Top 3 # Xem Nhiều Nhất Dạy Tiếng Dân Tộc Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Học Sinh Người Dân Tộc

Điện Biên TV – Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc trong đó khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc. Tại huyện Tuần Giáo chương trình dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh đã được triển khai tại 15 trường tiểu học và trung học cơ sở.

Lớp học dạy tiếng Thái cho học sinh tại huyện Tuần Giáo.

Năm 2011, trường PTDTBT Tiểu học Ta Ma là một trong những đơn vị trường học đầu tiên triển khai dạy tiếng Mông theo Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2020.  Chương trình được triển khai từ lớp 3 đến lớp 5, học sinh đã tương đối thuần tiếng phổ thông nên việc nắm bắt kiến thức tiếng Mông khá thuận lợi.

Tuy nhiên, theo thầy giáo Nguyễn Phúc Đồng, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết việc dạy tiếng dân tộc cũng gặp một số khó khăn. ĐÓ là nội dung kiến thức còn hơi nặng với học sinh khối lớp 3 bởi một số phần học sinh hơi khó nhớ và khó hiểu. Do vậy, đề nghị trong thời gian tới Đề án nên giảm tải bớt chương trình cho khối lớp 3.

Chủ động truyền dạy tiếng dân tộc cho học sinh, đội ngũ giáo viên là người dân tộc Thái, dân tộc Mông đã sáng tạo, linh hoạt làm đồ dùng dạy học và sử dụng phù hợp với đặc thù và vùng miền nhằm nâng cao chất lượng truyền thu tiếng dân tộc. Đồng thời lựa chọn lồng ghép giới thiệu văn hóa, phong tục tập quán, các trò chơi dân gian,… của các dân tộc thông qua các chương trình chính khóa, ngoại khóa, các hoạt động tập thể.

Khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc.

Ông Đỗ Văn Sơn, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Tuần Giáo, cho biết: Năm học 2011 – 2012, khi bắt đầu triển khai Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2020, huyện Tuần Giáo chỉ có có 2 trường, 4 lớp và 85 học sinh học tiếng Thái; 1 trường, 2 lớp và 48 học sinh học tiếng Mông. Đến nay, sau gần 10 năm triển khai thực hiện Đề án quy mô trường, lớp, học sinh học tiếng dân tộc trên địa bàn huyện Tuần Giáo được mở rộng theo từng năm.

Tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc, huyện Tuần Giáo  đang vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học môn tiếng Việt vào dạy tiếng dân tộc; ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; xây dựng đội ngũ quản lý viên chức quản lý chỉ đạo dạy tiếng dân tộc có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, hiểu biết tiếng, chữ viết và văn hóa dân tộc… theo tinh thần Nghị quyết số 03/NQ-TW về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

Việt Hòa/DIENBIENTV.VN  

Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Kon Tum đã được triển khai sâu rộng. Dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng chương trình này đã gặt hái được nhiều kết quả.

Chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông, được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum chính thức triển khai từ năm học 2008 – 2009, với 10 lớp dạy tiếng Bahnar tại 4 trường tiểu học Đăk Rơ Wa, Ngọc Bay, Bế Văn Đàn (thành phố Kon Tum) và Đăk Ruồng (huyện Kon Rẫy), với hơn 200 học sinh theo học; 2 lớp dạy tiếng Jrai tại trường tiểu học Ia Chim 1 và Ia Chim 2, cho 49 học sinh.

Dạy tiếng dân tộc cho học sinh từ lúc các em mới bắt đầu đi học.Ảnh: Mộc Thanh

Trong năm học 2009 – 2010, chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số tiếp tục được mở rộng tại hai trường tiểu học Hùng Vương và Lê Văn Tám (huyện Sa Thầy), với 48 học sinh. Tiếp tục đưa tiếng dân tộc thiểu số vào giảng dạy, bảo đảm số học sinh người dân tộc thiểu số được học chữ ngày càng tăng, năm học 2013 – 2014, toàn tỉnh Kon Tum đã có 15 trường dạy tiếng dân tộc Bahnar và Jrai, trong đó có 10 trường dạy tiếng Bahnar với 822 học sinh, 5 trường dạy tiếng Jrai với 269 học sinh. Nhìn chung, đến thời điểm này, đa số học sinh theo học đều nắm được kiến thức kỹ năng cơ bản của chương trình. Kết quả tổng kết năm học 2013 – 2014: Tỷ lệ học sinh đạt trung bình trở lên là 98,5%, trong đó khá, giỏi đạt tỷ lệ 53,4%.

Bên cạnh đó, công tác dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng được quan tâm và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Đến cuối năm 2013, các Trung tâm giáo dục thường xuyên đã mở được 71 lớp, với 3.449 cán bộ, công viên chức theo học các thứ tiếng như Xơ Đăng, Bahnar, Jrai, Dẻ Triêng. Hầu hết các học viên theo học đều đã phát huy được hiệu quả khi về địa bàn công tác, đã thực sự xóa khoảng cách ngôn ngữ giữa cán bộ, công viên chức với người dân bản địa.

Nhiều giáo trình song ngữ đã được biên soạn để các trò vừa học tiếng Việt vừa học tiếng của dân tộc mình. Mộc Thanh

Bà Phạm Thị Trung, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum, khẳng định: Công tác dạy và học tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Số học sinh dân tộc thiểu số được xóa mù chữ ngày càng cao, các cán bộ, công chức, viên chức sau khi theo học đã phát huy được hiệu quả trong công tác nắm địa bàn, giao tiếp với người dân bản địa góp phần vào công tác phát triển kinh tế, an sinh xã hội ở địa bàn.

Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?

1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

(Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

+ Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

+ Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

Một số định nghĩa khác về dân tộc:

Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

1

Công tác dân tộc

Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nghị định 05/2011/NĐ-CP

6

Dân tộc thiểu số tại chỗ

Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

15/2008/QĐ-UBND

(Hết hiệu lực)

Tỉnh Đắk Lắk

7

bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

9

Mạng Ủy ban Dân tộc

Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

10

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

11

Trường phổ thông dân tộc bán trú

là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

12

Trường phổ thông dân tộc bán trú

Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

Tỉnh Đắk Lắk

13

Vùng dân tộc thiểu số

Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

Nguồn: Thư viện pháp luật

3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

– Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

– Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

– Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

– Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

” Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

– Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

– Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

– Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

– Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

– Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

– Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

– Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

– Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

Chuyên Đề Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc

Chúng ta biết rằng: 54 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng, có nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc. Cũng như một số dân tộc thiểu số khác dân tộc Thái sống theo từng họ tộc, quay quần đoàn kết bên nhau trong những ngôi nhà sàn san sát nhau trên các sườn đồi cách khá xa trung tâm buôn bán sầm uất, dân cư chủ yếu là người kinh. Phần lớn người Thái là lao động chân tay, cuộc sống nhờ vào đồng ruộng, nương rẫy, rừng sâu. Vì điều kiện cuộc sống truyền thống đó nên tạo ra những tính cách riêng: Hiền lành, chất phác, ngại tiếp xúc, kín đáo, có sự mặc cảm. Điều này cũng ảnh hưởng đến con cái. Các em học sinh dân tộc Thái phần lớn là nhút nhát, e dè chưa mạnh dạn trong mọi hoạt động mà đặc biệt là trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô, những người lớn tuổi. Thực tế giảng dạy, trong cuộc sống hằng ngày cũng vậy những em dân tộc kinh rất mạnh dạn trong việc tìm gặp thầy, cô giáo để hỏi thêm về bài tập, trong khi các em dân tộc Thái lại hoàn toàn ngược lại rất ít lần tìm gặp thầy cô để hỏi bài hay trao đổi một vấn đề gì các em đang khúc mắc. Tâm lý mặc cảm, tự ty cũng thường biểu hiện rõ nét ở các em dân tộc thái. Các em luôn tự cho rằng mình ở vùng sâu, vùng xa, trong rừng sâu quê mùa không bằng bạn bằng bè nên rất ít thể hiện mình trong một tập thể lớp đông đảo với bao ánh mắt hướng về mình. Có nhiều lúc vì giáo viên chưa tìm hiểu sâu, nắm rõ bản chất tâm lý nên phát hiện chỉ thông qua các bài viết, bài thực hành của học sinh.

Cũng như đa số học sinh của các dân tộc khác, các em dân tộc Thái có thêm tâm lý được khen hơn là chê. Một lời khen của thầy giáo, cô giáo sẽ kích thích được rất lớn, xóa tan mọi tâm lý e dè, tự ty, mặc cảm. Thiết nghĩ rằng việc nắm bắt về các mặt tâm lý trên của giáo viên về học sinh của mình sẽ góp phần đem lại hiệu quả dạy học môn Ngữ Văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng.II.VỀ MẶT TRÌNH ĐỘ Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vốn từ của một đứa trẻ khi bắt đầu đi học. Tuy nhiên chúng ta ít động chạm đến mức độ chênh lệch giữa trình độ, vốn từ giữa các học sinh dân tộc Kinh và các học sinh dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Thái nói riêng. Nhưng chúng ta cũng phải khẳng định rằng trước tuổi đến trường các em đã biết sử dụng tương đối thành thạo Tiếng Việt ở hai hình thức nói và nghe. Sự hiểu biết này là do các em tiếp xúc với môi trường ngôn ngữ tự nhiên, hằng ngày với người lớn. Từ điều khẳng định đó chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy trình độ nắm bắt, tiếp xúc của các em dân tộc Thái chênh lệch lớn như thế nào. Bởi các em sinh ra, môi trường ngôn ngữ mà các em tiếp xúc là tiếng Thái, vốn dĩ là “tiếng mẹ đẻ”, tiếng bản địa của các em, hằng ngày các em phải dùng tiếng thái để giao tiếp khi tan trường trở về nhà, hoặc ngay cả trong lớp học tụm ba, tụm bảy trao đổi với nhau vẫn bằng tiếng Thái. Như vậy để làm quen tiếp xúc với tiếng phổ thông (tiếng Kinh) các em lại phải trải qua một quả trình vừa đã biết tiếng Thái lại vừa học tiếng kinh từ bảng chữ cái đến từ, câu…Vì vậy dù học sinh khá, tư duy tốt đến đau cũng có sự chênh lệch nhất định so với các em học sinh dân tộc người Kinh.

Tuy nhiên nếu làm một phép so sánh giữa dân tộc kinh và dân tộc Thái học Ngoại Ngữ thì mức độ khập khiễng, chênh lệch sẽ không nhiều nếu không muốn nói là ngang bằng. Vì học ngoại ngữ là tiếp xúc với một hệ thống cơ cấu ngôn từ hoàn toàn mới mẻ. Muốn nghe, nói, đọc, viết người học cần phải trang bị cho mình một lượng kiến thức tối thiểu về mặt ngữ âm từ vựng, ngữ pháp của ngoại ngữ cần học, những kỹ năng và kỹ xảo mới cần thiết về các phương thức hoạt động của ngoại ngữ đó.

Do điều kiện cuộc sống nên mức độ nhận thức của các em dân tộc thái cũng rất hạn chế, không đồng đều. Điều này được thể hiện rõ trong quá trình truyền thụ của giáo viên về một vấn đề gì đó trong một tiết học. Hầu hết các em dân tộc thái nắm bắt rất chậm, chưa thực sự sáng tạo, nhạy bén như các em dân tộc kinh.

Xuất phát từ những thực tế về mặt tâm lý và sự chênh lệch về mặt trình độ đó, và qua thực tế giảng dạy tại địa bàn xã Thạch Ngàn. Một ngô trường thuộc vùng sâu vùng xa, học sinh 90% thuộc dân tộc thái. Chúng tôi nhận thấy các em thường vấp phải một số lỗi về dùng từ, đặt câu, lỗi diễn đạt …vv..III. CỤ THỂ CÓ CÁC LỖI THƯỜNG GẶP NHƯ SAU

Lỗi về dùng từ đặt câu: Do không hiểu nghĩa của từ, không biết sử dụng từ trong từng văn cảnh.Ví dụ: Thân cây (đa) cao vút Cao vút có nghĩa là rất cao, thẳng lên trên không trung.

Chúc hội thảo thành công tốt đẹp