Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 25/01/2021 trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 6.237 lượt xem.

Có 30 tin bài trong chủ đề【Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số】

【#1】Cần Tháo Gỡ Khó Khăn Trong Triển Khai Chương Trình Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh Ở Gia Lai

Cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng của khẩu Quốc tế Lệ Thanh bổ sung kiến thức cho các em học sinh vùng biên giới tỉnh Gia Lai . Ảnh: Hồng Điệp – TTXVN

Theo số liệu thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai , năm học 2014-2015, số học sinh theo học tiếng là 7.117 học sinh với 283 lớp, số học sinh học tiếng là 1.101 học sinh với 41 lớp. Tuy nhiên, đến năm học 2021-2018, số lượng học sinh theo học tiếng Jrai giảm xuống chỉ còn 1.271 học sinh với 48 lớp và 741 học sinh học tiếng Bahnar ở 29 lớp.

Em Ksor Thiêm, học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Phú Cần, xã Phú Cần, huyện Krông Pa, nói: “Em học tiếng Jrai để bảo tồn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Bà con trong làng đều nói tiếng Jrai nên nếu em không học, sẽ không hòa nhập được với mọi người. Lúc trước, lớp học đông lắm, nay các bạn nghỉ gần hết”.

Lý giải tình trạng học sinh theo học tiếng Jrai và Bahnar giảm mạnh trong khối các trường học, ông Huỳnh Minh Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết: Để đảm bảo việc dạy 2 tiết/tuần của các môn học tự chọn, các cơ sở giáo dục phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, sách, thiết bị, tiêu chuẩn, trình độ người dạy, nhu cầu của người học theo tinh thần tự nguyện của phụ huynh và học sinh. Từ năm học 2008-2009, sách giáo khoa môn tự chọn tiếng Jrai và Bahnar được cấp miễn phí cho các trường học có tổ chức dạy học tiếng dân tộc. Tuy nhiên, từ năm học 2021-2016, sách không được cấp miễn phí và cũng không được bán trên thị trường. Các trường muốn dạy tiếng dân tộc thiểu số phải phô -tô sách, kinh phí không thu được từ phụ huynh. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cũng không được đào tạo chuyên ngành, chỉ có chứng chỉ tiếng Jrai hay Bahnar.

Ngoài ra, từ năm học 2021-2017, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong điều kiện không thể dạy học tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày, các trường đã điều chỉnh giảm nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác, để tập trung tăng thời lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đây cũng là một trong những lý do các trường học buộc phải giảm hoặc bỏ dạy tiếng Jrai, Bahnar cho học sinh để có thời gian tăng cường dạy tiếng Việt.

Nhiều trường không đủ điều kiện, khó tổ chức mở lớp do gặp khó khăn về sách giáo khoa, thời lượng bố trí tiết học, nhu cầu của phụ huynh, đội ngũ giáo viên… là những nguyên nhân khiến việc tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc như một môn học tự chọn gặp khó khăn, ông Huỳnh Minh Thuận cho hay.


【#2】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Cấp Tiểu Học Trên Địa Bàn Tỉnh Gia Lai

​Sở Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) tỉnh Gia Lai vừa có văn bản hướng dẫn các trường tiểu học trên địa bàn triển khai dạy môn học tự chọn là tiếng dân tộc thiểu số bản địa cho học sinh trong năm học 2021-2016. Các trường sẽ dạy tiếng dân tộc Gia Rai và Ba Na.

Học sinh tiểu học huyện Đác Đoa (Gia Lai) trong giờ học.

Việc dạy tiếng dân tộc ở cấp tiểu học sẽ giúp cho các học sinh hình thành và phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng dân tộc; góp phần rèn luyện tư duy và học tốt môn tiếng Việt cũng như các môn học khác trong trường tiểu học; cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản, cần thiết về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp tiếng dân tộc; đáp ứng yêu cầu rèn luyện kỹ năng và thực hành giao tiếp, mở rộng những hiểu biết về con người, cuộc sống, văn hóa của các dân tộc Gia Rai, Ba Na và các dân tộc khác. Mặt khác, đối với các em học sinh dân tộc thiểu số, đây chính là môn học rất ý nghĩa, giúp các em bồi dưỡng tình yêu tiếng mẹ đẻ, góp phần bảo tồn, phát huy những phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của các dân tộc… Việc tổ chức dạy học tiếng dân tộc phải bảo đảm chất lượng để học sinh có những kỹ năng cần thiết, từ đó giúp cho các em học tốt các môn học khác.

Theo Phó Giám đốc Sở GD và ĐT tỉnh Gia Lai Huỳnh Minh Thuận, từ năm 2021-2016 và các năm học tiếp theo, môn học tiếng dân tộc được thực hiện giảng dạy hai tiết/tuần.Việc dạy học tiếng dân tộc có thể bắt đầu từ lớp hai hoặc lớp ba và thực hiện liên tục trong ba năm học. Đối với giáo viên dạy tiếng dân tộc phải đạt chuẩn về trình độ đào tạo của cấp học tương ứng và có chứng chỉ dạy tiếng dân tộc theo quy định của Bộ GD và ĐT. Giáo viên phải nắm vững mục tiêu, định hướng, phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học. Trên cơ sở đề xuất của Sở GD và ĐT, UBND tỉnh Gia Lai đã có công văn về việc đồng ý chủ trương cho các huyện cân đối ngân sách của địa phương để mua sách, vở phục vụ việc dạy tiếng Gia Rai, Ba Na ở cấp tiểu học thay thế sách đã hư hỏng.

Đánh giá học sinh học môn tiếng dân tộc phải bảo đảm theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học về sự tiến bộ học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, bảo đảm công bằng, khách quan và không tạo áp lực cho học sinh và phụ huynh.

Báo Nhân dân


【#3】Chuyển Biến Tích Cực Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Trường Phổ Thông

(GD&TĐ) – Cả nước hiện có 20 tỉnh, thành phố đã và đang tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số (DTTS) cho 108.329 học sinh thuộc 7 dân tộc: Khmer; Hoa; Chăm; Êđê; Jrai; Bahnar và H’mông.

(GD&TĐ) – Cả nước hiện có 20 tỉnh, thành phố đã và đang tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số (DTTS) cho 108.329 học sinh thuộc 7 dân tộc: Khmer; Hoa; Chăm; Êđê; Jrai; Bahnar và H’mông. Theo đánh giá của Hội nghị tổng kết dạy tiếng DTTS trong trường phổ thông, do Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Nghĩa chủ trì tổ chức tại Nha Trang ngày 14/10/2011: khó khăn lớn nhất của công tác dạy học tiếng DTTS hiện nay là đội ngũ giáo viên thiếu và yếu.

Bước ngoặt xoay chuyển sự phát triển mạnh của việc dạy tiếng DTTS là ngày 15/7/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở GD phổ thông và trung tâm GD thường xuyên. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa: Phải chờ đến cuối tháng 10/2011 mới có Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị định 82 nói trên của Chính phủ.

Năm học 2010 – 2011 vừa qua, thống kê của Vụ GD dân tộc (Bộ GD&ĐT) cho thấy: việc dạy tiếng DTTS được triển khai ở 688 trường, 4764 lớp, 108.329 học sinh (HS) và 1.543 giáo viên (GV). So với năm học trước tăng 137 lớp với 2.489 HS, tăng nhiều nhất là HS học tiếng H’mông và tiếng Bahnar.

Kết quả xếp loại môn tiếng DTTS năm học vừa qua: số học sinh khá giỏi tăng 4,4% ở bậc tiểu học; tăng 6,6% ở bậc THCS. Qua việc học tiếng DTTS, khiến HS học tập hứng khởi hơn, ít bỏ học hơn, hỗ trợ tốt hơn trong việc học các môn khác. Tỉ lệ HS học tiếng DTTS đạt khá giỏi cao nhất là môn tiếng Hoa (bình quân đạt 73,2%); môn tiếng Khmer (bình quân đạt 53,8%); thấp nhất là môn tiếng H’mông chỉ được 38,2% học sinh khá giỏi. Nhìn chung ở 7 môn học tiếng DTTS cả nước, năm học 2010-2011 có 93,9% học sinh tiểu học và 88,4% học sinh THCS đạt học lực từ TB trở lên…

Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa (trái) và Vụ trưởng Nguyễn Thị Thu Huyền chủ trì hội nghị

Nổi bật nhất là tỉnh Sóc Trăng, đã triển khai dạy tiếng Khmer cho toàn bộ các trường THCS của tỉnh. Tỉnh Đăk Lăk dạy tiếng Êđê cho tất cả các trường PTDT nội trú huyện và tỉnh. Các địa phương: TPHCM; Cà Mau; Kiên Giang; Sóc Trăng; Cần Thơ và Hậu Giang đã dạy tiếng Hoa tăng cường từ 3 đến 5 tiết/tuần lên 8-10 tiết/tuần. Đặc biệt tại Sóc Trăng và Trà Vinh có gần 1/3 số dân toàn tỉnh là đồng bào Khmer, đã có hàng trăm nhà sư tự nguyện dạy tiếng Khmer miễn phí cho hàng ngàn HS trong dịp hè (chủ yếu dạy học trong chùa).

Khó khăn lớn là nhiều chương trình dạy học tiếng DTTS vẫn đang ở dạng thực nghiệm hoặc thí điểm. Tiếng Hoa bậc THCS đang dạy học thí điểm. Tiếng Chăm Jawi đang dạy học thực nghiệm ở An Giang; Tây Ninh. Tiếng Êđê đang thực nghiệm ở Đăk Nông và Đăk Lăk. Một số tỉnh theo nhu cầu của HS đã tổ chức dạy học tiếng DTTS của chương trình tiểu học cho học sinh bậc THCS. Đến nay, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các trường Sư phạm xây dựng chương trình đào tạo GV dạy tiếng DTTS trình độ cao đẳng và đại học, đã ban hành được 4 chương trình đào tạo GV dạy tiếng Khmer; tiếng Chăm; tiếng Jrai và tiếng H’mông trình độ đại học.

Thách thức lớn nhất trong việc dạy tiếng DTTS là lực lượng GV quá mỏng, kể cả cán bộ quản lý (CBQL) chỉ đạo việc dạy tiếng DTTS cũng vậy.

Phó giám đốc Sở GD&ĐT Gia Lai ông Ksor Jil cho biết tỉnh hiện có 90.202 HS Jrai (chiếm khoảng 30% HS phổ thông toàn tỉnh), nhưng chỉ có 244 GV dạy tiếng Jrai. Học sinh Bahnar có 36.223 em (chiếm khoảng 11% học sinh phổ thông toàn tỉnh), nhưng chỉ có 32 GV dạy tiếng Bahnar. Theo nhu cầu thực tế, Gia Lai cần bổ sung gấp đôi số GV này.

Tại Sóc Trăng, theo ông Sơn Hoàng Minh Tâm (phòng GDDT-Sở GD&ĐT): tỉ lệ HS Khmer đến cuối năm học 2010-2011 là 37.744 em – chiếm 28% HS phổ thông toàn tỉnh, nhưng chỉ có 316 GV dạy tiếng Khmer, trong đó 90% là GV tiểu học. Hầu hết số GV này chỉ mới có bằng Trung học sư phạm (hệ 9+3 hoặc 12+2). Với qui mô học sinh Khmer rất lớn như trên, Sóc Trăng đang thiếu trầm trọng GV dạy tiếng Khmer bậc THCS và THPT.

Theo đại diện các sở GD&ĐT Nghệ An; Yên Bái: hầu hết GV dạy tiếng H’mông của tỉnh đều chưa được đào tạo sư phạm chính quy, theo đúng trình độ chuyên môn của từng bậc học.

Ông Thái Văn Tài – Trưởng phòng GD&ĐT Krông Na (Đăk Lăk) cho biết: học sinh các DTTS của huyện chiếm 27% – chủ yếu là học sinh Êđê đang học tiếng Êđê ở 6 trường tiểu học với gần 700 em. Trong 37 GV là người dân tộc thiểu số, chúng tôi chỉ chọn được 19 GV biết sử dụng tiếng Êđê để dạy học. Trong đó chỉ có 6 GV thực sự đủ năng lực dạy tiếng Êđê bậc tiểu học, được định biên làm CBQL cốt cán cho phòng GD trong việc dạy học tiếng Êđê.

Học sinh trường PTDT nội trú Nơ Trang Lơng – Đăk Lăk.

Trong việc vận dụng chế độ chính sách đối với GV và HS dạy học tiếng DTTS cũng có sự khác nhau. Có tỉnh áp dụng Nghị định số 61 về chế độ chính sách đối với nhà giáo, CBQL GD ở các trường chuyên biệt, ở vùng KTXH đặc biệt khó khăn, để chi trả chế độ cho GV dạy tiếng DTTS. Có địa phương vận dụng Thông tư liên tịch số 50 về hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở GD công lập, để chi trả chế độ cho GV dạy tiếng DTTS. Lại có tỉnh chi trả theo chính sách riêng của địa phương (thỏa thuận theo hợp đồng). Nhìn chung HS học tiếng DTTS đều được cấp đủ sách giáo khoa. Một số tỉnh cấp giấy chứng nhận học tiếng DTTS cho HS. Các em còn được khen thưởng, được xếp ưu tiên về trình độ học tiếng DTTS, khi nhập học một số trường của địa phương…

Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền – Vụ trưởng vụ GDDT năm học 2011-2012 tiếp tục thay SGK tiếng Bahnar quyển 3. Tổ chức lấy ý kiến đánh giá của GV, HS, CBQL GD và PHHS về chương trình – SGK mới các tiếng: Jrai; Chăm; H’mông; Khmer. Hoàn thành việc chỉnh sửa SGK tiếng Êđê thực nghiệm để ban hành chính thức. Trong năm 2012, hoàn thành bộ SGK tiếng H’mông; tiếng Hoa tiểu học, để năm học 2012-2013 triển khai việc thay sách. Chuẩn bị xây dựng chương trình – SGK tiếng Xê đăng. Thống nhất đánh giá bộ SGK thực nghiệm tiếng Chăm Jawi. CBQL phụ trách dạy tiếng DTTS ở phòng ở Sở (kể cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) phải biết tiếng nói, chữ viết tiếng DTTS mà đơn vị mình đang phụ trách…

Tổng kết hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa biểu dương các địa phương có nhiều sáng tạo trong tổ chức dạy học tiếng DTTS, kể cả sáng tạo trong thực hiện chế độ đối với GV, HS dạy học tiếng DTTS. Cần tăng cường sử dụng GV DTTS dạy tiếng DTTS. Nên giao quyền chủ động sắp xếp lịch dạy học tiếng DTTS cho các trường để phù hợp với thực tế. Các địa phương chủ động lên kế hoạch và thực hiện bồi dưỡng cho GV dạy tiếng DTTS. Môn tiếng DTTS là môn học tự chọn, không đưa vào đánh giá xếp loại HS cuối năm khi Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 82 ra đời, sẽ giải quyết được những bất cập trong việc tổ chức dạy học tiếng DTTS và thực hiện chế độ chính sách đối với GV, HS. Tổ chức tốt dạy học tiếng DTTS sẽ góp phần quan trọng bồi dưỡng lòng tự hào, sự quý trọng tiếng “mẹ đẻ”. Đồng thời qua đó giúp học sinh các DTTS phấn khởi hơn trong học tập và thúc đẩy việc học các môn văn hóa khác được tốt hơn.

Đinh Lê Yên


【#4】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Được Hưởng Phụ Cấp Trách Nhiệm Công Việc

GD&TĐ – Hỏi: Xin được hỏi Tòa soạn, quy định về phụ cấp cho người dạy tiếng dân tộc thiểu số có còn hiệu lực không?

Năm học 2021-2016 này, tôi được phân công dạy dạy tiếng Khme, vậy tôi có được hưởng phụ cấp gì không? Xin cho biết cụ thể? – Nguyễn Bá Thiều (bathieu***@gmail.com)

* Trả lời:

Ngày 15/7/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và Trung tâm giáo dục Thường xuyên. Hiện tại văn bản này vẫn còn hiệu lực thi hành.

Theo đó tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 9 Nghị định này quy định về chế độ chính sách của giáo viên và người học cụ thể như sau:

Giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung; không áp dụng chế độ phụ cấp này đối với những người đã được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo quy định tại Điều 13 Nghị định số: 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Cụ thể: Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang dạy bằng tiếng và chữ viết của các dân tộc thiểu số thì được hưởng thêm phụ cấp 50% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Ngoài ra, theo Nghị định số: 82/2010/NĐ-CP, người học còn được Nhà nước đảm bảo sách giáo khoa, tài liệu tham khảo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với từng đối tượng. Người học là cán bộ, công chức, viên chức được hưởng chế độ đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước theo quy định.

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, nếu bạn chưa được hưởng thêm phụ cấp 50% theo quy định tại Điều 13 Nghị định số: 61/2006/NĐ-CP thì bạn hoàn toàn đủ điều kiện để được hưởng phụ cấp đối với giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số theo quy định tại Nghị định số: 82/2010/NĐ-CP.


【#5】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Ở Kon Tum

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Kon Tum đã được triển khai sâu rộng. Dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng chương trình này đã gặt hái được nhiều kết quả.

Chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông, được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum chính thức triển khai từ năm học 2008 – 2009, với 10 lớp dạy tiếng Bahnar tại 4 trường tiểu học Đăk Rơ Wa, Ngọc Bay, Bế Văn Đàn (thành phố Kon Tum) và Đăk Ruồng (huyện Kon Rẫy), với hơn 200 học sinh theo học; 2 lớp dạy tiếng Jrai tại trường tiểu học Ia Chim 1 và Ia Chim 2, cho 49 học sinh.

Dạy tiếng dân tộc cho học sinh từ lúc các em mới bắt đầu đi học.

Ảnh: Mộc Thanh

Trong năm học 2009 – 2010, chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số tiếp tục được mở rộng tại hai trường tiểu học Hùng Vương và Lê Văn Tám (huyện Sa Thầy), với 48 học sinh. Tiếp tục đưa tiếng dân tộc thiểu số vào giảng dạy, bảo đảm số học sinh người dân tộc thiểu số được học chữ ngày càng tăng, năm học 2013 – 2014, toàn tỉnh Kon Tum đã có 15 trường dạy tiếng dân tộc Bahnar và Jrai, trong đó có 10 trường dạy tiếng Bahnar với 822 học sinh, 5 trường dạy tiếng Jrai với 269 học sinh. Nhìn chung, đến thời điểm này, đa số học sinh theo học đều nắm được kiến thức kỹ năng cơ bản của chương trình. Kết quả tổng kết năm học 2013 – 2014: Tỷ lệ học sinh đạt trung bình trở lên là 98,5%, trong đó khá, giỏi đạt tỷ lệ 53,4%.

Bên cạnh đó, công tác dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng được quan tâm và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Đến cuối năm 2013, các Trung tâm giáo dục thường xuyên đã mở được 71 lớp, với 3.449 cán bộ, công viên chức theo học các thứ tiếng như Xơ Đăng, Bahnar, Jrai, Dẻ Triêng. Hầu hết các học viên theo học đều đã phát huy được hiệu quả khi về địa bàn công tác, đã thực sự xóa khoảng cách ngôn ngữ giữa cán bộ, công viên chức với người dân bản địa.

Nhiều giáo trình song ngữ đã được biên soạn để các trò vừa học tiếng Việt vừa học tiếng của dân tộc mình. Mộc Thanh

Bà Phạm Thị Trung, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum, khẳng định: Công tác dạy và học tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh phổ thông và cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Số học sinh dân tộc thiểu số được xóa mù chữ ngày càng cao, các cán bộ, công chức, viên chức sau khi theo học đã phát huy được hiệu quả trong công tác nắm địa bàn, giao tiếp với người dân bản địa góp phần vào công tác phát triển kinh tế, an sinh xã hội ở địa bàn.


【#6】Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số Cho Học Sinh

Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho học sinh còn nhiều khó khăn.

Tỉnh Gia Lai hiện có gần 400.000 học sinh, trong đó học sinh là người dân tộc thiểu số chiếm gần 45%, chủ yếu là học sinh người dân tộc Jrai, Bahnar. Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đã tổ chức triển khai chương trình dạy tiếng Jrai, Bahnar và coi đây là một môn học tự chọn trong các trường học từ năm 2006 theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do, việc tổ chức dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn, số học sinh theo học tiếng dân tộc thiểu số ngày một giảm.

Theo số liệu thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, năm học 2014-2015, số học sinh theo học tiếng Jrai là 7.117 học sinh với 283 lớp, số học sinh học tiếng Bahnar là 1.101 học sinh với 41 lớp. Tuy nhiên, đến năm học 2021-2018, số lượng học sinh theo học tiếng Jrai giảm xuống chỉ còn 1.271 học sinh với 48 lớp và 741 học sinh học tiếng Bahnar ở 29 lớp.

Phú Cần, xã Phú Cần, huyện Krông Pa cho biết: “Em học tiếng Jrai để bảo tồn chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Bà con trong làng đều nói tiếng Jrai nên nếu em không học, sẽ không hòa nhập được với mọi người. Lúc trước, lớp học đông lắm, nay các bạn nghỉ gần hết”.

Lý giải tình trạng học sinh theo học tiếng Jrai và Bahnar giảm mạnh trong khối các trường học, ông Huỳnh Minh Thuận, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai cho biết: Để đảm bảo việc dạy 2 tiết/tuần của các môn học tự chọn, các cơ sở giáo dục phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất như phòng học, sách, thiết bị, tiêu chuẩn, trình độ người dạy, nhu cầu của người học theo tinh thần tự nguyện của phụ huynh và học sinh.

Từ năm học 2008-2009, sách giáo khoa môn tự chọn tiếng Jrai và Bahnar được cấp miễn phí cho các trường học có tổ chức dạy học tiếng dân tộc. Tuy nhiên, từ năm học 2021-2016, sách không được cấp miễn phí và cũng không được bán trên thị trường.

Các trường muốn dạy tiếng dân tộc thiểu số phải pho to sách, kinh phí không thu được từ phụ huynh. Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cũng không được đào tạo chuyên ngành, chỉ có chứng chỉ tiếng Jrai hay Bahnar.

Ngoài ra, từ năm học 2021-2017, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2020, định hướng đến 2025” theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trong điều kiện không thể dạy học tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày, các trường đã điều chỉnh giảm nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác, để tập trung tăng thời lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn. Đây cũng là một trong những lý do các trường học buộc phải giảm hoặc bỏ dạy tiếng Jrai, Bahnar cho học sinh để có thời gian tăng cường dạy tiếng Việt.

Nhiều trường không đủ điều kiện, khó tổ chức mở lớp do gặp khó khăn về sách giáo khoa, thời lượng bố trí tiết học, nhu cầu của phụ huynh, đội ngũ giáo viên… là những nguyên nhân khiến việc tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc như một môn học tự chọn gặp khó khăn, ông Huỳnh Minh Thuận cho hay.


【#7】Khó Khăn Trong Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số

Khó khăn trong dạy tiếng dân tộc thiểu số

Đến nay, Chương trình đã được triển khai rộng rãi trong các trường học của tỉnh và nhận được sự hưởng ứng tích cực của phụ huynh và các em học sinh tiểu học.

Tuy nhiên, bất cập nhất của chương trình là từ năm học 2008 – 2009 đến nay, nhà trường chỉ được cấp phát một lần sách giáo khoa (sách dạy học tiếng Ba Na) với số lượng 100 cuốn cho ba khối lớp 3, lớp 4 và lớp 5. Qua nhiều năm dùng chung, bộ sách này đã rách rời, hư hỏng, chưa được cấp mới. Để có sách cho học sinh học tập, nhà trường đã phải tự trích kinh phí để phô-tô-cóp-py sách cho các em. Theo cô giáo Y Lưu, giáo viên dạy tiếng Ba Na của trường cho biết, học sinh DTTS rất phấn khởi, tiếp thu bài nhanh và nhớ lâu khi tiết học có tranh ảnh trực quan. Sách phô-tô-cóp-py không có mầu, không có bộ tranh dạy học… phần nào đã làm giảm sự hưng phấn tiếp thu bài của học sinh. Vì vậy khi được phân công dạy tiếng Ba Na cho các em, cô Y Lưu đã phải tự mày mò làm đồ dùng dạy học, sưu tầm tranh, ảnh để phục vụ công tác giảng dạy.

Theo Sở GD và ĐT tỉnh Kon Tum, hiện nay nhu cầu học tiếng DTTS của học sinh trên địa bàn tương đối cao. Tuy nhiên, cùng với hạn chế về các điều kiện cơ sở vật chất nói chung, vấn đề đội ngũ giáo viên thiếu hụt và thiếu tính kế thừa là nguyên nhân cơ bản mà ngành chưa đáp ứng được hết theo yêu cầu. Theo báo cáo của ngành giáo dục Kon Tum, tất cả giáo viên dạy tiếng DTTS hiện nay trên địa bàn đều chưa được đào tạo về nghiệp vụ dạy tiếng dân tộc. Việc mở mã ngành đào tạo giáo viên dạy tiếng DTTS tại trường cao đẳng sư phạm địa phương gặp khó khăn do thiếu đội ngũ giảng viên và thiếu kinh phí triển khai.

Mặt khác, theo yêu cầu của Bộ GD và ĐT, tất cả học sinh THCS trên cả nước đều phải học môn ngoại ngữ, cho nên ở bậc tiểu học, các trường phải hướng các em học ngoại ngữ để khi học lên bậc THCS mới theo kịp chương trình. Vì vậy Bộ GD và ĐT cần chỉnh lý, biên soạn giáo trình tiếng DTTS Ba Na, Gia Rai một cách ngắn gọn, phù hợp hơn với cách nói, cách viết, cách dùng từ của người dân địa phương, đồng thời sớm hoàn thành biên soạn sách giáo khoa dạy tiếng dân tộc Xê Đăng đưa vào giảng dạy để học sinh người DTTS có thể vừa lựa chọn học tiếng dân tộc mình vừa học ngoại ngữ theo chương trình chung.


【#8】Đắk Lắk: Tăng Cường Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 1 Người Dân Tộc Thiểu Số

Có thể nói, tăng cường năng lực về tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) nhất là học sinh lớp 1 là một trong những yếu tố quan trọng, giúp nâng cao chất lượng giáo dục ở miền núi.

Để tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh lớp 1 người dân tộc thiểu số, Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho hơn 150 cán bộ quản lý và gần 500 giáo viên cốt cán, qua các buổi tập huấn, giáo viên có thêm hiểu biết về kiến thức, kỹ năng xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt và áp dụng vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non; tất cả các giáo viên chủ động, học tập, không ngừng nâng cao hiểu biết về chuyên đề.

Nhiều địa phương đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động sự tham gia đóng góp nguồn lực của các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể, các đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người DTTS.

Trước khi vào lớp 1, đa số trẻ em người DTTS chỉ được giao tiếp bằng tiếng Việt trong phạm vi trường mầm non. Những nơi thường xuyên sử dụng tiếng Việt như khu vui chơi, nơi mua bán… các em vùng DTTS khó khăn chưa có cơ hội tham gia thường xuyên. Vì vậy học sinh DTTS ở lớp 1 khả năng nghe, nói hạn chế, việc giao tiếp giữa thầy và trò diễn ra không thuận lợi.

Nhằm giúp giáo viên tháo gỡ khó khăn trên, lớp tập huấn tiếp tục bồi dưỡng các phương pháp tăng cường kĩ năng nghe- nói cho học sinh lớp1 qua các dạng bài Nói từ và mẫu câu; Đọc thơ; Kể chuyện theo tài liệu Em nói tiếng Việt (Đề án tăng cường tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số); hướng dẫn xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt trong trường, lớp học; tổ chức giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” thông qua các hoạt động: đọc thơ, kể chuyện, múa hát, viết chữ đẹp, hùng biện… nhằm tạo cơ hội cho trẻ được giao tiếp tiếng Việt thường xuyên.

Đối với học sinh tiểu học, có đọc thông viết thạo tiếng Việt mới có cơ hội học tốt các môn học khác. Trong thời gian tới, bằng sự sáng tạo, các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền để cha mẹ học sinh người DTTS thường xuyên giao tiếp với con em bằng tiếng Việt; huy động giáo viên, nhân viên tham gia hỗ trợ tiếng Việt cho học sinh DTTS; chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1… vận dụng linh hoạt dạy học gắn với các hoạt động vui chơi sẽ giúp các em học sinh tiếp cận môn Tiếng Việt một cách nhẹ nhàng, hiệu quả hơn.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có hơn 4.000 trường mầm non có đông trẻ em là người DTTS; hơn 42 nghìn nhóm lớp có trẻ em người DTTS với số trẻ em người DTTS đến trường là hơn 887 nghìn trẻ. Để nâng cao chất lượng, một số địa phương như Gia Lai, Lào Cai, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Đắk Lắk… đã có nhiều sáng tạo trong xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non DTTS.

Mặc dù ngành giáo dục đã có nhiều giải pháp nhưng do vốn tiếng Việt của học sinh DTTS còn ít cho nên trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tham gia các hoạt động giáo dục. Ngoài ra, nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho trẻ còn hạn chế. Hầu hết các tỉnh đều thiếu giáo viên, vì thế đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ và chất lượng tăng cường tiếng Việt.

Cả nước có hơn 73 nghìn giáo viên mầm non dạy trẻ em người DTTS, trong đó, số giáo viên người DTTS trực tiếp dạy trẻ chỉ có gần 39 nghìn người. Nhiều giáo viên mầm non lúng túng trong việc lựa chọn nội dung và phương pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người DTTS, trong khi năng lực sư phạm của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên người DTTS còn hạn chế.

Công tác bồi dưỡng tập huấn cho đội ngũ của ngành giáo dục chưa thật sự hiệu quả, giáo viên còn máy móc, khó khăn trong thực hiện tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Mặt khác, tỷ lệ trẻ em người DTTS trong độ tuổi nhà trẻ ra lớp thấp, việc bảo đảm duy trì sĩ số và tỷ lệ chuyên cần chưa cao.

Vì học sinh DTTS gặp nhiều khó khăn nên đề nghị cần có quy định biên chế lớp riêng cho những trường có tỉ lệ học sinh DTTS trên 50% tối đa 30 học sinh/ lớp.

Thời gian tới cần có chương trình dạy tiếng Việt linh hoạt hơn, phù hợp cho đối tượng học sinh DTTS theo hướng tăng về thời lượng, tăng về thực hành.

Tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị đồ dùng dạy học và các chính sách tài chính cho học sinh vùng sâu, vùng xa, học sinh DTTS nhằm tạo điều kiện học tập tốt hơn cho các em.


【#9】Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc Thiểu Số:

hả năng sử dụng tiếng Việt là yếu tố quyết định đến chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt là học sinh tiểu học, do chương trình phổ thông áp dụng cho toàn quốc, không phân biệt vùng, miền. Hai năm qua, dù ngànhGiáo dục có nhiều cố gắng nhưng kết quả đạt được vẫn chưa như mong muốn. Nhiều nỗ lực

Trong ba bậc học phổ thông, việc dạy tiếng Việt cho học sinh ở bậc tiểu học rất quan trọng, vì đây là bậc học đầu tiên. Một học sinh dân tộc thiểu số vào lớp 1 phải có ngay khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt thì mới có thể giao tiếp, hiểu lời thầy cô giảng bài, làm bài tập… Thực tế, trước khi đến trường, các em học sinh dân tộc thiểu số giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ và không biết viết; khi vào lớp 1 phải biết tiếng Việt, chí ít là nói được để giao tiếp và phải viết được tiếng Việt.

Học sinh dân tộc thiểu số đang cần nhiều sự hỗ trợ để nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt.

– Trong ảnh: Một lớp học tại xã Đăk Mang, huyện Hoài Ân. Ảnh: H.L

Bà Hồ Thị Phi Yến, Trưởng Phòng Tiểu học – Mầm non (Sở GD-ĐT), cho biết: “Từ năm học 2010-2011, Sở đã chỉ đạo các Phòng GD-ĐT trong tỉnh tổ chức nhiều hình thức tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số như: tổ chức dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 trước khi bước vào năm học mới, lồng ghép việc dạy tăng cường tiếng Việt vào các môn học, các hoạt động giáo dục và tổ chức các trò chơi học tập để tạo môi trường giao tiếp tiếng Việt cho học sinh, tăng thời lượng môn Tiếng Việt lớp 1 từ 350 tiết/năm thành 500 tiết/năm cho học sinh lớp 1 tại các trường tiểu học học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Các trường chưa có điều kiện tổ chức dạy 2 buổi/ngày thì thực hiện phương án dạy phụ đạo cùng với học sinh yếu vào buổi thứ hai trong ngày và các ngày thứ bảy, chủ nhật (3 tiết/tuần)”.Bậc tiểu học còn phối hợp với bậc học mầm non trong huy động trẻ 4, 5 tuổi ra lớp. Tất cả trẻ 5 tuổi đều qua chương trình Giáo dục mầm non mới, các huyện nằm trong Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) sử dụng tài liệu Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường, nên số trẻ vào học lớp 1 đều học qua chương trình mẫu giáo 5 tuổi và được làm quen với môi trường giao tiếp tiếng Việt…. Những nỗ lực ấy được đền đáp bằng một số kết quả đáng phấn khởi. Bà Phạm Thị Bộ, Phó Trưởng Phòng GD-ĐT huyện Vân Canh, cho biết: “Năm 2009-2010, sau khi tham dự Dự án PEDC, Phòng đề xuất với huyện thực hiện ngay việc tăng cường tiếng Việt trong trường học. Kết quả ba năm học qua, tỉ lệ học sinh yếu, kém giảm hẳn, số em khá giỏi tăng dần đều. Đặc biệt, khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt của các em, kể cả học sinh lớp 1 cũng được cải thiện nhiều”. Một minh chứng thuyết phục khác là tại Chương trình Giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” dành cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số cấp tỉnh năm 2012, những thứ hạng cao của phần thi Viết chữ đẹp và Kỹ năng – Kiến thức tiếng Việt đều thuộc về học sinh huyện Vân Canh.

Những chương trình gặp gỡ, giao lưu tiếng Việt cần được nhân rộng dưới nhiều hình thức hấp dẫn. – Trong ảnh: Trao thưởng cho học sinh đoạt giải tại Chương trình Giao lưu “Tiếng Việt của chúng em” cấp tỉnh.

Chưa thể yên tâm Dù có bước tiến ở một số địa phương, nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều học sinh tiểu học dân tộc thiểu số vất vả “đánh vật” với tiếng Việt. Chuyên viên phòng GD-ĐT một huyện miền núi nhiều năm theo dõi mảng giáo dục miền núi cho rằng, việc xóa rào cản ngôn ngữ còn nhiều trở ngại. Trước hết là nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số của một số chính quyền địa phương, thể hiện ở việc chần chừ áp dụng tăng thời gian dạy tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết, bởi việc này đụng đến “kinh phí”. Tiếp đến là nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số. Khá đông ông bố bà mẹ trẻ biết nói tiếng Việt, nhưng vẫn giữ thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ ở nhà, xem nhẹ việc hỗ trợ nhà trường, giúp con học tiếng Việt. Vậy là ở trường, các em giao tiếp bằng tiếng Việt, nhưng khi về nhà lại nói tiếng mẹ đẻ, nên rất khó tiến bộ. Phần lớn giáo viên giảng dạy tại các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số là người Kinh, không thông thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số nên gặp khó khăn khi giao tiếp với học sinh. Một số người giảng dạy lâu năm hoặc đã tham gia học các lớp dạy tiếng dân tộc thiểu số do các huyện tổ chức nhưng cũng chỉ có thể nói vài câu thông thường. Có một điều gây băn khoăn là hàng năm, tỉnh đều cử hàng chục con em đồng bào dân tộc thiểu số đi học cử tuyển, nhưng số giáo viên là người dân tộc thiểu số lại rất ít, thậm chí có trường không có người nào. Thiết nghĩ, ở bậc mầm non và tiểu học, giáo viên giảng dạy là người dân tộc thiểu số, hiểu tiếng, hiểu bản sắc, sâu sát tâm tư, tình cảm của học sinh thì kết quả học tập nhất định sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Bà Hồ Thị Phi Yến cho biết: “Thời gian tới, Sở sẽ tiếp tục có những văn bản chỉ đạo để thúc đẩy phong trào học tập tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, nhất là những vùng cao, vùng sâu bằng những hoạt động phong phú, đa dạng theo kiểu “học mà chơi, chơi mà học” để các em thích thú và thoải mái tham gia. Ngoài ra, sẽ vận động phụ huynh đóng vai trò tích cực trong việc tạo điều kiện và tiếp sức để con em mình đến gần với tiếng Việt hơn”. Rõ ràng, ở góc độ chuyên môn, ngànhGiáo dục đang cố gắng tạo chuyển biến song chừng ấy vẫn chưa thể yên tâm khi chính quyền địa phương và phụ huynh còn bàng quang.


【#10】Khó Khăn Trong Việc Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

Với học sinh người dân tộc thiểu số, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai để tiếp thu kiến thức và trao đổi với xã hội một cách thuận lợi hơn. Khi đến trường các em phải làm quen với một ngôn ngữ khác hoàn toàn tiếng mẹ đẻ nên trong quá trình học tập cũng bị ảnh hưởng không ít. Rào cản tiếng Việt đối với học sinh người dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên khi tiếp cận chương trình giáo dục quốc gia là vấn đề khiến cho những người làm công tác giáo dục ở vùng cao luôn trăn trở bấy lâu nay.

Với những học sinh ở bậc mầm non chuẩn bị lên lớp 1, vốn Tiếng Việt vẫn còn rất mới mẻ với các em. Chính điều này đã làm cho các giáo viên ở bậc tiểu học gặp nhiều khó khăn trong việc giảng dạy. Đây cũng là thực trạng chung ở các địa bàn vùng sâu của tỉnh Gia Lai. Mới đây, tại huyện Kbang, khi ngành giáo dục thực hiện một cuộc khảo sát chất lượng cho hơn 2.000 học sinh tiểu học từ lớp 2 đến lớp 5 thì có trên 50% không đọc thông, viết thạo. Còn chuyện đọc sai lỗi chính tả, sai dấu thì gần như 100%. Với những học sinh đầu cấp khi đến lớp, nhiều em vẫn còn chưa thông thạo Tiếng Việt nên tiếp thu kiến thức cũng khó khăn hơn.

Mặc dù các trường học đã tăng cường nhiều biện pháp để cải thiện kết quả, song do vốn Tiếng Việt của học sinh người dân tộc thiểu số còn hạn chế, nên các em tiếp thu bài học khá chậm. Vì vậy, khi thầy, cô giáo giảng bài, các em không hiểu được nghĩa của từ nên mau quên. Vấn đề này cứ kéo dài năm này qua năm khác và chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai bỏ học ngày càng nhiều.

Mời quý độc giả theo dõi các chương trình đã phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trênTV Online!


Bạn đang xem chủ đề Dạy Tiếng Dân Tộc Thiểu Số trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!