa, cũng có nguồn gốc từ Vân Nam – Trung Quốc, người Dao Đỏ là một bộ phận nhỏ của tộc người Dao di cư vào Việt Nam từ thế kỷ XIII đến những năm 40 của thế kỷ trước.

Họ sống tập trung đông nhất ở các xã Tả Phìn, Nậm Cang, Thanh Kim, Suối Thầu, Trung Chải. Nếu người H’Mông thường chọn những nơi núi cao để sống thì người Dao lại chọn thung lũng hoặc lưng chừng núi để trỉa ngô, trồng lúa và thảo quả. Các lái buôn thường đến tận nhà thu mua mang bán sang Trung Quốc nên cuộc sống của họ được nâng cao. Nhiều nhà có những tiện nghi và phương tiện tốt như xe máy, tivi, thậm chí là cả ô tô, máy kéo dùng trong nông nghiệp.

Tộc người Dao có nhiều nhóm nhưng sinh sống ở Sa Pa chủ yếu là người Dao Đỏ bởi phụ nữ thường quấn khăn hay đội mũ đỏ, áo xanh đen có nhiều hoa văn đỏ và trắng ở cổ, vạt và tà áo. Trong trang phục truyền thống, người Dao nam mặc quần và áo đơn giản, còn người Dao nữ trang phục phong phú hơn với những trang trí hoa văn truyền thống, đầu đội khăn. Nên trang phục của họ được xem là đẹp nhất ở mỗi phiên chợ Sa Pa.

Họ cũng có chữ viết riêng dựa theo chữ cổ của Hán ngữ gọi là chữ Nôm – Dao (kiểu chữ dùng mẫu tự Trung Quốc để ghi tiếng Dao), nhưng loại chữ này nay chỉ người cao tuổi mới đọc hiểu và viết được.

Sách cổ đã sưu tầm và kiểm kê có tới 68% là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán. Sách văn học tuy chiếm một tỉ lệ nhỏ (22,8%) nhưng có giá trị quan trọng. Bên cạnh một số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học, bao gồm một số bộ tiểu thuyết cổ của Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Dao như: “Hàn Bằng”, “Đàm Thanh”, “Bát Nương”, “Lâu Cảnh”, “Trạng Nghèo”, “Đô Nương truyện”, “Đặng Nguyên Huyện truyện”, “Bá Giai truyện”, “Thần sắt ca”… Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả (40%).

IV- NHÀ CỬA CŨA NGƯỜI DAO

Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, và gần đây mới có một số nhỏ chuyển vào Tây Nguyên … Tuy nhiên, dù cư trú phân tán và có nhiều nhóm Dao khác nhau như Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao quần trắng …

Chúng ta vẫn có thể nhận ra nét đặc trưng về nhà ở của tộc người này.

Về cơ bản, người Dao có ba loại hình nhà ở chính: nhà đất, nhà sàn (người Dao quần trắng ở Yên Bái – Nhà sàn là kiểu đặc trưng vùng rừng núi để chống thú dữ, rắn rết. Mát về mùa hè và ấm về mùa đông) và nhà nửa sàn nửa đất (người Dao đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa – Lào Cai).

Song, cùng với sự phát triển chung của xã hội, những nét đặc trưng này đang phai nhạt dần, nhất là từ sau năm 1945 và đặc biệt là những năm gần đây.

Để tìm hiểu quá trình phát triển nhà ở của dân tộc Dao cũng như nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, người ta đặc biệt quan tâm đến kết cấu của bộ khung nhà mà đơn vị kết cấu của bộ khung nhà là các kiểu vì (vì cột, vì trung gian giữa vì kèo – vì cột và vì kèo). Nhà ở của người Dao là các kiểu vì kèo và một yếu tố khác vô cùng quan trọng là tổ chức mặt bằng sinh hoạt. Bởi vì sự khác biệt giữa nhà ở của dân tộc nước ta chủ yếu ở hai yếu tố đó, còn yếu tố khác chỉ là thứ yếu.

V- TÍN NGƯỠNG CŨA NGƯỜI DAO

Người Dao thờ tổ tiên là BÀN HỒ, vì họ có tín ngưỡng rằng loài chó là Tổ tiên của họ nên chó luôn luôn được quý trọng.

Bàn Hồ là nhân vật huyền thoại, Thủy tổ của dân tộc Dao, đã được nhắc tới trong truyện kể dân gian, thần tích và các truyện thơ, trong đó đặc biệt phải kể tới sách “Quá Sơn bảng văn, Bàn Hồ (truyện thơ) và Đặng hành và Bàn Đại Hộ (truyện thơ). Các tác phẩm nêu trên vừa được truyền miệng trong dân gian, vừa được các trí thức người Dao ghi chép thành sách bằng “chữ Nôm Dao”.

“Quá Sơn bảng văn” hay “Bảng Văn, Bình Hoàng khoán điệp”, được viết trên tấm vải dài, rìa được đệm vải cho cứng chắc. Toàn bộ tài liệu này được ghi bằng chữ Nôm Dao, hai đầu có vẽ cảnh Triều Đình, Vua ngồi trên ngai vàng, dưới chân là con chó Bàn Hồ, nội dung của Quá Sơn bảng văn có thể tóm tắt lại như sau:

“Bàn Hồ là con long khuyển mình dài ba thước, lông đen vằn vàng, mướt như nhung, từ trên trời giáng xuống trần, được Bình Vương yêu quý, nuôi trong cung vua. Một hôm Bình vương nhận được chiến thư của Cao Vương liền hội triều đình lại để bàn cách đánh lại Cao Vương. Trong khi mọi người còn đang yên lặng vì chưa tìm ra được kế gì, thì con long Khuyển Bàn Hồ nhảy ra phủ phục trước nhà vua xin đi giết Cao Vương. Trước khi Bàn Hồ đi, vua hứa nếu Bàn Hồ giết được Cao Vương thì sẽ gả công chúa cho. Bàn Hồ phải mất 7 ngày 7 đêm mới tới được chỗ Cao Vương. Cao vương thấy con chó Bàn Hồ từ chỗ Bình Vương tới thì cho đó là điềm may, liền mang Bàn Hồ về cung cấm nuôi. Một hôm nhân lúc Cao Vương uống rượu say Bàn Hồ cắn chết Cao Vương, ngoạm đầu mang về báo công với Bình Vương. Giữ lời hứa, Bình Vương gả con gái cho Bàn Hồ. Sau lể cưới, Bàn Hồ mang vợ về núi Cối Kê (Chiết Giang), sau đó vợ chồng Bàn Hồ sinh được 6 con trai và 6 người con gái. 12 người con của Bàn Hồ đều được Bình Vương ban sắc thành 12 họ. Riêng con cả lấy họ cha là họ Bàn, còn các con khác lấy tên họ sau: Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Lý, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu.

Con cháu Bàn vương sinh sôi ra ngày một nhiều. Tới thời Hồng Vũ (1368-1398), bị hạn ba năm liền không có gì ăn, nhà Vua cung cấp cho mỗi người một cái búa, một con dao để đốn rừng làm rẫy. Con cháu Bàn Hồ phát hết rừng núi của Bình Vương, khiến cho nhà Vua phải cấp cho ‘Quá Sơn bảng văn’ để phân tán đi các nơi tìm đất sinh sống”. Ngày nay, người ta có thể xác định dòng họ và thứ bậc của người Dao qua tên đệm.

VI- PHONG TỤC & LỄ HỘI NGƯỜI DAO

Tục “ở rể” cũa người Dao có 2 cấp độ: có thời hạn và vĩnh viễn.

Ma chay của người Dao được làm theo tục lệ xa xưa (vài vùng còn có tục hỏa táng cho người chết từ 12 tuổi trở lên).

Gia đình nào đang nấu rượu thì phải cắm lá trước cửa nhà, không cho người lạ vào vì họ quan niệm rằng người lạ vào nhà rượu sẽ bị chua và khê, nên khi thấy có dấu hiệu cắm lá kiêng bạn không nên bước vào nhà.

Trong gia đình có phụ nữ sinh nở cũng có dấu hiệu kiêng cắm lá trước cửa nhà, để không cho người lạ vào nhà, sợ đứa trẻ mới sinh khóc nhiều.

Người phụ nữ còn có tục cạo chân mày và một phần tóc phía trên trán cho đẹp.

Họ cũng có tục cử (kiêng) sờ đầu trẻ em, khi cắt tóc, cạo đầu họ vẫn để chỏm tóc ở đỉnh đầu vì cho đó là nơi trú ngụ các hồn vía con người (quan niệm để chỏm tóc như vậy trẻ em sẽ không hay ốm đau).

Họ cũng quan niệm là nam và nữ khi chưa kết hôn thì không được chụp ảnh cùng nhau vì như vậy là không tốt, có thể nói đó là một điều cấm kỵ đối với phụ nữ Dao. Người cầm máy ảnh nếu muốn chụp tốt nhất là nên xin phép họ trước.

Trong năm người Dao cũng có những lễ hội đặc sắc như là:

– Người đàn ông chỉ được coi là trưởng thành khi đã chịu “Lễ Cấp Sắc”.

– “Tết Nhảy” được tổ chức vào ngày mồng một và mồng hai tháng giêng.

– “Hội Hát Giao Duyên” vào ngày mồng mười tháng giêng ở bản Tả Phìn, một bản nhỏ của người Dao và người H’Mông cách thị trấn Sa Pa khoảng 12 Km (bản này nổi tiếng với các loại thổ cẩm đủ kiểu dáng và sắc màu do bàn tay khéo léo tài hoa của người phụ nữ H’Mông, Dao tạo nên).

– Và đặc biệt là Bài Thuốc “Tắm Lá Cây Rừng” của tổ tiên người Dao Đỏ còn truyền lại cho đến ngày nay, rất tốt cho du khách đi đường xa mệt mỏi.

VII- LỂ TỤC “KÉO VỢ” CỦA NGƯỜI DAO

1- TRUYỀN THUYẾT

Nếu như ở những đồng bào các dân tộc thiểu số khác ở vùng Tây Bắc có tục “ngủ thăm”, “chọc sàn”, “bắt vợ” để chàng trai có thể lấy được người con gái mà mình yêu về làm vợ thì ở dân tộc Dao đỏ lại có tục “kéo vợ” …

“Truyện kể rằng, ngày xưa có một chàng trai nhà nghèo nhưng trót đem lòng si mê một cô gái xinh đẹp nhà giàu. Không đủ bạc trắng, không có trâu, dê để cưới hỏi cô, nên anh chỉ biết thương thầm trộm nhớ.

Trong khi đó cô gái thì hoàn toàn không đoái hoài gì tới chàng.

Thế rồi một ngày kia, tấm chân tình của chàng đã thấu tận Thần Phật và Đấng linh thiêng. Thần đã báo mộng cho chàng rằng hãy làm sao bắt cóc được cô gái về rồi nhân duyên sẽ thành. Chàng làm theo và đã bắt được người mình yêu về giữ trong nhà mình. Tính tình ương ngạnh của cô gái đã được tình cảm chân thành của chàng trai cảm hóa, họ yêu nhau, sống với nhau, sinh con đẻ cái và sống đến trọn đời”.

Chuyện xưa thể hiện ước muốn của những người nghèo không có khả năng trả nổi tiền cheo, tiền thách mà lấy được người mình mơ ước. Tính nhân văn của câu chuyện đã kéo dài và được thể hiện đầy đủ trong cuộc sống hôn nhân của thanh niên dân tộc Dao đỏ cho đến tận bây giờ …

Đó là truyền thuyết, còn chuyện ngày xưa khi còn chế độ quan Lang ở xứ này, các quan lang tạo ra luật để ngăn cản những đôi trai gái nên vợ, nên chồng, chàng trai muốn đến xin cưới người mình yêu để làm vợ phải nộp cho nhà gái và dân bản 70 đồng bạc trắng, 70 vò rượu và 2 con lợn. Nếu không có bạc trắng để cưới vợ mà về ở với nhau rồi sinh con đẻ cái thì bị quan Lang bắt vạ, suối đời phải làm nô lệ, phục dịch cho nhà quan Lang. Số lễ vật này tương đương với một gia tài lớn mà một đời người làm lụng vất vả cũng không thể làm ra. Chính hủ tục đã cản trở bao đôi trai gái đến với nhau và tạo nên nhiều cuộc tình oan trái do quá nghèo. Người Dao ở Vàng Ma Chải mới nghĩ ra cách kéo vợ để tìm hạnh phúc và đối phó với luật của quan Lang. Kéo vợ là một hình thức lách luật để những chàng trai, cô gái nghèo có thể tìm hạnh phúc và nên vợ, nên chồng (tạo luật để … lách luật).

Người Dao đỏ chỉ kéo vợ vào mùa xuân. Những đám kéo rầm rộ nhất là bắt đầu từ ngày mùng 1 Tết âm lịch đến hết rằm tháng Giêng (kéo vợ ngày Tết thì không bị bắt vạ). Thủ tục kéo vợ cũng rất đơn giản: Những đôi trai gái phải lòng nhau rồi, chỉ việc hẹn hò ở trên rừng rồi chàng trai nhờ một vài người bạn lên điểm hẹn kéo về nhà mình. Theo phong tục, khi chàng trai kéo thì cô gái phải chống đối, càng chống đối thì gia đình sau này có nhiều con cái và hạnh phúc. Khi chàng trai kéo vợ chỉ cần một người trong bản nhìn thấy rồi loan tin cho cả bản biết thì trong quan niệm của người Dao đỏ, đôi trai gái đó đã nên vợ nên chồng.

Từ đó, những ngày giáp Tết đến hết tháng Giêng, khi nhà nào thóc cũng đã đầy bồ, thịt đã treo kín bếp, người người được nghỉ ngơi chuẩn bị cho vụ mùa mới thì cũng là lúc nam thanh, nữ tú đến tuổi trưởng thành lại hướng theo tiếng gọi tình yêu đôi lứa, lo chuyện xây dựng mái ấm gia đình. Trời Tây Bắc vào xuân, thiên nhiên giao hòa, nẩy lộc cũng là lúc những chàng trai người Dao đỏ hòa vào điệp khúc xuân, điệp khúc tình yêu đang ngập tràn trên khắp núi đồi bằng một tục lệ riêng của mình. Giữa lưng chừng những vách đá còn phủ mờ sương sớm, các chàng trai, cô gái người Dao đỏ dường như đã hẹn từ trước, họ ngồi bên nhau, nhìn nhau, trao nhau những lời nói yêu thương, hứa hẹn, tình tứ. Thế rồi, trời ngả bóng về chiều, dường như đã hiểu nhau hơn, chàng trai cùng với bè bạn của mình bắt đầu: “kéo” người mình yêu về … làm vợ.

Theo cái lý của người Dao, không phải kéo vợ là cứ thấy cô nào xinh xắn, giỏi giang, muốn lấy làm vợ thì kéo về nhà mình. Vì trước khi diễn ra “lễ kéo vợ”, đôi nam nữ đã có thời gian tìm hiểu nhau rất cặn kẽ, rồi ưng nhau. Kéo vợ chỉ là cái tục “buộc phải có” để người con gái chính thức bước chân về nhà chồng.

Sau khi “được” kéo về nhà chàng trai, cô gái được giữ ở lại trong nhà 3 ngày và vẫn sinh hoạt bình thường, được cha mẹ chàng trai xem như con cái trong nhà. Hết thời hạn 3 ngày, chàng trai hỏi xem cô gái có đồng ý làm vợ mình không? Nếu cô gái đồng ý thì chỉ việc mang con gà, chai rượu sang nhà bố mẹ vợ báo cáo rồi làm thủ tục đăng ký kết hôn. Còn nếu ba ngày sau cô gái không đồng ý thì chàng trai phải thả cô gái về rồi đợi mùa xuân sau đi kéo tiếp.

Chính vì thế, tục kéo vợ với tính nhân văn, đậm tình người đã thực sự đi vào trong tâm thức và sinh hoạt của người Dao đỏ nơi miền cao Tây Bắc.

Tục lệ của người Dao đỏ ở Vàng Ma Chải quy định rằng: “Sau khi kéo cô gái về nhà thì nghiễm nhiên đôi trai gái đó đã nên vợ, thành chồng. Họ có thể sống với nhau, sinh con đẻ cái làm ăn đến khi của cải dư thừa rồi mới tổ chức đám cưới”.

2- CÂU CHUYỆN KÉO VỢ Ở XẢ VÀNG MA CHẢY – LAI CHÂU

Từ Dào San, con đường quanh co, uốn lượn như dải lụa vắt qua những dãy núi trùng điệp đưa chúng tôi lên xã Vàng Ma Chải, huyện Phong Thổ, Lai Châu.

Tới nơi cũng vừa lúc trời tối, từng tốp thanh niên đang trò chuyện rôm rả. Ghé vào ngôi nhà phía đầu bản Sì Choang, sau khi nghe giới thiệu, anh chủ nhà năm nay ngoài 45 tuổi, tên Lý Phủ Vảng nhiệt tình mời tôi ở lại. Bên bếp lửa bập bùng, sau vài chén trà ấm, tôi mở lời hỏi về tập tục kéo vợ của đồng bào nơi đây.

Vừa nhâm nhi chén trà xanh, anh Vảng cho biết:

– Tục kéo vợ của người Dao đỏ có từ rất lâu đời rồi, thủ tục cũng đơn giản thôi: những đôi trai gái đến tuổi cập kê phải lòng nhau, hẹn hò ở trên rừng, trên đường, hay phiên chợ rồi chàng trai nhờ một vài người bạn lên điểm hẹn kéo về nhà mình. Tuy nhiên, vẫn còn một số đám kéo vợ đôi trai gái chưa có sự tìm hiểu trước hay sự đồng ý của cô gái mà các chàng trai gặp là “bắt về” nhà. Và tục lệ kéo vợ có tự khi nào chẳng ai biết, chỉ biết phong tục này do người đời trước truyền cho người đời sau. Và hầu hết các chàng trai người Dao ở Vàng Ma Chải đều kéo vợ khi muốn lập gia đình. Thời đại ngày nay, việc kéo vợ của người Dao đã có nhiều đổi mới, phù hợp với điều kiện cuộc sống, xã hội.

Để giúp tôi tận mắt chứng kiến phong tục độc đáo này, anh Vảng bảo cậu con trai năm nay 18 tuổi tên Siểu, dẫn tôi đi xem kéo vợ. Siểu phấn khởi nói:

Như đã hẹn, từ sáng sớm, Siểu đã diện bộ trang phục dân tộc truyền thống cùng vài người bạn đợi tôi ngoài cửa. Siểu nói:

– Hôm nay, em rủ anh và bạn đi kéo giúp người yêu em ở xã Mồ Sì San về. Em đã thông báo với bố mẹ rồi, hôm nay sẽ kéo con dâu về nhà.

Qua vài người bạn của Siểu, tôi được biết: Lý Y Siểu sinh ra và lớn lên ở mảnh đất bản Sì Choang, còn Lý San Mẩy (người yêu Siểu) lại lớn lên từ bản Xéo Hồ Thầu, xã Mồ Sì San. Hai người đều là dân tộc Dao và cũng đến tuổi cập kê. Họ quen nhau trong một lần tình cờ chàng trai đi thăm họ hàng bên xã cô gái. Chỉ mới lần đầu gặp nhau là con mắt đã ưng, cái lòng đã thuận và tình yêu đã nảy nở giữa hai người. Ngày tháng trôi qua, tình cảm của đôi trai gái ngày càng thắm đượm, họ đã thề nguyền cùng chung sống bên nhau suốt đời và hẹn ngày đến “kéo về”.

Sau nửa tiếng đi xe máy, tại địa điểm cũ hai người thường hẹn nhau, Siểu dặn chúng tôi phải núp đi và khi có tín hiệu thì chạy đến giúp.

Như đúng kế hoạch đang lúc tâm sự thì chúng tôi nhận được lệnh đến giúp Siểu kéo cô Mẩy về nhà trai. Sự giằng co quyết liệt giữa 2 bên, cô gái cố vùng vẫy, các chàng trai dồn hết sức kéo cô gái về. Siểu và các bạn đã thành công khi đưa được Mẩy về nhà Siểu. Lúc này mẹ Siểu đã đứng đợi sẵn ở ngoài cửa để đón cô gái.

Ngày hôm đó nhà trai mổ gà thiết đãi con dâu, cô gái phụ giúp mẹ nấu cơm cho gia đình. Theo “cái lý” của người Dao thì chàng trai luôn phải ở bên cạnh cô gái canh không cho cô gái trốn về nhà và ngày hôm sau gia đình chàng trai phải đến thông báo cho nhà gái biết con gái họ đang ở nhà mình.

Để chuẩn bị cho ngày kéo vợ, gia đình chàng trai chuẩn bị cho con trai và con dâu quần áo, vòng bạc, dây cúc bạc để khi con dâu mới về biết được rằng cô cũng được bố mẹ chồng quan tâm, yêu thương như con đẻ.

Ba ngày sau, nếu cô gái đồng ý làm vợ mình thì chàng trai mang một con gà, chai rượu ngon sang nhà bố mẹ vợ thông báo và xin phép đưa gia đình nhà mình sang bàn chuyện kết hôn. Còn ngược lại, nếu cô gái không đồng ý thì chàng trai phải thả cho cô gái về rồi đợi đến mùa xuân năm sau đi kéo tiếp.

Ông Lý Phủ Hành – Chủ tịch UBND xã Vàng Ma Chải, cho biết:

– Xã có tổng số 541 hộ với 3.184 nhân khẩu, gồm 2 dân tộc Dao và Hà Nhì sống đoàn kết, trong đó dân tộc Dao chiếm trên 90%. Trước đây, các chàng trai thấy cô gái mình thích ở đâu thì kéo bằng được cho dù cô gái không đồng ý. Hiện nay, đôi trai gái được tự do tìm hiểu và tự quyết định hôn nhân của mình. Khi đôi trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, ưng thuận họ sẽ về báo cáo với bố mẹ, dòng họ biết việc sẽ lấy cô gái đó làm vợ. Trong thực tế kể cả bố mẹ nhà trai hay nhà gái không đồng ý cuộc hôn nhân thì đám cưới vẫn được diễn ra và phải chấp nhận đôi vợ chồng này.

Hôn nhân chính là kết quả của tình yêu tự nguyện đến với nhau, cũng có những cuộc kéo vợ đã không thành khi có sự ép buộc của bên phía chàng trai đối với cô gái. Song nhìn về phía tích cực, các cuộc “kéo vợ” đều chứa đựng những yếu tố nhân văn khẳng định thêm cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng về một gia đình hạnh phúc.Tục kéo vợ nơi vùng cao này được ví như “ông tơ, bà nguyệt” se duyên cho hạnh phúc lứa đôi. Và mùa xuân, mùa của những đôi trai thanh, gái sắc người Dao tìm đến với nhau, yêu nhau, rồi thành vợ thành chồng trên “Chiếc cầu se duyên” của tục kéo vợ.

VIII- LỂ RỬA MẶT CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ

Lể Rửa Mặt là lể diễn ra để xử phạt những người mắc lỗi, sống không đúng mực trong quan hệ vợ chồng, anh em, dòng họ, làng bản.

Lể diễn ra trong 1 ngày tại nhà Trưởng Họ, những người trong gia đình, dòng họ chỉ dự chứ không được trực tiếp tham gia mà phải nhờ một số người có uy tín của dòng họ khác (cùng làng) đứng ra làm Lể thì mới khách quan.

Việc nhờ ai thực hiện nghi lể phải có sự bàn bạc, thống nhất 3 bên: Gia đình, dòng họ của người mắc lỗi và người uy tín của dòng họ khác được mời đến.

Trước hôm diễn ra nghi lễ, Trưởng Dòng Họ mời khoảng 30 người (ông, bà, bố, mẹ, anh, em, cô, dì, chú, bác trong dòng họ) để thống nhất xử phạt, có thể xử phạt bằng hiện vật như: Lợn, gà, gạo, rượu hoặc tiền, bạc trắng …

Gia đình người có tội phải chuẩn bị 1 chiếc khay trong đó đựng hai chén rượu, 2 hào bạc trắng và một chiếc khăn mặt mới. 2 – 3 người có uy tín của dòng họ khác (được ấn định từ trước) yêu cầu người có tội bưng chiếc khay đến trước mặt các thành viên trong dòng họ và tất cả những người (ngoài dòng họ) được mời đến … vái mỗi người một cái, miệng xin được tha lỗi và hứa từ nay trở đi không gây ra tội lỗi nữa. Khi vái đến ai, người đó đều dặn dò, khuyên nhủ người có tội phải thay đổi hành vi, sống có nghĩa, có tình với họ hàng, làng bản, không được gây xích mích, thù oán nhau, chịu khó lao động phát triển kinh tế gia đình …

Kết thúc nghi lể, gia đình người có tội phải làm bữa cơm thịnh soạn mời tất cả mọi người có mặt tại buổi lể. Người có tội mang rượu đến cụng chén các vị cao niên trong và ngoài dòng họ để cảm ơn và hứa sẽ không tái phạm.

(Còn tiếp – Sưu tầm & biên tập lại từ nhiều nguồn _ nguyenvo)

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Trang Phục Của Phụ Nữ Dao Thanh Phán

Nguồn Gốc Và Quá Trình Tộc Người

Học Tiếng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Để Gần Dân, Hiểu Dân Hơn

Các Dân Tộc Tỉnh Kon Tum

Tình Hình Sử Dụng Tiếng Mẹ Đẻ Của Người Mông Ở Hà Giang

Tính Nhân Văn Trong Bộ Sách Dạy Và Học Chữ Nôm Dao. Bàn Xuân Triều

Thầy Giáo Dạy Tiếng Anh Qua Các Ca Khúc Bolero

Độc Đáo Dạy Tiếng Anh Kiểu… Bá Đạo Với Bolero!

“ngã Ngửa” Trước Màn Dạy Tiếng Anh “siêu Bựa” Của “cô Giáo Khánh”

Thầy Giáo Bá Đạo Dạy 12 Thì Tiếng Anh Qua Ca Khúc ‘duyên Phận’

Thầy Giáo Dạy Tiếng Anh Theo Phong Cách Tài Smile Cực Bá Đạo Khiến Dân Mạng Thích Thú

Dân tộc nào cũng có nguồn gốc xuất xứ riêng. Dân tộc Dao cũng vậy, nguồn gốc xuất xứ được ghi chép trong sách cổ chữ nôm Dao. Đặc biệt trong “Bình Hoàng Khoán Điệp” và “Quá Sơn Bảng văn” ghi chép rõ nguồn gốc xuất xứ Thủy Tổ Bàn Vương. Bàn Vương là nhân vật huyền thoại Thủy Tổ của người Dao được nhắc tới trong chuyện kể dân gian, thần tích và truyện thơ. “Quá Sơn Bảng văn” ghi rõ cuộc hành trình muôn vàn khó khăn gian khổ vượt biển, vượt núi, vượt sông. Điều này được phản ánh rõ trong phong tục, nghi lễ của người Dao, ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ người Dao di cư sang Việt .

Dân tộc Dao có nền văn hóa, tín ngưỡng rất đa dạng và phong phú, trong đó chữ viết là chữ Nôm Dao. Theo nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới khẳng định chữ Nôm Dao có nguồn gốc từ chữ Hán du nhập vào nước ta, đã được cải biên thành chữ Nôm đọc thành tiếng Dao trở thành chữ Nôm Dao. Chữ Nôm Dao phát triển và tồn tại hàng ngàn năm, các nhà khoa học hiện chưa xác định được, chỉ biết rằng từ bao đời nay người Dao đã coi đây là chữ viết của dân tộc mình.

Sách cổ người Dao rất đa dạng và phong phú, mỗi làng người Dao xưa kia sách cổ được lưu giữ tại nhà của người làm thầy tào, thầy cúng. Nội dung sách khá phong phú, gồm nhiều loại hình, bên cạnh giá trị hướng dẫn thực hành đạo giáo, còn có giá trị bảo tồn phong tục tập quán, nghi lễ của người Dao. Nhờ có sách cổ các tri thức dân gian được ghi chép, truyền lại cho thế hệ sau. Sách cổ người Dao là công cụ truyền dạy kinh nghiệm ứng xử, các mối quan hệ xã hội, sách giáo huấn răn dạy làm người. Sách cổ người Dao còn là nguồn tư liệu phong phú trong việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chữ Dao. Trong quá trình giao lưu văn hóa, sách cổ người Dao phản ánh sự tiếp nhận của các ngôn ngữ của tộc người láng giềng tạo thành văn tự Dao. Phản ánh nguồn gốc lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Dao, hay ghi chép gia phả của từng dòng tộc, dòng họ cụ thể. Qua đó lý giải tục cúng Bàn Vương – vị Thủy Tổ mà người Dao gọi là thánh “Piền Hùng sính tía” vị thánh lớn nhất của người Dao. Sách cổ kể lại quá trình thiên di gian nan, vất vả của dân tộc Dao cũng như tinh thần đấu tranh bất khuất trong việc chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm. Mỗi dòng họ, mỗi gia đình với ý thức hệ sâu sắc, bền vững rằng tất cả người Dao đều là con cháu Bàn Vương dù ở đâu cũng thống nhất và đồng nhất về tín ngưỡng, văn hóa, ngôn ngữ và các phong tục tập quán. Những cuốn sách cổ của người Dao lưu trữ lượng trí thức khổng lồ. Tất cả những trí thức thiên – địa – nhân đều có ở mỗi cuốn sách chuyên sâu về một lĩnh vực như tín ngưỡng, thờ cúng, ma chay, tổ chức lễ hội, cấp sắc, hướng dẫn làm nông nghiệp, nắm bắt quy luật thiên nhiên, địa lý, giáo dục nhân cách làm người, tình cảm vợ chồng, cha con, trai gái, anh em, làng xóm, sách về bài thuốc và cây thuốc gia truyền, sách về thơ ca các loại, sách xem phong thủy, xem ngày tốt xấu, chiêm tinh, tướng số, sách dạy và học, sách về lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Dao… Sách cổ người Dao về giáo dục nhân tâm rất chi tiết và kỹ lưỡng, vì nó là căn cội là cơ bản của nhân tính con người. Giáo dục đạo đức (tính hiếu học, hiếu thảo, kính trọng cha mẹ, chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn trong công việc; lên án những thói hư tật xấu). Sách cổ người Dao chứa đựng một giá trị văn hóa lớn, một kho di sản về tín ngưỡng, văn hóa truyền thống cũng như quan điểm giáo dục người Dao xưa.

Thầy tào, thầy cúng của người Dao là “trí thức” của dân tộc Dao, là người lưu giữ và khai thác kho sách cổ vô cùng quý giá này. Đặc biệt sâu sắc và thấm thía là những câu chuyện cổ dạy ứng xử, dạy làm người, hướng con người vào cách sống chân, thiện, mỹ, tránh những thói hư, điều xấu, chống lại cái ác. Những câu chuyện này không những mang tính giáo dục mà còn mang tính cách văn học rất cao, là cẩm nang trong việc dạy dỗ con cái, tình đoàn kết anh em, biết kính trên nhường dưới, hiếu nghĩa với cha mẹ…

Bộ sách dạy và học chữ nôm Dao được lưu giữ trong các nhóm, ngành Dao tại Việt . Qua nghiên cứu, thấy rằng trong sách dạy và học chữ nôm Dao được sáng tác bằng thơ chữ nôm Dao với nhiều thể loại, gồm 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ. Lời thơ mộc mạc, dễ đọc, dễ hiểu, nội dung khuyên dạy con người sinh ra muốn thành người là phải chăm học, chăm làm, trước tiên là phải học chữ thì mới hiểu được nghĩa lý để tu thân, tích đức làm người…

Bộ sách gồm 9 quyển, được các thầy “trí thức” chữ nôm Dao đại diện cho 16 tỉnh thành phố có cộng đồng người Dao Việt Nam sinh sống, tham dự Hội thảo về “Phương pháp dạy, học và bộ sách dạy, học chữ Nôm Dao do Trung tâm Phát triển bền vững miền núi tổ chức tại Hà Nội, từ ngày 30/06 đến 02/07 năm 2022, thống nhất nội dung và xếp theo thứ tự:

Quyển 1 “San chú chông” (Tam tự kinh), Quyển 2 “Khai thiên tý” (Khai thiên địa), Quyển 3 “Chảng cấu” (Thượng Cổ), Quyển 4 “Khai thiên lỷ tý” (Khai thiên lập địa), Quyển 5 “So khai chio thiên tý” (Sơ khai tạo thiên địa), Quyển 6 “Thiên chú chông” (Thiên tự trọng), Quyển 7 “Thiên chú” (Thiên tử), Quyển 8 “Sẻ dìn” (Thuyết nhân), Quyển 9 “Hiền vần” (Hiền nhân).

Trong bộ sách có 9 quyển thì Quyển 1 “San chú chông” là quyển vỡ lòng, đến các quyển sau nâng cao dần.

Về phương pháp dạy và học: – Bước đầu học chữ Nôm Dao rất khó, đòi hỏi người học phải kiên trì, chịu khó mới tiếp thu được. Tại sao người Dao từ xưa dạy và học chữ nôm Dao không phải mở trường, lớp tập trung mà vẫn duy trì được chữ Nôm Dao trao truyền từ đời này sang đời khác. Câu hỏi này rất khó để trả lời, nhưng tôi là người con dân tộc Dao được sống trong gia đình, dòng họ có người làm thầy tào, thầy cúng, cho nên tôi cũng được chứng kiến và hiểu được phần nào về phương pháp truyền dạy của các bậc ông cha. Cha truyền con nối là phương pháp truyền dạy hiệu quả nhất. Khi người con trai sinh ra đến khi biết nói, người cha dùng những câu thơ ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thuộc đọc cho trẻ nghe và trẻ đọc theo, khi con trẻ quen dần và ham mê thì bắt đầu hướng đứa trẻ học cách viết những từ ít nét để trẻ học và học mãi tự mình thấy ham học. Các cụ rèn luyện con cháu học rất nhiệt tình và kiên trì. Đã là người con trai dân tộc Dao, từ khi còn trẻ thơ đã được cha, ông, chú, bác trong dòng họ biết chữ và là người làm thầy cúng truyền dạy cho con cháu để bảo tồn và giữ gìn chữ viết của dân tộc mình. Học vừa để hiểu biết lý lẽ, vừa để đào tạo con cháu dân tộc Dao phấn đấu trở thành người biết làm thầy cúng tổ tiên và Bàn Vương, biết làm thầy cấp sắc để nối dõi tông đường. Đứa trẻ từ khi biết nói thành thạo đã được nghe ông cha truyền dạy bằng quyển “Sơ khai thiên tý” (Sơ khai trời đất) hay bài thơ “Chạp cháng dung” (Bài ca sáu mươi hoa giáp), đây là những câu thơ mà con trẻ người Dao thường thích học và tìm hiểu. Chỉ dịch nghĩa vài câu trong khổ đầu của bài “Sú khai thiên tý” (Sơ khai thiên địa) cũng thấy được sự học chữ Nôm Dao của người Dao được trân trọng như thế nào: “Sú khai thiên tý/Chí lỉ khiền khuôn/Sú sỉ lài váng/Sỉ tủ su vần/Tủ su chi lý/Cháo huấn chú suân/ Séo niền pú dỏ/Diếu hủ kỳ sin/Tủ su lán tó/chio khí chiều dìn”…

Dịch nghĩa: Từ khi khai thiên lập địa, lập ra kinh sách, bốn phương truyền lại, học chữ biết lý, dạy cho con cháu, trẻ mà không học, không gì phòng thân, học mà lười biếng, có việc nhờ người… Với mỗi câu chỉ bốn chữ thành vần thơ rất dễ thuộc, lúc đầu đọc theo, mặc dù chưa biết chữ, nhưng những câu thơ đã học thuộc lòng, dần dần hiểu nghĩa rồi đến viết thành chữ, cứ thế đọc nhiều thấm nhiều, viết mãi cũng thành chữ, đó là lòng ham mê học chữ Nôm Dao của giới trẻ sáng dần từ đó. Một khi đã ham mê thì ôn luyện trong mọi lúc, mọi nơi, kể cả trong lao động sản xuất, trong lúc nghỉ ngơi hay trong ngày lễ tết, người già, người trẻ tập trung lại trong nhà của người thầy chữ Nôm Dao để học nâng cao dần. Con cháu người Dao đời tiếp đời luôn kính trọng ông cha và Thủy Tổ của mình là Bàn Vương, cho nên được ông cha phù hộ độ trì để con cháu học và giữ gìn chữ Nôm Dao để bảo tồn và phát huy văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc Dao mãi mãi trường tồn.

Nội dung trong bộ sách dạy và học chữ Nôm Dao trong mỗi quyển có kiến thức khác nhau, càng học càng thấy bổ ích. Là người dân tộc Dao chưa được học và nghiên cứu thì cảm thấy trong đời mình còn thiếu một cái gì đó về văn hóa và tín ngưỡng của dân tộc mình mà chúng ta không hiểu được. Đó là sự thiệt thòi đối với người con cháu dân tộc Dao, dù người đó có thể là nhà trí thức, nhà khoa học, người làm quản lý hay nhà doanh nghiệp…

Từ khi Bàn Cổ mở trời đất

Tam Hoàng, Ngũ Đế tạo nhân gian

Ít nhiều người xưa đều trung hiếu

Cha mẹ trung hiếu với triều đình

Người xưa đã nói con hiếu thuận

Mà nay lại nói bậc con cháu

Phụng dưỡng người già nghe lời xưa

Đời sau nghe lời cha mẹ dạy

Cha gọi, mẹ nói phải ưng ngay

Chẳng cần cao giọng thưa cha mẹ

Thưa mà cao giọng trời đất đen

Mắt nhìn thời gian trên đầu mẹ

Cha là trời, mẹ là đất

Chẳng thấy cha mẹ dạy dỗ ai

Cha mẹ khi còn chẳng hiếu thuận

Chết rồi mới khóc kêu đau lòng

Cả hai dòng sông đều cạn kiệt

Tương lai trong miệng ngậm bàn tay…

Với bộ sách dạy và học chữ Nôm Dao giúp cho người Dao sinh sống tại tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh có đồng bào Dao làm cẩm nang để sử dụng trong việc mở lớp dạy và học chữ Nôm Dao. Mong rằng là người dân tộc Dao phải biết trân trọng nguồn gốc tổ tiên của mình. Bởi vì trải qua biết bao đời ông cha ta đã vượt ngàn vạn gian khổ sáng tạo ra chữ Nôm Dao và bảo tồn, duy trì được như ngày nay. Nhưng trong quá trình hội nhập hiện nay bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Dao như tiếng nói, chữ viết, trang phục và những phong tục tập quán, tín ngưỡng tốt đẹp nếu không tự mình bảo tồn và phát huy sẽ ngày càng mai một. Là người dân tộc Dao muốn khai thác, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình phải học chữ Nôm Dao. Mong rằng là người con dân tộc Dao bất kỳ tầng lớp nào, ít nhiều cũng phải học hiểu được nội dung ý nghĩa của bộ sách này.

Vì vậy thế hệ trẻ người Dao phải tự giác học, học ở mọi nơi, mọi lúc. Là những người cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước, hay doanh nhân không phân biệt nam, nữ dân tộc Dao cũng phải học, mới có thể góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Dao.

Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương và chính sách rất đúng đắn để bảo tồn, xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó dân tộc Dao vinh dự được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận chữ Nôm Dao, lễ Cấp sắc, hát Páo dung và lễ Nhảy lửa là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Do đó không ai khác, là con cháu dân tộc Dao phải tự mình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Muốn vậy phải học biết chữ Nôm Dao mới có khả năng khám phá và bảo tồn chữ viết của mình. Học theo nhiều biện pháp và hình thức cho phù hợp với điều kiện của từng người. Trước hết phải yêu văn hóa truyền thống của dân tộc mình, tự học, mở lớp học theo làng bản, theo dòng họ; mở lớp bồi dưỡng cho những người thầy cúng “trí thức” Dao để thống nhất phương pháp cách thức dạy và học chữ Nôm Dao. Nên chăng chúng ra cần tăng cường mở lớp dạy và học cho cán bộ, công nhân viên chức hiểu biết thêm về chữ Nôm Dao.

Tháng 7/2016

Dạy Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tọc Day Tang Cuong Tieng Viet Cho Hoc Sinh Dan Toc Doc

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc

Có Được Hưởng Phụ Cấp Dạy Tiếng Dân Tộc?

Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Ở Đồng Nai

Trang Phục Của Phụ Nữ Dao Thanh Phán

Tài Liệu Dân Tộc Dao (Phần 1)

3 Dấu Hiệu Lừa Tiền Của Các Trung Tâm Tiếng Anh Tồi

Tổng Hợp 100 Câu Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Nhất

110 Tục Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng Nhất

Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Tiếng Anh.

Người Dao ở huyện Bình Liêu, Quảng Ninh gồm có hai nhánh, đó là Dao Thanh Phán và Dao Thanh Y. Người Dao Thanh Phán cư trú ở những vùng núi cao gồm các xã Đồng Văn, Hoành Mô, Đồng Tâm. Địa hình, địa thế nơi cư trú cũng phần nào ảnh hưởng đến màu sắc trang phục của mỗi dân tộc.

Trong trang phục của phụ nữ Dao Thanh Phán, mũ xếp đội đầu làm cầu kỳ nhất nên cũng tốn khá nhiều thời gian, công sức

Đối với người Dao Thanh Phán, từ lâu đời họ đã chọn cho mình màu sắc chủ đạo là màu đỏ. Thiếu nữ Dao Thanh Phán thường quấn trên đầu một chiếc khăn màu đỏ, in hoạ tiết hoa văn và buộc dây ở cằm, thể hiện sự thuỳ mị, nết na và duyên dáng.    

Phụ nữ Dao Thanh Phán trao đổi, mua bán những phụ kiện cho trang phục của họ tại phiên chợ

Phụ nữ Dao Thanh Phán thêu bất cứ khi nào rảnh rỗi

Đồng bào Dao Thanh Phán có niềm tin là khi mặc trên mình bộ áo sặc sỡ khiến cho các con thú dữ nhìn thấy sẽ tránh đi, không làm hại đến mình

Phụ nữ Dao Thanh Phán khi lấy chồng thì cạo trọc đầu và đội lên đầu một hộp nhỏ màu đỏ rồi phủ khăn lên

Những người phụ nữ Dao Thanh Phán đang ghi lại những hình ảnh ở Lễ hội Kiêng gió bằng điện thoại của mình

Chị em phụ nữ Dao Thanh Phán phủ kín sắc màu sặc sỡ tại chợ phiên

Quang Vinh, daidoanket.vn 

Nguồn Gốc Và Quá Trình Tộc Người

Học Tiếng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Để Gần Dân, Hiểu Dân Hơn

Các Dân Tộc Tỉnh Kon Tum

Tình Hình Sử Dụng Tiếng Mẹ Đẻ Của Người Mông Ở Hà Giang

Dân Tộc Học Trong Tiếng Tiếng Anh

Truyền Dạy Chữ Nôm Dao Góp Phần Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Dân Tộc

Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ, Công Chức

Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Người Tốt Việc Tốt: Tâm Huyết Với Việc Giữ Gìn Và Truyền Dạy Chữ Nôm Dao

Dạy Tiếng, Chữ Viết Dân Tộc Thiểu Số Cho Cán Bộ, Công Chức Ở Vùng Dân Tộc Miền Núi

Dạy Tiếng Thái Cho Học Sinh… Dân Tộc Thái

Dân tộc Dao quần chẹt ở Thanh Hóa có tiếng nói, chữ viết, trang phục và tập quán tín ngưỡng riêng. Riêng chữ viết đã có từ ngày xưa để lại, được ông cha lưu giữ bằng nhiều quyển sách cổ. Mục đích học chữ nôm Dao là để làm người, biết đối nhân xử thế, biết chinh phục thiên nhiên, vũ trụ, biết lấy thuốc, biết làm ăn…

Người Dao quần chẹt sống ở vùng núi thấp, tập trung ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy. Trước đây, đồng bào Dao sản xuất lương thực, chủ yếu làm nương rẫy theo kiểu du canh, phụ thuộc vào thiên nhiên, năng suất thấp. Các ngành nghề khác như chăn nuôi, nghề thủ công truyền thống chủ yếu phát triển theo kiểu tự cung tự cấp, bó hẹp, phục vụ trong gia đình hoặc thôn bản mà không thành sản phẩm hàng hóa. Từ năm 1968 trở lại đây, thực hiện cuộc vận động định canh, định cư, người Dao quần chẹt vùng Ngọc Lặc, Cẩm Thủy sống quy tụ thành chòm bản. Người Dao của huyện Ngọc Lặc tập trung ở 3 nơi: khu phố Hạ Sơn (thị trấn Ngọc Lặc), làng Tân Thành (xã Thạch Lập), làng Phùng Sơn (xã Phùng Giáo). Riêng địa bàn khu phố Hạ Sơn có 85% dân số là người Dao.

Anh Triệu Văn Hùng, ở khu phố Hạ Sơn cho hay: “Trước đây, tôi không hề biết chữ. Sau khi được các thầy truyền dạy chữ nôm Dao thì tôi đã cơ bản biết đọc, biết viết chữ. Từ những nền tảng kiến thức này, tôi sẽ áp dụng vào trong cuộc sống, đồng thời cũng sẽ mang về truyền dạy lại cho các con cháu để giữ gìn nét văn hóa đặc sắc của dân tộc mình”.

“Tôi tham gia lớp học này để biết chữ, biết phong tục, tập quán của dân tộc mình, rồi sau đó để dạy con cháu, để chữ viết dân tộc mình không bị mai một đi. Tuy ban ngày đi làm mệt nhọc vất vả nhưng tôi vẫn thu xếp thời gian phù hợp để đến lớp học cả ban ngày lẫn ban tối. Trong quá trình học tập, có nhiều nét chữ rất khó viết, nhưng nhờ các thầy luôn tận tình chỉ dạy nên chúng tôi cũng rất tận tình học” – chị Triệu Thị Ngọc, ở khu phố Hạ Sơn chia sẻ.

Những lớp học chữ nôm Dao như thế này có 3 giáo viên giảng dạy, với khoảng 60 học viên. Lớp nôm Dao thường học vào buổi tối, vì ban ngày bà con lo làm ăn. Mỗi tối học từ 2-3 tiếng, vừa học ca, vừa học chữ, với lứa tuổi từ THCS trở lên. Hiện nay, bộ chữ nôm Dao Thanh Hóa đầy đủ gồm 9 tập: Tập 1 là Tam tự kinh (dành cho người trẻ phải chịu khó học lấy chữ, dạy đạo đức, lối sống); tập 2 là Thượng cổ (nói về khó khăn và thuận lợi của ngày xưa và ngày nay); tập 3 là Khai thiên lập địa (nói về thời kỳ tạo hóa của vũ trụ sinh ra trời, đất); tập 4 là Khai thiên địa (có trời, có đất, có vũ trụ); tập 5 là Thiên trọng tử (dạy làm cán bộ, đối nhân xử thế); tập 6 là Thuyết ngôn (dạy biết làm văn); tập 7 là Nghìn văn tự (bói về thiên văn địa lý); tập 8 là Hiền văn (dạy con người sống nhân văn với nhau); tập 9 là Hiền lương (dạy con người hướng thiện). Học xong bộ chữ nôm Dao 9 tập này coi như người học đã đạt đến trình độ nhất định.

Năm 2022, Chi hội Dân tộc và Nhân học huyện Ngọc Lặc có kế hoạch biên soạn tập Từ điển tiếng Dao; sưu tầm biên soạn bộ tài liệu dạy tiếng Dao; mở lớp học dạy tiếng Dao cho cán bộ, công chức cấp xã trở lên và những người có nhu cầu. Biết rằng còn nhiều khó khăn về nguồn kinh phí, trình độ hiểu biết của bà con, phương tiện đi lại, thời gian…, nhưng với những người tâm huyết như ông Du, tin rằng kế hoạch đó sẽ sớm tổ chức thực hiện được.

Ông Phùng Quang Du cho biết: “Từ khi được Đảng, Nhà nước và tỉnh quan tâm tới việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết, văn hóa truyền thống của dân tộc Dao nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung, bà con ở đây rất phấn khởi. Từ đó, bà con luôn có ý thức và thái độ tích cực học tập, tiếp cận chữ nôm Dao, nhằm bảo tồn tri thức, di sản văn hóa của dân tộc trước nguy cơ mai một”.

Bài và ảnh: Ngọc Anh

Chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ:chuyện Dạy Tiếng Dao Cho Cán Bộ

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

Lạng Sơn: Dạy Tiếng Dtts Cho Đội Ngũ Giáo Viên

Chú Trọng Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh