Top 11 # Xem Nhiều Nhất Dạy Đọc Tiếng Anh Lớp 2 Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Maytinhlongthanh.com

Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Môn Tập Đọc Lớp 2

“NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TỐT PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2” A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong hệ thống giáo dục, bậc tiểu học đóng vai trò quan trọng vì đây là cấp học đầu tiên đặt nền móng để các em tiếp tục học lên các cấp học cao hơn. Trong các môn học thì môn TV có mối quan hệ mật thiết với các môn học khác. Nếu HS đọc viết kém thì khó mà học tốt được các môn khác. HS đọc tốt thì khi học các môn khác mới đọc đúng, hiểu đúng nội dung bài, hiểu đúng yêu cầu của bài tập để làm bài cho đúng.

Trong thực tế giảng dạy, học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, kĩ năng đọc của các em còn nhiều hạn chế. Đọc đúng đã khó, để các em đọc hay còn khó khăn hơn nhiều. Do vậy các em cần có kỹ năng đọc bao gồm:

– Đọc thành tiếng, phát âm đúng, ngắt nghỉ hơi một cách hợp lý, cường độ đọc vừa phải ( không đọc to quá, không đọc lí nhí,) tốc độ đọc vừa phải không ê a, không ngắc ngứ, liếng thoắng ).Yêu cầu đọc rõ tiếng, đọc khoảng 50 tiếng / phút.

– Đọc thầm, đọc hiểu nội dung là cách đọc không thành tiếng, không mấp máy

môi. Qua đọc thầm học sinh hiểu được các từ, ngữ trong đoạn văn, bài văn. Nắm được nội dung của câu, đoạn, bài đã học.

Bên cạnh đó một số giáo viên chưa nắm vững quy trình dạy tập đọc, phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực của học sinh mà chủ yếu giáo viên còn nói nhiều, HS tiếp thu một cách thụ động.

Vì thế giáo viên tổ chúng tôi chọn chuyên đề Tập đọc với mong muốn Ban giám hiệu và giáo viên toàn trường dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm để đổi mới phương pháp, các hình thức, biện pháp tổ chức dạy học sao cho phù hợp yêu cầu dạy học và nâng cao kĩ năng đọc đúng, bước đầu tập đọc diễn cảm cho học sinh, tạo điều kiện cho các em học tốt tất cả các môn học ở tiểu học.

B. DẠY TẬP ĐỌC TRONG MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2

1/ Phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho HS cụ thể là:

a/ Đọc thành tiếng:

– Phát âm đúng, ngắt nghỉ hơi hợp lí .

– Cường độ đọc vừa phải ( không đọc quá to hay quá nhỏ )

– Tốc độ đọc vừa phải ( không ê, a ,ngắc ngứ hay liến thoắng ), đạt yêu cầu tối thiểu vào cuối năm học khoảng 50 tiếng trên 1 phút.

b/ Đọc thầm và hiểu nội dung bài:

– Biết đọc thầm là đọc không thành tiếng.

– Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh ( bài đọc); nắm được nội dung của câu, đoạn và ý nghĩa bài đã đọc.

c/ Nghe:

– Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài .

– Nghe – hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy, cô.

– Nghe – hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn .

d/ Nói:

– Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc .

– Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc .

2/ Trao dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của HS về cuộc sống.

II/ NỘI DUNG DẠY HỌC :

1. Số bài, thời lượng học .

Trung bình, một tuần, HS được học 2 bài tập đọc, 1 bài 2 tiết và 1 bài 1 tiết. Như vậy, tính cả năm, HS được học 62 bài tập đọc với 93 tiết .

2. Các loại bài tập đọc:

a) Xét theo thể loại văn bản .

– Văn bản văn học: Văn xuôi và thơ trung bình mỗi chủ điểm 2 tuần có 1truyện vui ( HK1) câu chuyện ngụ ngôn (HK2) ngoài ra có văn bản khoa học, báo chí, hành chính….được bố trí xen kẽ trong các tuần.

b) Xét theo thời lượng dạy .

Có 31 bài tập đọc được dạy nối liền 2 tiết, 31 bài dạy trong 1 tiết. Những bài dạy nối liền 2 tiết đều là truyện kể, đóng vai trò chính trong mỗi chủ điểm.

III/ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU: 1. Đọc mẫu:

Đọc mẫu của GV bao gồm :

– Đọc toàn bài: thường nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế học đọc cho HS .

– Đọc câu, đoạn: nhầm hướng dẫn, gợi ý hoặc ” tạo tình huống ” để HS nhận xét, giải thích, tự tìm ra cách đọc…

– Đọc từ, cụm từ: nhầm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng cho HS .

2. Hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ ngữ trong bài, tìm hiểu nội dung bài :

a). Hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ ngữ trong bài .

+ Những từ ngữ cần tìm hiểu nghĩa :

– Từ ngữ khó đối với HS được chú giải ở sau bài đọc .

– Từ ngữ phổ thông mà HS địa phương chưa quen .

– Từ ngữ đóng vai trò quan trọng để giúp người đọc hiểu nội dung bài .

Đối với các từ còn lại. Nếu có HS nào chưa hiểu, GV giải thích riêng cho HS đó hoặc tạo điều kiện để HS khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa ra giảng chung cho cả lớp.

+ Cách hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của từ :

GV có thể giải nghĩa, nêu ví dụ cho HS hiểu, hoặc gợi ý cho HS làm những bài tập nhỏ để tự nắm nghĩa của từ ngữ bằng một số biện pháp như sau :

– Đặt câu với từ ngữ cần giải nghĩa .

– Tìm từ ngữ đồng nghĩa với từ ngữ cần giải nghĩa .

– Tìm từ ngữ trái nghĩa với từ ngữ cần giải nghĩa .

– Miêu tả sự vật, đặc điểm được biểu thị ở từ ngữ cần giải nghĩa .

Ngoài ra, cũng có thể giúp HS nắm nghĩa của từ bằng đồ dùng dạy học ( hiện vật, tranh vẽ, mô hình , … )

b). Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài :

+ Phạm vi nội dung cần tìm hiểu :

– Nhân vật ( số lượng, tên, đặc điểm ), tình tiết của câu chuyện: nghĩa đen và những nghĩa bóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ .

– Ý nghĩa của câu chuyện, của bài văn, bài thơ .

+ Cách tìm hiểu nội dung bài đọc :

Phương hướng và trình tự tìm hiểu nội dung bài đọc thể hiện ở những câu hỏi đặt sau mỗi bài. Dựa vào hệ thống câu hỏi đó, GV tổ chức sao cho mỗi HS đều được làm việc để tự mình nắm nội dung bài .

Sau khi HS nêu ý kiến, GV sơ kết, nhấn mạnh ý chính . Trong quá trình tìm hiểu bài, GV cần chú ý rèn cho HS cách trả lời câu hỏi, diễn đạt ý bằng câu văn gọn, rõ .

3. Hướng dẫn đọc và học thuộc lòng : a). Luyện đọc thành tiếng .

Đọc thành tiếng bao gồm các hình thức: từng HS đọc cá nhân ( CN ), một nhóm ( cả bàn, cả tổ ) đọc đồng thanh ( ĐT ), cả lớp đọc ĐT, một nhóm HS đọc theo phân vai.

b). Luyện đọc thầm .

Dựa vào SGK, GV giao nhiệm vụ cụ thể cho HS nhằm định hướng việc đọc – hiểu (Đọc câu , đoạn hay khổ thơ nào? Đọc để biết , hiểu , nhớ điều gì ? …). Có nhiệm vụ, yêu cầu từ dễ đến khó, nhằm trau dồi kỹ năng đọc – hiểu. Cần khắc phục tình trạng HS đọc thầm một cách hình thức, GV không nắm được kết quả đọc hiểu của HS để xử lí trong quá trình dạy học .

c). Luyện học thuộc lòng ( HTL )

Ở những bài dạy có yêu cầu HTL, GV cần chú ý cho HS đọc kỹ hơn ( bước đầu diễn cảm ); có thể ghi bảng một số từ làm ” điểm tựa ” cho HS dễ nhớ và đọc thuộc, sau đó xóa dần hết ” từ điểm tựa ” để HS tự nhớ và đọc thuộc toàn bộ; hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện HTL một cách nhẹ nhàng, gây hứng thú cho HS , …

4 . Ghi bảng:

Nội dung ghi bảng nói chung cần ngắn gọn, súc tích, đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm. Hình thức trình bày bảng cần mang tính thẫm mĩ, có tác dụng giáo dục cho HS. Việc ghi bảng cần được kết hợp nhịp nhàng với tiến trình dạy học nhằm đem lại hiệu quả trực quan tốt nhất .

Thứ …….ngày …….tháng …….năm …….

TẬP ĐỌC

TÊN BÀI

Luyện đọc Tìm hiểu bài

( Ghi từ , cụm từ , câu , đoạn ngắn ( Ghi từ ngữ hoặc chi tiết nổi

bật cần ghi nhớ

Hoặc khổ thơ cần hướng dẫn đọc ) ý chính của đoạn , của khố thơ, của bài cần ghi nhớ…)

IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP ĐỌC

– Phương pháp phân tích mẫu: Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phân tích các vật liệu mẫu (văn bản) để hình thành các kiến thức văn học, các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ. Từ những hiện tượng chứa đựng trong các văn bản, GV giúp HS phân tích theo các nhiệm vụ đã nêu trong SGK để HS hiểu bài. Để HS phân tích mẫu được dễ dàng, GV có thể tách các câu hỏi, các công việc nêu trong SGK ra thành những câu hỏi, nhiệm vụ nhỏ hơn. Về hình thức tổ chức, tuỳ từng bài, từng nhiệm vụ cụ thể, GV có thể cho HS làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, sau đó trình bày kết quả phân tích trước lớp.

– Phương pháp thực hành giao tiếp: GV tổ chức các hoạt động trong giờ học sao cho mỗi HS trong lớp đều được đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc đồng thanh, đọc cá nhân, đọc theo nhóm…) được trao đổi nhận thức riêng của mình với GV, bạn bè.

Mỗi phương pháp và hình thức dạy – học phân môn Tập đọc đều có mặt mạnh và mặt hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng, từng khâu riêng của tiết học. Vì vậy không quá lạm dụng hoặc phủ định hoàn toàn một phương pháp và hình thức dạy học nào. Điều quan trọng là căn cứ vào nội dung, tính chất từng bài; căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của giáo viên; căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng học sinh mà lựa chọn, sử dụng kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học một cách hợp lý và đúng mức.

V/ QUY TRÌNH DẠY MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2 :

– Đối với bài tập đọc : KT HS đọc từng đoạn, hoặc nối tiếp mỗi em một đoạn và TLCH hoặc hỏi thêm về nội dung đoạn, bài để củng cố tiết học trước.

– Đối với bài HTL: KT HS đọc thuộc lòng đoạn hoặc cả bài và TLCH hoặc hỏi thêm về nội dung của đoạn, bài để củng cố tiết học trước.

– Cần ngắn gọn, gây hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc với văn bản sẽ học. Riêng bài tập đọc thuộc chủ điểm mới, giáo viên giới thiệu thêm cho học sinh biết vài nét chính về nội dung chủ điểm sắp học.

– Giáo viên chọn các biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kỳ, kéo dài thời gian.

a .Luyện đọc

– GV đọc diễn cảm toàn bài

– Hướng dẫn học sinh luyện đọc, kết hợp giải nghĩa từ

+ Đọc từng câu: HS nối tiếp nhau đọc từng câu (một hoặc 2 lượt). GV sửa lỗi phát âm ( nếu có) cho HS.

+ Đọc từng đoạn trước lớp: Một vài HS đọc nối tiếp từng đoạn trong bài ( một, hai lượt). GV giúp HS đọc đúng.

GV giúp HS nắm nghĩa các từ mới

+ HS đọc từng đoạn trong nhóm: Từng cặp HS đọc và góp ý cho nhau về cách đọc. GV theo dõi, hướng dẫn các nhóm đọc đúng. Đại diện nhóm thi đọc

+ Luyện đọc bài (HS đọc đồng thanh một đoạn chúng tôi cả bài, tùy theo bài dạy hoặc một vài HS đọc lại bài).

Cách 2: HS đọc thầm từng đoạn trả lời câu hỏi. HS khác nhận xét, bổ sung. GV nhận xét, kết luận.

4. Luyện đọc lại / học thuộc lòng ( Nếu SGK yêu cầu)

Luyện đọc lại được thực hiện sau khi HS đã nắm được nội dung bài đọc. Hình thức tổ chức luyện đọc lại là thi đọc ( giữa các cá nhân ). Yêu cầu chính của khâu này là luyện cho HS đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng mức. Riêng với một số lớp HS có trình độ khá, GV có thể giúp HS bước đầu có ý thức đọc diễn cảm với yêu cầu cụ thể như sau :

– Thể hiện được giọng điệu của từng nhân vật.

– Thể hiện được tình cảm của người viết .

Khâu luyện đọc lại được thực hiện theo các bước sau :

– GV đọc mẫu .

– GV lưu ý HS về giọng của từng nhân vật hoặc toàn bộ đoạn văn , bài văn .

– GV tổ chức cho HS thi đọc CN và uốn nắn cách đọc cho HS .

– GV hướng dẫn HS học thuộc lòng ( nếu SGK yêu cầu )

Khâu luyện đọc HTL được thực hiện theo các bước sau:

+ Luyện đọc xóa dần bảng. Xóa từng cụm từ đến khi chỉ còn những từ đầu câu làm điểm tựa. Luyện đọc theo bàn, tổ, dãy bàn.

+ Hs thi đọc thuộc lòng khổ thơ, cả bài thơ

+ GV nhận xét.

5. Củng cốm, dặn dò: Học sinh có thể nêu nội dung ( hoặc ý nghĩa của bài), liên hệ thực tế, giáo dục qua bài học.

– Nhận xét tiết học: tuyên dương – nhắc nhở.

VI/ KẾT LUẬN

Phân môn Tập đọc nói riêng môn Tiếng Việt nói chung đóng vai trò quan trọng là nền tảng giúp học sinh học tốt các môn khác, đồng thời giúp học sinh yêu thích Tiếng Việt hơn. Muốn dạy tốt phân môn Tập đọc, mỗi giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn thực hiện .

Tóm lại, trong quá trình dạy học, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của HS. Cho nên, mỗi giáo viên chúng ta cần mạnh dạn đổi mới phương pháp sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, nên tạo không khí lớp học tích cực, sôi nổi để học sinh cảm thấy tự tin, thoải mái, để học sinh thấy được mỗi ngày đến trường là được học rất nhiều điều mới lạ và mỗi ngày đến trường là một ngày vui .

Qua chuyên đề ” Nâng cao hiệu quả dạy tốt phân môn Tập đọc lớp 2 ” nội dung chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong sự đóng góp của quý đồng nghiệp để chuyên đề được tốt hơn.

Sơn Mai, ngày …..tháng ……..năm 2019

Duyệt của tổ trưởng Người báo cáo Nguyễn Thị Lành

Nguyễn Thị Lành @ 21:57 02/10/2019 Số lượt xem: 2219

Chỉ Bạn Cách Dạy Đọc Tiếng Anh Lớp 2 Cho Trẻ Nhỏ Mẹ Nên Biết

Cách dạy đọc tiếng Anh lớp 2 mẹ nên biết – dạy trẻ cách lắng nghe

Trẻ thường rất hiếu động và chỉ ưu tiên học vào một khoảng khoảng thời gian không lâu. Việc tập trung thầy cô giảng bài trên lớp không hoàn toàn thư thái. do vậy, thầy cô và bố mẹ nên dạy trẻ kĩ năng lắng nghe khi người lớn đọc một cái gì đó. Cách học tiếng Anh trẻ em này không chỉ những giúp trẻ “nghe chủ động” mà còn giúp chúng xác thực được các câu hỏi who (ai), what (cái gì), where (ở đâu), why(tại sao), when (khi nào) và how (như thế nào). Sau khi thầy cô giáo yêu cầu trẻ đọc một bài tiếng Anh về đoạn mô tả ngắn, trẻ sẽ tự định hình được nội dung có trong phần đọc và đọc phát âm từ mới một cách trôi chảy hơn.

Phương pháp dạy đọc tiếng Anh lớp 02 cho các bé mẹ nên biết

Việc cứ khăng khăng bám sát theo giáo trình con nít sẽ bất cập khả năng đọc tiếng An của trẻ em. hơn nữa, để tăng cường khả năng học đọc tiếng Anh lớp 2 trên lớp tốt hơn, việc tăng cường dụng cụ học là điều cần thiết.

Những dụng cụ giúp miêu tả quá trình đọc rõ nét như máy nghe nhạc, điện thoại thông minh, truyền hình hay máy tính và các phần mềm kèm theo … sẽ làm tăng hoạt động của các bé, làm phong phú đa dạng hoá quá trình học tập. Việc đọc theo sách giáo khoa, phần mềm kèm theo hoặc đọc theo một bài thơ tiếng Anh trên điện thoại sẽ công tác nắm bắt ngôn ngữ của trẻ thêm dễ dàng hơn.

Cách dạy đọc tiếng Anh lớp 2 mẹ nên biết – bắt chước

Các mẹ nên sử dụng cách dạy đọc tiếng Anh lớp 2 cho trẻ đúng phương pháp để trẻ có thể phát huy trí thông minh ngay từ nhỏ. dù vậy, phụ huynh cũng nên làm đ.biệt chăm chú không nên ép buộc trẻ mà phải tạo thú vị cho trẻ tự học mới hiệu quả. Chúc bé học tiếng Anh thật tốt và chớ quên đồng hành cùng chúng tôi để biết thêm nhiều tin tức bổ ích.

9 Đề Thi Đọc Hiểu Lớp 1 Kì 2

Đề1

ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ II MÔN: TIẾNG VIỆT- LỚP 1 Năm học: 2012-2013 I. Kiểm tra đọc:( Học sinh dùng SGK Tiếng Việt 1 tập 2,trang 70) 1. Đọc thầm bài : Mưu chú Sẻ 2. Tìm tiếng trong bài đọc: a) Chứa vần oang :…………………………… b) Chứa vần uôn :……………………………… 3. Đánh dấu chéo (vào ô trống ) trước ý trả lời đúng cho câu hỏi sau: Đọc xong bài em thấy chú Sẻ như thế nào?

Ngốc nghếch nhanh trí hiền lành 4. Tìm từ ngữ trong bài đọc Mưu chú Sẻ để điền vào chỗ trống cho phù hợp. Buổi sớm, một………………………….chộp được một chú Sẻ.

II. Kiểm tra viết:( Giáo viên chép sẵn bài lên bảng cho học sinh viết ) 1.Bài viết:

2. Điền d hay gi vào chỗ trống : – Bé nhảy …ây . – Thầy…áo dạy học. 3. Điền dấu hỏi hay dấu ngã vào những chữ in đậm cho phù hợp – Bản làng yên tinh quá. – Nam là một học sinh gioi .

Đề 2

NGƯỜI TRỒNG NAMột cụ già lúi húi ngoài vườn, trồng cây na nhỏ. Người hàng xóm thấy vậy, cười bảo: – Cụ ơi, cụ nhiều tuổi sao còn trồng na ? Cụ trồng chuối có phải hơn không ? Chuối mau ra quả. Còn na, chắc gì cụ đã chờ được đến ngày có quả. Cụ già đáp: – Có sao đâu ! Tôi không ăn thì con cháu tôi ăn. Chúng sẽ chẳng quên người trồng.

* Khoanh tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng cho các câu hỏi sau:Câu 1: Cụ già trồng cây gì?Trồng cây ổi. b. Trồng cây táo. C. Trồng cây na.Câu 2: Người hàng xóm khuyên cụ điều gì ? a. Cụ trồng chuối mau ra quả. b. Cụ trồng táo nhiều quả hơn. c. Cụ trồng ổi ăn cho ngon.Câu 3: Bà cụ trả lời thế nào ?Tôi không thích trồng chuối.Có sao đâu ! Tôi không ăn thì con cháu tôi ăn.Tôi thích ăn na hơn nên tôi trồng na.Câu 4: Viết 4 từ có tiếng chứa vần “oai “.

Câu 5: Viết một câu có tiếng chứa vần “oach “.

B – KIỂM TRA VIẾT (10 điểm) 1. Nghe – viết (8 điểm)HS viết đầu bài và hai khổ thơ đầu bài ” Đi học” – Tiếng việt 1 tập 2

Chuẩn Bị Vào Lớp 1: Cách Dạy Đọc

Theo khoa học, không nên dạy đọc và viết trước cho bé khi chuẩn bị vào lớp 1. Nhưng ở Việt Nam, vào lớp 1 mà chưa thuộc bảng chữ cái, bé yêu của bạn sẽ gặp nhiều khó khăn để theo được các bạn. Vậy cách nào dạy đọc-viết dễ hiểu cho con?

Nếu không dạy cho con trước khi chính thức vào tiểu học, bạn có thể đồng hành cùng con trong giai đoạn đầu, dạy đọc-viết cho con để bé nhanh chóng bắt kịp nhịp học tập với các bạn.

Các mẹo nhỏ sau đây giúp bé dễ nắm quy tắc đọc-viết và biết cách đọc tốt hơn. Ba mẹ nên dạy con theo thứ tự các bước sau.

Nên cho bé đọc bảng chữ cái theo chiều xuôi, ngược. Sau khi con thuộc mặt chữ, mẹ cho con đọc mặt chữ ngẫu nhiên, tránh việc bé đọc thuộc vẹt.

Nên dạy các bé nguyên âm trước, đó là: o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, y. Phụ âm sau.

Sau khi biết mặt chữ nguyên âm, kết hợp các dấu thanh để bé làm quen. Ví dụ u, ư, a, à, á, ả, ạ, ã… Đừng quên dạy con bài thơ “Chị huyền mang nặng ngã đau, anh không sắc thuốc hỏi đâu mà lành”, để bé dễ nắm 6 dấu câu cơ bản này.

Dạy bé đọc các nguyên âm có dấu thanh từ trên xuống dưới, từ trái qua phải cho quen giọng trước khi chuyển sang học ghép vần. Đặt phụ âm vào trước nguyên âm có dấu là thành từ, thành tiếng.

Mỗi ngày, cho con đọc các từ nguyên âm có dấu, bé sẽ đọc lại 1 nguyên âm 6 lần, như vậy khả năng thuộc chữ cái của con nhanh hơn rất nhiều, và bé sẽ nhớ các dấu rất lâu.

Ghép nguyên âm đơn

Ba mẹ chú ý chỉ dạy con các từ có nghĩa trong hệ thống tiếng Việt, không để con gán ghép những từ vô nghĩa, chẳng hạn những từ Cy, By không có nghĩa, không cần dạy.

Khi ghép được nguyên âm đơn, nên cho con biết chữ này nằm trong từ gì. Ví dụ dạy về Ca, chỉ cho con cái ca. Cá là con cái…

Lâu dần, bé sẽ tự phát hiện ra những từ quen thuộc xung quanh. Ba mẹ sẽ hỏi lại con chữ đó có trong từ gì, chẳng hạn “ngon” nằm cùng “món ngon”… Bé sẽ nghĩ 1 lúc và trả lời khá nhiều đấy.

Con sẽ quên rất nhanh, đó là do đặc điểm thần kinh của trẻ trong độ tuổi này. Đừng mất bình tĩnh khi dạy con, đồng thời gắn kết từ mới học với thực tế, con mới nhớ lâu.

Dạy từ đơn có thanh

Sau khi bé biết đánh vần và đọc: ba, bo, bô, bu, bư, bi, chúng ta dạy ghép thêm dấu thanh vào các chữ này để tạo nên từ mới. Đọc cho hiểu ba-huyền-bà, bo-huyền-bò… tạo thành các từ mới ba, bò, bố, bú, bi…

Khuyến khích con đánh vần từ đơn có thanh ở những từ bé thường bắt gặp hàng ngày. Cùng từ Ba hãy ghép nhiều dấu thanh vào để trẻ thấy cách cấu tạo từ đơn giản. Học tốt từ đơn có thanh và giải thích cho bé hiểu từ nào có nghĩa, từ nào không có nghĩa sẽ giúp bé rất nhiều trong việc luyện viết chính tả về sau.

Tương tự như nguyên âm đơn, hãy yêu cầu bé ghép các phụ âm đầu vào và thêm dấu thanh, chúng ta sẽ được các từ và các tiếng. Dạy con các tiếng đó phải đặt trong ngữ cảnh nào, phải chỉ cái gì, con gì, sự vật, sự việc gì. Chỉ có thế bé mới nhớ được lâu.

Có 15 nét và 39 chữ cái. Như vậy kiên trì trong 2 tháng là bé hoàn toàn có thể viết được.

Sau khi bé đọc tốt từ đơn, viết tốt chữ cái, bố mẹ cho con luyện đọc các từ và các câu có nghĩa. Khi chỉ con đọc câu dài, giúp các bé ngắt hơi, nghỉ hơi đúng dấu chấm, dấu phẩy.

Không chỉ dạy con biết đọc, ba mẹ phải giảng nghĩa cho con hiểu càng nhiều càng tốt. Mua cho con sách đơn giản dễ hiểu để trẻ tập đọc cho chuẩn. Sau khi đã biết đọc, việc tiếp cận kiến thức của trẻ dễ dàng và chủ động hơn, bạn sẽ đỡ vất vả trong việc tập đọc tập viết cho con.

Chuẩn bị vào lớp 1 chu đáo, con của bạn sẽ nhanh chóng tiếp thu và tiến kịp theo các bạn mà không cần ép trẻ học quá sớm.