Tuyển Sinh Văn Bằng 2 Trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội

Đất nước ta đang trong quá trình đô thị hóa – hiện đại hóa. Để làm được điều đó cần xây dựng 1 hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại. Ngành xây dựng đang cần 1 lượng lớn nhu cầu về nhân lực am hiểu về nhiều lĩnh vực khác nhau từ kinh tế, xây dựng, kiến trúc cho tới hệ thống quản lý. Do đó trường Đại học xây dựng hà nội liên tục tuyển sinh các lớp xây dựng nhằm đào tạo đội ngũ vững mạnh trong công tác xây dựng và hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng trên địa bàn cả nước

Năm 2021 trường Đại học xây dựng tiếp tục tuyển sinh theo hình thức xét hồ sơ (thí sinh không phải thi tuyển) hệ đại học văn bằng 2 ngành xây dựng:

  • Văn bằng 2 xây dựng công trình
  • Văn bằng 2 xây dựng dân dụng và công nghiệp
  • Văn bằng 2 kinh tế xây dựng
  • Các cán bộ, nhân viên và các thanh niên trên địa bàn thủ đô và các địa phương lân cận đang công tác tại các đơn vị có nhu cầu học tập, đã tốt nghiệp Đại học chính quy của tất cả các ngành nêu trên, kể cả các ngành thuộc khối kinh tế
  • Bắt buộc phải có 1 văn bằng là hệ Đại học chính quy hoặc tại chức từ xa
  • Tuyển sinh theo hình thức xét tuyển (không phải thi) đối với tất cả các ngành, kể cả khối kinh tế
  • Các thí sinh thuộc đối tượng tuyển sinh có đủ sức khỏe, tự tin vào năng lực và khả năng của mình hãy đăng ký ngay khóa học văn bằng 2 đại học xây dựng ngành xây dựng công trình
  • Đợt 1: tháng 5/2016
  • Đợt 2: tháng 7/2016
  • Đợt 3: tháng 9/2016
  • Đợt 4: tháng 11 – 12/2016
  • Lập dự án đầu tư xây dựng công trình: Hình thành, xây dựng và lập dự án đầu tư xây dựng công trình, lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình có quy mô từ nhỏ đến vừa cũng như tham gia trong các dự án lớn
  • Khảo sát và thiết kế xây dựng công trình: thực hiện các khảo sát, thiết kế kỹ thuật – thi công các công trình xây dựng
  • Kiểm định và cải tạo: Khảo sát, phân tích, kiểm định, đánh giá và thiết kế xây dựng công trình
  • Thi công công trình: Tổ chức thực hiện thi công các công trình

Ngành xây dựng công trình xây dựng có chuẩn đầu ra như sau:

    Kiến thức về lý luận chính trị, đạo đức hành vi người học văn bằng 2 xây dựng

+ Sinh viên tốt nghiệp có hiểu biết đúng đắn về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

+ Chấp hành nghiêm túc pháp luật Nhà nước, quy định của cơ quan làm việc sau khi tốt nghiệp

+ Có thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn và có khả năng nhận thức, đánh giá các hiện tượng 1 cách logic và tích cực

+ Có đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp tốt

+ Có tinh thần yêu nước, yêu đồng bào, gắn bó và có tinh thần phục vụ cộng đồng tốt

+ Có tinh thần trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm với cộng đồng

+ Có tính chủ động, tích cực, cầu tiến, sáng tạo trong công việc

+ Có tinh thần và kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả cao, tính chuyên nghiệp cao

    Khả năng về chuyên môn sau khi tốt nghiệp văn bằng 2 đại học xây dựng
  • Khả năng áp dụng các kiến thức toán học, các khoa học cơ bản cần thiết của một người kỹ sư
  • Khả năng phân tích lập dự án đầu tư xây dựng công trình với nhận thức đầy đủ về các tác động kinh tế môi trường và xã hội
  • Khả năng khảo sát, kiểm định, thiết kế, thi công xây dựng công trình
  • Nhận thức rõ về trách nhiệm, đạo đức chuyên môn nghề nghiệp xây dựng
  • Khả năng làm việc trong các nhóm đa ngành đồng thời với các kiến thức về quản lý, tổ chức công việc
  • Có nhận thức và khả năng tham gia vào việc học suốt đời để có thể làm việc hiệu quả trong bối cảnh những công nghệ mới liên tục xuất hiện
  • Có khả năng giao tiếp hiệu quả, bao gồm giao tiếp nói, viết và các dạng khác
  • Có kiến thức rộng để hiểu được tác động của các giải pháp kinh tế – kỹ thuật trong bối cảnh xã hội, kinh tế toàn cầu
  • Có hiểu biết về các vấn đề đương thời của đất nước, của khu vực và thế giới với tầm nhìn xa
  • Khả năng sử dụng những kỹ thuật, kỹ năng và công cụ hiện đại cần thiết cho thực tiễn kỹ thuật
  • Sau khi tốt nghiệp hệ văn bằng 2 đại học xây dựng, người kỹ sư ngành xây dựng công trình có thể làm việc trong các doanh nghiệp thuộc công nghiệp xây dựng như các công ty tư vấn, các công ty xây lắp, các tổ chức quản lý đầu tư xây dựng, các cơ sở nghiên cứu và quản lý khoa học công nghệ xây dựng, các cơ sở đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân trong lĩnh vực kỹ thuật công trình
  • Nếu bạn muốn nắm bắt những công nghệ kỹ thuật mới tiên tiến trên thế giới và Việt Nam, hay cả những nhận định tổng quát về thực trạng ngành xây dựng cũng như triển vọng phát triển của ngành, các công ty trong ngành và một số cơ hội đầu tư hãy đến với lớp học Văn bằng 2 xây dựng Đại học xây dựng để nâng cao kiến thức của mình

Đăng ký ngay để tham gia khóa học văn bằng 2 ngành xây dựng trường Đại học xây dựng

Ms Mai: 0979868620 Email: [email protected] Skype: quynhmai.2812

Keywords: học văn bằng 2, văn bằng 2 du lịch, văn bằng 2 xây dựng

Học Văn Bằng 2 Đại Học Ngành Luật Tại Tphcm

Căn cứ vào quyết định số 223/VB-TĐ, Nhà trường thông báo về việc tổ chức khai giảng lớp Văn bằng 2 Đại học ngành Luật tại TPHCM – Bình Dương như sau:

Chỉ tiêu tuyển sinh và ngành đào tạo:

– Chỉ tiêu tuyển sinh: 200

– Ngành đào tao: Luật kinh tế.

Đối tượng tuyển sinh: Tốt nghiệp từ trung cấp trở lên (Không phụ thuộc và ngành đã học)

– Thí sinh đã tốt nghiệp Trung cấp nghề, Trung cấp chuyên nghiệp, Cao Đẳng chính quy, Cao Đẳng nghề, Đại học…

– Thí sinh có thể liên thông trái ngành lên Đại học chính quy hoặc đăng ký học văn bằng 2.

Hồ sơ nhập học bao gồm:

– Phiếu đăng ký học.

– Bằng và học bạ hoặc bảng điểm (Bản sao)

– Sơ yếu lý lịch (có xác nhận của chính quyền địa phương)

– Bản sao công chứng Giấy Chứng minh nhân dân

– 02 ảnh chân dung cỡ 3×4

Thời gian và các loại hình đào tạo:

Luật kinh tế: Ngành học “đắt giá” trước ngưỡng cửa hội nhập

Quá trình hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp các nước đang hợp tác và cạnh tranh vô cùng đa dạng với nhiều hình thức hoạt động kinh doanh khác nhau. Theo đó, ngành Luật kinh tế trở thành một ngành nghề quan trọng, gắn liền với thiên chức định hướng, dẫn dắt và đảm bảo cho xã hội một môi trường kinh doanh công bằng, lý tưởng.

Luật kinh tế – “kim chỉ nam” của mọi sự phát triển bền vững

Luật kinh tế là ngành nghiên cứu và vận dụng những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế. Học ngành này, sinh viên được đào tạo kiến thức về pháp luật, thực tiễn pháp luật trong kinh doanh cũng như khả năng nghiên cứu và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong hoạt động kinh doanh đối với nền kinh tế Việt Nam.

Nhu cầu nhân lực cao, cơ hội việc làm đa dạng

Theo thông tin từ Bộ Tư pháp, từ nay đến năm 2021, ước tính chỉ riêng các chức danh tư pháp Việt Nam cần khoảng 13.000 luật sư, 2.300 thẩm phán, 2.000 công chứng viên, 3.000 chấp hành viên, 300 thẩm tra viên thi hành án dân sự và thừa phát lại. Con số trên còn tăng lên gấp nhiều lần khi tính đến lượng công chức làm việc tại các bộ, ban ngành và doanh nghiệp. Vì vậy, Luật kinh tế đang được xếp vào nhóm các ngành “khát” nhân lực của cả nước.

Sinh viên theo học ngành này, sau khi tốt nghiệp, có thể đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau như: chuyên viên tư vấn pháp luật tại các doanh nghiệp; chuyên viên thực hiện dịch vụ pháp lý tại các tổ chức dịch vụ pháp luật, văn phòng luật sư; chuyên viên lập pháp, hành pháp, tư pháp trong các cơ quan nhà nước hoặc nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật kinh tế.

Bên cạnh đó, trong thời đại đồng tiền không nằm yên trong két sắt mà luôn được tận dụng cho những cơ hội đầu tư như hiện nay, Cử nhân Luật kinh tế có cơ hội trở thành những chuyên gia tư vấn tài chính cung cấp cho khách hàng những quyết định đầu tư tài chính đúng đắn, sáng suốt. Tại Việt Nam, đây là một nghề mới giàu triển vọng.

Định hướng kết hợp chặt chẽ Luật học với thực tiễn kinh doanh

Với truyền thống 20 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường là trường đại học đào tạo đa ngành, đa bậc học có chất lượng hàng đầu trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Trong đó, Luật kinh tế là một trong những ngành đào tạo thế mạnh của Trường với ưu điểm vượt trội chú trọng đẩy mạnh tính ứng dụng thực tiễn.

Tại Đây, sinh viên ngành Luật kinh tế không chỉ được đào tạo bài bản kiến thức về hệ thống pháp luật quốc gia, kỹ năng xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mà còn được chú trọng trang bị những kỹ năng mềm cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tổ chức công việc, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn,… Đặc biệt, sinh viên của Trường thường xuyên thực hành, xử lý tình huống pháp luật thông qua phương pháp giáo dục “mô phỏng” phiên tòa giả định; tập sự tại các phiên tòa, văn phòng luật sư; tham gia CLB Pháp luật, sự kiện “Ngày hội Pháp luật” và các cuộc thi tìm hiểu pháp luật để phát triển toàn diện kỹ năng chuyên môn.

Đó chính là sự chuẩn bị chu đáo để các Cử nhân Luật kinh tế tương lai có thể vận dụng chính xác, nhuần nhuyễn, linh hoạt các quy định pháp luật cũng như thủ tục tố tụng và giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng đa dạng của nền kinh tế.

Luật Kinh tế – ngành học đang hút nhân lực

Hiện nay, nhu cầu về nhân sự trong ngành luật rất lớn, nhất là Luật Kinh tế. Trong xu hướng toàn cầu hóa, doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp các nước hợp tác và cạnh tranh với nhau trong hoạt động kinh doanh, dứt khoát phải trên nền tảng pháp luật. Nắm vững pháp luật là một trong những điều kiện quyết định thành công và tránh được những rủi ro không đáng có.

Tiến sĩ – Luật sư Chu Hải Thanh (đứng) trong một buổi trao đổi chuyên môn cùng đồng nghiệp

– Là một Luật sư xin ông cho biết tình hình hoạt động nghề luật, đặc biệt là nghề luật sư hiện nay ở TP Hồ Chí Minh như thế nào ạ?

TS-LS CHT: Có thể nói, thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn sôi động nhất của nghề luật, dẫn đầu là nghề luật sư. Tính đến đầu năm 2021, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 3.700 luật sư thực thụ hành nghề trong 1.200 tổ chức hành nghề luật sư và trên 1.000 người tập sự hành nghề luật sư. Đây là Đoàn Luật sư có số lượng luật sư thực thụ và người tập sự hành nghề luật sư đông nhất (cả nước hiện nay có 63 Đoàn Luật sư với khoảng 8.500 luật sư thực thụ và hơn 3.000 người tập sự hành nghề luật sư). Ngoài ra, tại thành phố chúng ta còn có 40 chi nhánh Công ty luật nước ngoài đang hoạt động.

– Đó có phải là nhu cầu thật để mở ngành đào tạo Luật Kinh tế?

TS-LS CHT: Đúng vậy. Trường luôn dựa theo nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội và của doanh nghiệp để đào tạo. Có như vậy, khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra trường mới có bảo đảm cao. Nhưng đào tạo Cử nhân Luật Kinh tế ra không chỉ để theo đuổi mỗi nghề luật sư mà còn hướng hoạt động ở nhiều nghề luật khác, như: tư vấn pháp lý doanh nghiệp, chuyên viên pháp luật trong các cơ quan, tổ chức…vv.

– Xin ông cho biết học Luật Kinh tế ở Trường có gì khác biệt so với các trường khác? Và triển vọng nghề nghiệp ra sao?

TS-LS CHT: Đào tạo ngành Luật Kinh tế dĩ nhiên phải theo chuẩn chung của nhà nước. Khác biệt mà chúng tôi hướng tới là tăng cường phần giới thiệu thực tiễn và tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận, tập giải quyết những vấn đề về áp dụng pháp luật, nhất là pháp luật trong lĩnh vực kinh tế. Muốn vậy, chúng tôi phải tập trung làm tốt hai khâu then chốt trước mắt: qui tụ đội ngũ giảng viên giỏi chuyên môn và xây dựng chương trình, giáo trình sát hợp với yêu cầu xã hội.

Ngoài các kiến thức chính quy bắt buộc trong chương trình, sinh viên ngành Luật Kinh tế còn được trang bị những kỹ năng mềm cần thiết như: ngoại ngữ, tin học, kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả trong nghiên cứu, kỹ năng giao tiếp và truyền thông, kỹ năng trình bày các vấn đề pháp lý kinh tế – thương mại bằng văn bản, bằng thuyết trình…

Thông qua Trung tâm Quan hệ Doanh nghiệp và Hỗ trợ Sinh viên của Trường nên sinh viên khi đang học đã có cơ hội gắn kết với doanh nghiệp để vừa có nơi thực tập và vừa có thể tự thể hiện khả năng của mình tìm kiếm việc làm sau này.

Luật kinh tế là gì? Học những gì?

Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tiếp đến sẽ là AEC và TPP, qua đó sẽ mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” cho những ai đam mê theo đuổi nhóm ngành Luật, đặc biệt là Luật kinh tế nhằm phục vụ cũng như tham gia vào bộ máy hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu này, nguồn nhân lực chất lượng cao Luật kinh tế là gì? Học những gì? là những vấn đề các bạn thí sinh phải tìm hiểu cặn kẽ trước khi nộp hồ sơ xét tuyển ngành học mới mẻ này.

ngành Luật Kinh tế sẽ luôn là đối tượng “săn đón” của các nhà tuyển dụng.

Theo nhận định của các chuyên gia, TP. HCM là địa bàn sôi động nhất của nghề luật. Đây chính là cánh cửa rộng mở để sinh viên Luật kinh tế đi đến những vị trí công việc hấp dẫn trong tương lai. Một khi đã hiểu rõ ” Ngành Luật kinh tế học những gì?

Sinh viên ngành Luật kinh tế được cung cấp kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về pháp luật, thực tiễn pháp lý, pháp luật trong kinh doanh; khả năng nghiên cứu và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

Một số môn học then chốt trong chương trình đào tạo ngành Luật kinh tế: Luật sở hữu trí tuệ, Pháp luật về doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Thủ tục đăng ký doanh nghiệp và thủ tục đầu tư, Phá sản và giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, Pháp luật kinh doanh bất động sản, Luật đầu tư, Pháp luật về đầu tư xây dựng…

Ngành Luật kinh tế được đào tạo ở nhiều trường như Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Kinh tế chúng tôi trong đó có thể kể đến Đại học Kinh tế – Tài chính chúng tôi (UEF). Học tại UEF, các bạn sẽ được học tập, sinh hoạt trong điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất, lớp học giới hạn sĩ số, tương tác hiệu quả với các giảng viên giàu kinh nghiệm trong hành nghề luật, đặc biệt là luật kinh tế, thương mại.

Bên cạnh chương trình học được cập nhật thường xuyên theo tiêu chuẩn các đại học hàng đầu thế giới, sinh viên ngành Luật kinh tế còn được lĩnh hội đầy đủ khối kiến thức về pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, kỹ năng tranh tụng tại các tòa án, trọng tài thương mại quốc tế, khả năng sử dụng ngôn ngữ chuyên môn, kỹ năng đàm phán, tư duy logic,… nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình thực hành nghề nghiệp khi ra trường. Đặc biệt, ngay từ năm thứ hai, sinh viên ngành Luật kinh tế của UEF đã có thể trực tiếp tham gia học việc, trải nghiệm thực tiễn tại các công ty Luật, Bộ phận tư vấn Luật trực thuộc các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Song song đó, sinh viên Luật kinh tế còn được trang bị tốt ngoại ngữ, đặc biệt là sử dụng thành thạo tiếng Anh chuyên về pháp lý để có thể trở thành các luật gia, trọng tài viên, các nhà hòa giải chuyên nghiệp trong môi trường thương mại toàn cầu.

ngành Luật kinh tế là gì? Học những gì?”, việc khám phá cơ hội nghề nghiệp của ngành học này sẽ giúp bạn tự tin hơn với sự chọn lựa của mình.

Học ngành Luật kinh tế ra trường làm gì?

Học ngành Luật kinh tế ra trường làm gì? và làm ở đâu?

Những thông tin từ bài viết sẽ giúp bạn định hướng rõ hơn về tương lai của mình khi chọn ngành Luật kinh tế là nền móng khởi nghiệp cho bản thân.

Học ngành Luật Kinh tế ra làm việc ở đâu?

Với các công việc trên, bạn có thể khẳng định năng lực của mình tại:

– Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, xã hội;

– Cơ quan nhà nước các cấp;

– Hệ thống tòa án nhân dân, các trung tâm trọng tài thương mại và các đơn vị cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý;

– Các viện nghiên cứu, đơn vị giáo dục;

Để có hành trang khởi nghiệp vững chắc, đòi hỏi bạn phải lựa chọn cho mình một chương trình đào tạo ngành Luật kinh tế uy tín, bạn có thể tìm hiểu thêm tại các trường như: Đại học Kinh tế Tài chính chúng tôi – UEF, Đại học Công nghệ – HUTECH, Đại học Mở Tp.HCM,…

Học ngành Luật kinh tế yêu cầu những gì?

Luật kinh tế là một trong một ngành nghề không thể thiếu của nền kinh tế tri thức hiện đại, gắn liền với sứ mệnh định hướng và kiến tạo nên những và đảm bảo cho môi trường kinh doanh công bằng và bền vững. Việc xác định rõ bản thân có phù hợp với Để thành công với

ngành Luật kinh tế hay không? Học ngành Luật kinh tế yêu cầu những gì? Để học ngành này cần những tố chất nào? là cơ sở để ai yêu thích ngành học này gắn bó lâu dài và gặt hái những thành tích tốt nhất trong quá trình theo học. ngành Luật Kinh tế, bạn cần có những tố chất sau:

1. Luôn cẩn thận, công bằng, khách quan và trung thực: Có thể xem đây là đức tính thiết yếu một người làm nghề luật. Với sứ mệnh thực thi công bằng, bạn phải xác minh cặn kẽ, chính xác sự việc, luôn đề cao, tôn trọng sự thật và không ngần ngại, chùn bước khi đấu tranh cho công lý.

2. Có một trí nhớ tốt: Chính là đáp án thứ 2 cho câu hỏi học ngành Luật kinh tế yêu cầu những gì? Nói đến ngành Luật là nói đến hệ thống các điều, các khoản, các chương…quy trình, thủ tục tố tụng. Để làm tốt công việc này đòi hỏi ở bạn một trí nhớ chính xác đến từng chi tiết, hơn nữa khả năng ghi nhớ còn giúp bạn giải quyết nhanh những tình huống, vụ án phải đối mặt.

TAG: văn bằng 2 luật; văn bằng 2 đại học luật kinh tế 2021 ; văn bằng 2 đại học luật tphcm 2021 ; văn bằng 2 đại học luật kinh tế ; văn bằng 2 đại học luật 2021 hcm ; văn bằng 2 đại học luật 2021 ; văn bằng 2 đại học luật tphcm 2021 ; học văn bằng 2 luật ở bình dương ; văn bằng 2 đại học luật chính quy ; văn bằng 2 đại học luật chính quy 2021 ; thi văn bằng 2 đại học luật có khó không ; văn bằng 2 đại học luật hồ chí minh ; văn bằng 2 đại học luật hành chính ; tuyển sinh văn bằng 2 luật chính quy ; văn bằng 2 đại học luật chính quy ; văn bằng 2 ngành luật hành chính ; văn bằng 2 đại học luật hệ chính quy ; văn bằng 2 luật dân sự ; văn bằng 2 dh luật tphcm ; văn bằng 2 đại học luật kinh doanh ; học văn bằng 2 luật dân sự ; học văn bằng 2 luật kinh doanh ; dh luật tuyển sinh văn bằng 2 ; văn bằng 2 đại học luật la gi ; thời gian học văn bằng 2 đại học luật ; văn bằng 2 đại học luật hệ vừa học vừa làm ; văn bằng 2 đại học luật hcm ; văn bằng 2 đại học luật học mấy năm ; văn bằng 2 luật học ở đâu ; văn bằng 2 đại học luật hình sự ; văn bằng 2 đại học luật kinh tế đại học mở ; văn bằng 2 đại học luật kinh tế tphcm ; văn bằng 2 khoa luật đại học quốc gia ; lịch học văn bằng 2 đại học luật tphcm ; lớp văn bằng 2 luật ; văn bằng 2 luật đại học luật ; văn bằng 2 luật đại học kinh tế luật ; tài liệu ôn thi văn bằng 2 luật ; lịch thi văn bằng 2 đại học luật hà nội ; văn bằng 2 luật thương mại ; văn bằng 2 luật thương mại quốc tế ; văn bằng 2 luật đại học mở hà nội ; văn bằng 2 đại học luật đại học mở ; học văn bằng 2 luật thương mại ; văn bằng 2 luật viện đại học mở ; muốn học văn bằng 2 luật ; văn bằng 2 ngành luật đại học mở ; văn bằng 2 luật năm 2021 ; văn bằng 2 ngành luật kinh tế; văn bằng 2 ngành luật đại học kinh tế ; văn bằng 2 ngành luật 2021 ; văn bằng 2 ngành luật kinh tế 2021 ; văn bằng 2 ngành luật tphcm ; văn bằng 2 luật tại vũng tàu ; văn bằng 2 luật tại hải phòng ; học văn bằng 2 đại học luật ở đâu ; học văn bằng 2 luật ở vũng tàu ; học văn bằng 2 đại học luật thành phố hồ chí minh ; học phí văn bằng 2 đại học luật ; học phí văn bằng 2 đại học luật tp hcm ; tuyển sinh văn bằng 2 luật 2021 tại vĩnh phúc ; văn bằng 2 luật quốc tế ; học văn bằng 2 luật ở quy nhơn ; tuyển sinh văn bằng 2 đại học luật tphcm 2021 ; tuyển sinh văn bằng 2 luật ; tuyển sinh văn bằng 2 luật 2021 ; tuyển sinh văn bằng 2 luật năm 2021 ; văn bằng 2 luật tphcm ; văn bằng 2 luật tphcm 2021 ; văn bằng 2 luật ueh ; văn bằng 2 luật viện đại học mở hà nội ; văn bằng 2 đại học luật vũng tàu ; văn bằng 2 đai học luật vinh ; văn bằng 2 đại học luật đại học vinh ; văn bằng 2 luật đại học trà vinh ; học văn bằng 2 luật tại vũng tàu ; văn bằng 2 luật từ xa ; học văn bằng 2 luật từ xa ; văn bằng 2 luật đào tạo từ xa ; văn bằng 2 luật hệ từ xa ; văn bằng 2 luật 2021 ; văn bằng 2 luật 2021 tphcm ; văn bằng 2 đại học luật tphcm 2021

Học Văn Bằng 2 Dược Sĩ

Chia sẻ:

Nếu bạn còn lưỡng lự, thiếu quyết tâm khi đăng kí học văn bằng 2 Ngành Dược sĩ, 7 lý do sau sẽ giúp bạn làm chủ được ngành học này.

Hẳn trong mỗi chúng ta không còn xa lạ gì với hình ảnh chiếc áo blouse của Dược sĩ. Dược sĩ gắn liền với quầy thuốc, nhà thuốc xuất hiện với mức độ tương đối tại nhiều nơi, trong từng ngóc ngách của các đô thị lớn hay trên các nẻo đường nông thôn.

Ngành Dược sĩ không phải là ngành duy nhất nhưng nó vẫn chiếm một vị trí riêng. Từ người trí thức cho đến người bần nông đều phải có hiểu biết ít nhiều về sử dụng thuốc trong sinh hoạt hàng ngày.

Khả năng sử dụng thuốc sẽ có lợi cho bạn vào một ngày nào đó khi đi xin việc. Hay khi bạn ốm đau, bạn sẽ không cần phải lưỡng lự không biết nên sử dụng loại thuốc nào trong tủ thuốc gia đình.

Với một bằng Dược sĩ nữa trong tay, bạn có thêm cơ hội khi có thể xin vào các công ty Dược, các nhà nhà thuốc, mở ra một cơ hội nghề nghiệp khác cho bản thân.

    Có thêm bằng Trung cấp Dược sĩ giúp bạn hấp dẫn hơn trong mắt nhà tuyển dụng

Tại một số công ty ở Việt Nam, luôn có một phòng y tế riêng để tiện cho việc chăm sóc sức khỏe cho nhân viên của mình, đảm bảo nhân viên luôn có sức khỏe tốt nhất để làm việc.

    Rèn luyện cho bạn tính kiên trì, cẩn thận và ngăn nắp

Kiên trì, cẩn thận và ngăn nắp là điều kiện bắt buộc phải có khi hành nghề Dược sĩ, vì đây là công việc đòi hỏi tính chính xác cao, thời gian lâu dài. Trong bào chế thuốc, để đảm bảo chế phẩm thuốc có hiệu lực điều trị cao cần nhiều công đoạn nghiên cứu và thực hiện chính xác, tỉ mỉ về nhiều lĩnh vực.

Tính gọn gàng, ngăn nắp giúp cho các thao tác hợp lý, nhanh chóng, giảm thiểu nhầm lẫn. Nhầm lẫn là điều cấm kỵ trong nghề dược, vì nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn gây nguy hiểm cho nhiều người, dẫn tới hậu quả khó lường.

Trong quá trình học tập, việc bạn phải tiếp xúc với tài liệu nước ngoài chưa qua chuyển dịch là thường xuyên. Chính vì vậy, bạn buộc phải có vốn ngoại ngữ phong phú để nhanh chóng tiếp thu những thành tựu y dược mới của thế giới. Tiếng Anh và tiếng Pháp là những ngôn ngữ đang được sử dụng phổ biến trên thế giới, sẽ rất thuận lợi cho bạn trong việc tiếp cận nền y học phương Tây hiện đại. Ngoài ra, học tiếng Trung cũng là một sự lựa chọn rất tốt nếu bạn quan tâm đến y học cổ truyền. Tất cả điều này làm cho vốn từ vựng của bạn trở nên phong phú hơn bao giờ hết.

Nếu bạn chọn lĩnh vực sản xuất hoặc kinh doanh phân phối thuốc, công việc này đòi hỏi bạn phải nhạy cảm, biết nắm thời cơ, năm được nhu cầu thuốc khi bệnh phát sinh, quy luật phát sinh bệnh. Ví dụ như mùa hè dễ bị lỵ, tiêu chảy…; mùa đông dễ viêm phế quản, hen phế quản; mùa xuân dễ bị viêm khớp, sởi…

Sự biến đổi của thời tiết cùng với sự phát triển không ngừng của các loại thuốc buộc bạn phải rèn luyện cho mình một khả năng kinh doanh nhất định để có thể ứng biến được với mọi hoàn cảnh và phát triển ngành nghề của mình. Đề tồn tại và phát triển hiệu thuốc bạn cần có những tố chất của người quản trị.

Không có nghi ngờ gì, Ngành Dược sĩ là một trong những ngành khá khó học. Bởi ngoài việc bạn có năng lực, thiên hướng về khoa học tụ nhiên, đặc biệt là các môn Toán, Hóa, Sinh, bạn cần phải có vốn tiếng anh phong phú để có thể đọc các tên thuộc một cách chính xác nhất. Nếu bạn đang cần một thử thách, học Dược sĩ là lựa chọn thú vị. Thử thách không chỉ nằm ở việc học về thuốc. Sau khi đã có vốn kiến thức kha khá, nhiều bài học mới tiếp tục mở ra cho bạn như những kỹ năng sử dụng thuốc, bảo quản, bào chế, làm chủ tình huống, kỹ năng giao tiếp khi tiếp xúc với khách hàng.

Đào tạo chuyển đổi văn bằng 2 Dược sĩ cấp bằng chính quy

Trường Trung cấp Y Khoa Pasteur Hà Nội: Phòng 115 Nhà N1, Số 101, Tô Vĩnh Diện, Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội

Điện thoại hỗ trợ: 04.6296.6296 – 09.8259.8259

Điện thoại: 0280.6553.333 Nhà trường liên tục tuyển sinh các lớp chuyển đổi văn bằng 2 trong tuần, trong và ngoài giờ hành chính (T7 & CN)

Tuyển Sinh Liên Thông Văn Bằng 2 Đại Học Ngành Kiến Trúc Công Trình

Bạn là sinh viên vẫn đang ngồi trên ghế nhà trường hay đã ra trường và đi làm. Bạn có đam mê về kiến trúc nghệ thuật, học văn bằng 2 Đại học ngành Kiến trúc là giải pháp hữu hiệu giúp bạn thực hiện mơ ước, theo đuổi mục tiêu để phát triển sự nghiệp sau này.

Bạn là sinh viên vẫn đang ngồi trên ghế nhà trường hay đã ra trường và đi làm. Bạn có đam mê về kiến trúc nghệ thuật, học văn bằng 2 Đại học ngành Kiến trúc là giải pháp hữu hiệu giúp bạn thực hiện mơ ước, theo đuổi mục tiêu để phát triển sự nghiệp sau này. Thấu hiểu những mục tiêu đó, Trường Đại học Chu Văn An thông báo tuyển sinh Liên thông – Văn bằng 2 Đại học ngành Kiến trúc với những nội dung sau:

1. Đối tượng tuyển sinh

– Hệ văn bằng 2 (Học 2 năm): Sinh viên đã tốt nghiệp Đại học các chuyên ngành khác; Hoặc đang học Đại học (Có giấy xác nhận viên sinh của Trường Đại học đang theo học).

– Hệ Liên thông từ Cao đẳng (Học 1.5 năm): Sinh viên đã tốt nghiệp hoặc đang học hệ Cao đẳng;

– Hệ Liên thông từ Trung cấp (Học 2.5 năm): Sinh viên đã tốt nghiệp hoặc đang học hệ Trung cấp;

Tuyển sinh Liên thông – Văn bằng 2 Đại học ngành Kiến trúc

2. Hình thức đào tạo

– Hình thức đào tạo: Chính quy, tập trung.

– Thời gian học: Tối Thứ 7 (18h – 21h); Ngày Chủ nhật (Sáng: 7h – 11h; Chiều 13h30 – 17h30).

– Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Đại học ngành Kiến trúc Chính quy do Trường Đại học Kinh Bắc cấp, theo phôi bằng của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

3. Hồ sơ tuyển sinh

– Hồ sơ tuyển sinh (Phát hành tại văn phòng tuyển sinh).

– Bản photo công chứng Bằng tốt nghiệp Trung cấp/Cao đẳng/Đại học và bảng điểm.

– Bản photo công chứng Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông (hoặc bổ túc văn hóa), Học bạ Trung học phổ thông, các giấy ưu tiên (nếu có).

– Giấy khám sức khỏe (xác nhận đủ sức khỏe để học tập).

– 02 CMND (Photo công chứng); 04 ảnh 4×6 (Có ghi rõ Họ tên; Ngày sinh; Nơi sinh phía sau ảnh).

– Lệ phí đầu vào và Học phí

Cách Học Nghe Tiếng Anh Cho Người Bắt Đầu

Nghe chính là cái gốc của giao tiếp. Muốn nghe được, người học phải nghe thật nhiều. Các bạn ở trình độ thấp (basic level) thường rất ngại nghe và không biết nghe thế nào. Bài viết này hướng dẫn các bạn cách nghe “mọi lúc mọi nơi”.

Đầu tiên, bạn chọn lấy một bài khoảng 3-5 phút, nghe lần đầu hiểu được khoảng 40% là ổn. Bạn hãy lưu nó vào điện thoại di động của mình, sau đó bắt đầu nghe liên tục một bài đó.

Ngôi sao võ thuật Lý Tiểu Long từng nói: “Tôi không sợ những kẻ tập một lần 10.000 cú đá, tôi chỉ sợ những kẻ tập 10.000 lần một cú đá”. Ở trình độ căn bản, điều này rất đúng. Nghe một bài tới cả trăm lần, hiểu rõ và thuộc lòng cách dùng từ, phát âm, diễn đạt thì tốt hơn là nghe nhiều bài và chẳng nắm được cái gì.

Do đó, bạn chọn được một bài thì cứ bài đó mà nghe mọi lúc, mọi nơi, đến mức biết được hết chỗ nào người ta ngừng, nghỉ; biết hết từ nào ở chỗ nào mình không nghe được.

Sau đó, bạn hãy xem “transcript” (bản chép lại nội dung bài nghe đó). Với những bài không có “transcript”, bạn có thể dùng điện thoại di động, bật phần mềm nhận diện giọng nói ( speech-to-text), chuyển sang tiếng Anh, cho máy nghe. “Transcript” từ phần mềm này về cơ bản là đúng.

Sau khi có “transcript”, bạn ngồi nghe tiếp và luận lại từ nào mình nghe sai, từ nào nghe thiếu, tại sao lại vậy; nghe cho đến khi sáng rõ như ban ngày, học thuộc cả những chỗ người ta nối âm, từ nào nhấn, từ nào không.

Bước tiếp theo, bạn hãy lẩm bẩm “shadow” theo, tức là họ nói gì, bạn nhắc lại theo y hệt. Tất nhiên, bạn nên giắt túi một chút kiến thức phát âm tiếng Anh để nói cho đúng. Như vậy, khả năng nói của bạn cải thiện được nhiều.

Khi luyện nghe một bài tới mức độ như vậy, bạn sẽ học được và nắm vững từng từ mới, từng cách diễn đạt, từng trọng âm từ, từng chỗ nối âm. Bạn sẽ có rất nhiều từ một bài nghe 3 phút mà rất nhiều người không có được dù học 4 năm đại học.

Bạn đừng sợ luyện tập như vậy tốn thời gian. Hãy nghe những lúc bạn làm những việc không cần nghĩ nhiều, ví dụ có thể bật loa (hoặc cắm ear-phone) khi bạn nấu cơm, rửa bát, chạy bộ, lái ôtô, ngồi taxi. Bạn có thể luyện nghe rất nhiều mà không ảnh hưởng gì đến cuộc sống hiện tại.

Một người để giao tiếp căn bản tốt cần khoảng 1.000 từ. Chọn ngẫu nhiên khoảng 5 bài nghe 3-5 phút và nghe đến thuộc hết cả, hiểu hết cả, mình nghĩ rằng cũng đến 1.000 từ vậy.

Tất cả có sẵn rồi, chỉ cần quyết tâm thôi.

Quang Nguyen

Cẩm Nang Tập Luyện Phát Âm Tiếng Việt

Tôi sẽ chia xẻ kinh nghiệm và sự hiểu biết về giáo khoa mà tôi có được sau hơn 2 thập niên chuyên dạy tiếng Việt cho người Mỹ và các trẻ em Việt sinh tại Mỹ.

Năm đầu dạy tiếng Việt cho người Mỹ, tôi đã theo phương pháp cổ điển như dùng ký hiệu phát âm để tập đọc chữ Việt hoặc nói để học viên nghe và lập lại. Nhưng càng dạy lâu, tôi càng không vừa ý với phương pháp này. Dạy tiếng Anh, dùng phương pháp ấy là đúng vì âm của mỗi nguyên âm không nhất quán.

Và để giúp học viên nhớ âm ngữ, tôi đã soạn ra một cẩm nang tập luyện phát âm như sau:

1. Xếp loại nguyên âm và phụ âm theo phương pháp ngữ học

2. Tập luyện cho nhuần từng loại

3. Tập luyện nguyên âm với các dấu

4. Thực tập và luyện từng phụ âm với sự phối hợp với nguyên âm

5. Áp dụng cách đọc các từ có nguyên âm đôi hay ba và luyện tập cho quen miệng.

Ngữ cảnh về việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

Bài viết này vận dụng hai khái niệm: ngữ cảnh văn hóa (NCVH) và ngữ cảnh ngôn ngữ (NCNN) để xem xét việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho học viên đã học xong chương trình tiếng Việt căn bản.

NCVH là toàn bộ hoàn cảnh bên ngoài ngôn ngữ, có tính chất ngoại chiếu như đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán chi phối cách ứng xử ngôn ngữ của một cộng đồng người. Nghi thức hỏi để chào, hạ bậc trong lời mời, nghi thức khiêm nhường trước lời khen tặng trong tiếng Việt đều thuộc bình diện này.

NCNN là toàn bộ hoàn cảnh bên trong ngôn ngữ, có tính chất nội chiếu, bao gồm tất cả sự tương tác giữa chủ thể và các phương tiện giao tiếp hữu quan. Nói rõ hơn, dù ở cấp độ nào: ngữ âm, từ vựng, cú pháp và cả tổ chức văn bản,chúng đều có sự khác biệt giữa các hằng thể tĩnh tại và các biến thể động, bao gồm biến thể ngôn ngữ gắn liền với người sử dụng và biến thể ngôn ngữ trong sử dụng.

Rõ ràng, nếu không được trang bị đầy đủ các tri thức hữu quan vừa nêu, sinh viên nước ngoài khó lòng sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo.

Luyện phát âm đối với thanh điệu tiếng Việt

Đối với người học ngoại ngữ nói chung, người nước ngoài học tiếng Việt nói riêng, vấn đề luyện phát âm luôn cần thiết ở mọi trình độ. Với tiếng Việt, một ngôn ngữ có thanh điệu, việc thể hiện âm vị thanh điệu luôn là một thách thức lớn đối với học viên, đặc biệt là những học viên có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ không có thanh điệu. Việc thể hiện đúng thanh điệu khi phát âm tiếng Việt không chỉ phải đạt yêu cầu trên mỗi âm tiết độc lập mà còn cả trong chuỗi kết hợp nhiều âm tiết với nhau.

Có nghĩa là người học phải làm chủ được thanh điệu của từng từ ở cấp độ câu, là cấp độ mà học viên sử dụng trong giao tiếp.

Chú trọng đến vấn đề này, chúng tôi tập trung tìm hiểu những lỗi phát âm của học viên đối với thanh điệu trong chu cảnh của chuỗi kết hợp. Hướng tiếp cận của chúng tôi xuất phát từ những lỗi thu thập qua quá trình giảng dạy. Từ đó rút ra những khuynh hướng mắc lỗi của học viên để xây dựng bài luyện tập.

Mục đích của đề tài này là cung cấp thêm tư liệu dạy phát âm đối với thanh điệu, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu cho một phòng lab luyện phát âm tiếng Việt.

Tôi Học Phát Âm Tiếng Việt

Bộ sách Tiếng Việt – Công nghệ giáo dục đã có từ lâu. Báo Phụ nữ chúng tôi đã từng lên tiếng về những sai sót trong biên soạn bộ sách này. Thế nhưng, làn sóng phản ứng đáng kể về bộ sách chỉ mới thực sự bùng nổ gần đây, khi người người ở mọi lĩnh vực đều phản đối phương pháp dạy tiếng Việt của nó. Sai sót về chi tiết trong biên soạn là điều dễ phát hiện và dễ sửa đổi. Nhưng, mọi cuộc luận bàn về phương pháp đều cần một cái nhìn cẩn trọng, hiểu biết và những đối sánh thực tế, nghiêm túc, chứ không thể dựa vào những cảm tính hời hợt về sự khác biệt…

Chúng tôi thuộc thế hệ 9X đời đầu. Vào lớp Một, tôi vẫn học phát âm và đánh vần theo cách truyền thống. Âm và chữ cái lúc này không có gì khác nhau. Tên chữ cái cũng là âm. Vậy nên, việc phát âm thật đơn giản: phát âm bằng cách đọc đúng tên chữ cái đó và đánh vần bằng cách đọc hết các tên chữ cái (lúc này được gọi là “âm”) theo thứ tự từ trái qua phải, rồi kết thúc bằng cách đọc đúng âm tiết của chữ đó. Ví dụ, thời của tôi, trẻ em miền Trung phát âm chữ “yêu” thành là “y – ê – u – yêu”. Chữ “quốc” là “u – ô – cờ – uốc – quờ – uôc – quốc – sắc – quốc”.

Lúc này, chúng tôi không quan tâm lắm đến khái niệm “âm” dù nó vẫn hay được cô giáo nhắc đến. Vì chữ thế nào, âm thế đó. Ngay cả việc đánh vần, tôi cũng chỉ cần đọc tên từng chữ cái lên là xong. Cách học này rất đơn giản, dễ nhớ. Thậm chí, nó không có gì phải ghi nhớ. Để đánh vần, học sinh cần biết hai kiến thức: tên chữ cái và cách phát âm âm tiết đang được đánh vần đó. Cụ thể, chỉ cần biết cách đọc âm “yêu”, âm “quốc”, đến lúc trả bài cho cô giáo thì trò cứ đọc tên từng chữ cái và thanh (dấu) đó lên, rồi kết thúc bằng cách dõng dạc đọc âm tiết đó là xong.

Mà, vì đang học tiếng mẹ đẻ, nên việc đọc được âm tiết “yêu” và âm tiết “quốc” hay bất cứ âm tiết nào khác (theo tiêu chí của cô giáo) là quá dễ dàng với chúng tôi. Đã thế, tên của từng chữ trong bảng chữ cái đều quen thuộc từ thời mẫu giáo. Cả hai kiến thức này đều không có gì mới, nên học sinh cứ thế mà “u – ô – cờ – uốc…”.

Việc học đánh vần chợt trở thành một… cuộc trình diễn thuần túy. Bởi các “chất liệu” của nó đều có sẵn trong thói quen của trẻ em Việt Nam. Việc đánh vần khi ấy chỉ là cách ghép những chất liệu có sẵn lại làm thành một trình tự đánh vần theo kiểu… một người có học lớp Một. Lần đó, tôi cùng một bạn nữa đến nhà của Như Thảo – một bạn học giỏi nhất lớp – để ôn bài dưới sự hướng dẫn của anh trai Thảo. Việc đánh vần hồi đó dễ như ăn kẹo với chúng tôi.

Thậm chí, có đứa mới bốn tuổi đã biết “đánh vần” theo kiểu “cờ ơm cơm, rờ au rau, bờ a ba” dù chưa viết được một chữ cái nào. Hồi đó, từng chữ cái đều trình bày kèm hình vẽ minh họa. Đến chữ “hổ”, chữ viết được in dưới hình vẽ một con hổ kinh điển. Như Thảo lẩm nhẩm đọc thầm trước, rồi dõng dạc làm mẫu, phát âm: “hờ – ô – hô – hỏi … cọp”. Chúng tôi bò lăn ra cười. Thực tế, hồi đó ở quê tôi, từ “con cọp” được dùng phổ biến hơn là “con hổ”. Cách đánh vần dựa vào thói quen đã “chơi khăm” cô bạn vốn là “thần tượng học tập” của tôi hồi đó.

***

Câu chuyện “hờ – ô – hô – hỏi … cọp” chính là câu chuyện cho thấy sự phụ thuộc vào thói quen của phương pháp đánh vần mới. Dĩ nhiên, “hờ – ô – hô – hỏi … cọp” là sự nhầm lẫn của một đứa trẻ. Nhưng, nếu không phải là “cọp” hoặc một con “hổ” nào đó đã được biết trước trong giao tiếp hằng ngày, thì những đứa trẻ ngày ấy cũng không có cách nào để hiểu trình tự âm thanh nào đã tạo ra âm “hổ” đó. Tức là, chúng tôi chưa từng được học phát âm thực sự.

Trong khi toàn bộ nhân loại học đánh vần để biết vị trí cấu âm, trình tự kết hợp âm để tạo ra âm tiết, thì chuyện đánh vần của bọn lớp Một chúng tôi thời đó thuần túy là một màn trình diễn kỹ năng tách “tên chữ cái” ra khỏi âm tiết để lần lượt đọc chúng cho thành một… âm tiết đã biết ban đầu. Nó hoàn toàn khác với một học viên học phát âm tiếng Anh được dạy cách đặt vị trí lưỡi, tạo khẩu hình miệng và cách đẩy luồng hơi để tạo ra một âm bất kỳ. Việc học phát âm đích thực có thể dạy một người vốn không sử dụng ngôn ngữ ấy cách phát âm đúng dựa trên những chi tiết thuần túy kỹ thuật. Còn chương trình phát âm tiếng Việt mà chúng tôi được học, chỉ dạy được cho người biết tiếng Việt một cách đánh vần tương đối.

Chính với chi tiết đó, nhiều người khẳng định đó mới là cách phát âm tiếng Việt dành cho người Việt. Nhận định này phát sinh đồng thời với việc phản đối mạnh mẽ cách đánh vần chú trọng âm theo chương trình Công nghệ giáo dục (CNGD) của giáo sư Hồ Ngọc Đại. Phương pháp phát âm của CNGD phân biệt rõ giữa âm và tên chữ cái, tạo ra những âm khác trong hành trình cấu thành âm tiết. Việc này trở nên quá rườm rà so với thói quen của nhiều người Việt, bởi “một khi đã rành rọt tiếng Việt, người Việt không cần quá rườm rà khi học phát âm”.

Thế nhưng, có thực sự người Việt đã rành tiếng Việt? Chưa kể những vấn đề phát âm có tính cá nhân hay đồng bào dân tộc thiểu số, thì riêng về khoảng cách địa lý đã tạo ra “rất nhiều tiếng Việt”. Mỗi phương ngữ lại có một hệ thống phát âm riêng. Và, chính cách phát âm đại khái phụ thuộc vào thói quen đã không dạy cho người Việt một thứ “tiếng Việt” đúng nghĩa. Học trò miền Trung, miền Nam không phân biệt được “an” – “ang”, “in”- “inh”. Học trò một số vùng phía Bắc không phân biệt được “l”, “n”.

Bởi, trong vốn từ ngữ “mẹ đẻ”, họ không có những âm tiết chuẩn xác nhất của những chữ đó. Cũng giống như bạn tôi đã không có “hổ” trong thói quen phát âm của mình. Còn phương pháp phát âm – con đường lẽ ra phải dẫn họ đến với từng âm tiết chuẩn xác theo quy ước chung của người Việt – thì lại chỉ là một hình thức trình diễn phép “tách – ghép” chữ cái thành một âm sẵn có. Nếu biết điều này, có lẽ một người thực sự yêu tiếng Việt sẽ không còn coi thường việc học phát âm một cách nghiêm túc, khoa học và triệt để nữa.

***

Nhiều người cảm thấy tiếng mẹ đẻ bị xúc phạm khi phương pháp CNGD phát âm giống nhau với nhiều chữ. Ví dụ, ba chữ “k”, “c”, “q” đều được phát âm là “cờ”. Điều này được bàn luận như một cú sốc với người Việt, khi ba chữ cái khác nhau rành rành lại đều được gọi tên chung, nhiều người còn than trời rằng, việc “gộp âm” này sẽ làm loạn chính tả Việt Nam. Thế nhưng, chưa kể đến tính chính xác của cách phát âm mới với ba chữ cái nọ, thì việc “ba chữ dùng chung một âm” đã không hề mới lạ với người học cách phát âm truyền thống như tôi. Chẳng đâu xa, ngay với hai chữ cái “i” (tên là “i ngắn”) và “y” (tên là “i dài”) – hai chữ cái viết khác rành rành.

Thế nhưng, toàn thể nhân dân ở đất nước này vẫn chỉ phát âm hai chữ này là “i”. Vậy, học sinh làm sao để phân biệt các chữ cái khác nhau khi nghe cùng một cách đọc? Thực ra, với tôi, thắc mắc này khá… cũ. Bởi chúng tôi đã thông suốt ngay từ thời tiểu học với luật chính tả – nguyên tắc chỉ ra các trường hợp chính xác để chọn “i” hoặc “y”. Với âm “cờ” cũng vậy: nguyên âm nào được phép đứng sau “k”, nguyên âm nào đứng sau “c”. Và bây giờ, khi chữ “q” được quy ước như một phụ âm độc lập trong âm tiết, đọc là “cờ”, thì chỉ được dùng trước âm đệm (u). Những “rắc rối” tưởng chừng mới được “vẽ” ra sau này, thực ra đã có từ trước.

Đến đây, làn sóng phản đối hẳn còn sôi sục, bởi nhóm người vẫn kiên quyết không thể đọc chữ “k” giống như đọc chữ “c” hay “q” được. Tôi khá đồng cảm với nhóm người này. Chỉ có điều, “cú sốc” này đến với tôi sớm hơn, đâu từ 6 năm trước. Hồi đó, trong một lần hiếm hoi lặng nghe ca từ của bài hát đang phát trên loa, chợt nghe ca sĩ Tấn Minh hát “tổ cuốc”, tôi khá… bàng hoàng. Rõ ràng đó là từ “tổ quốc”. Nhưng khi từ ấy lặp lại nhiều lần, tôi vẫn nghe Minh hát là “cuốc”.

Là một người khá quan tâm đến ngôn từ, tôi đặc biệt lưu tâm bất ngờ này. Hỏi một người bạn học văn ở chung phòng trọ khi ấy, tôi vẫn được bạn phát âm chữ “q-u” thành một phụ âm kép, đọc giống như cách đọc âm “w” trong tiếng Anh. Cho đến khi lên một từ điển điện tử để nghe phát âm, đồng thời hỏi nhiều thầy cô dạy chuyên ngành ngôn ngữ, tôi mới tin là phát âm chuẩn tiếng Việt của phụ âm này là /k/ (theo cách phiên âm truyền thống, giống với âm /k/ của chữ c và chữ k). Vậy là, gần 20 năm sau khi hoàn thành chương trình phát âm tiếng mẹ đẻ, tôi mới biết cách đọc chuẩn xác nhất những từ thân thương như “tổ quốc”, “quê hương”… Và đến lúc này, khi phương pháp phát âm tiếng Việt CNGD xác định lần nữa âm của chữ “q”, cả xã hội lại bước vào một cuộc bàng hoàng như tôi.

Tôi chưa có cơ hội kiểm chứng toàn bộ chương trình tiếng Việt CNGD dưới góc nhìn khoa học, và cũng xin phép không phân tích nó dưới những luận điểm học thuật chuyên sâu về ngôn ngữ. Chỉ xin nhìn nó bằng sự hiểu của một người đã và vẫn đang học tiếng Việt mỗi ngày. Những chi tiết đang bị dư luận bài bác khốc liệt này – thực ra chỉ chứng minh phương pháp CNGD đã có sẵn mầm mống trong những phát âm cũ. Từ việc “phát âm giống nhau với nhiều chữ cái”, hay phát âm quá khác so với tên gọi của chữ cái – đều là biểu hiện của việc thừa nhận sự khác nhau giữa tên chữ và âm.

Ngày trước, khi đánh vần “ka – ia – kia” và “cờ – a – ca”, tôi đã được dạy nguyên âm nào được đứng sau “ka”, nguyên âm nào được đứng sau “cờ”. Lúc đó, tôi đã không đủ kiến thức và bản lĩnh để đứng lên thắc mắc với cô giáo, rằng nếu không phải hai chữ có cùng một âm, thì tại sao phải học luật chính tả mới biết cách ký âm? Nhìn lại sự biến đổi giữa hai phép phát âm này, mới thấy, nó chính là hành trình thừa nhận sự khác biệt giữa tên chữ và âm trong tiếng Việt. Chỉ có điều, với “phiên bản cũ”, người ta thừa nhận ở mức độ… tình thế (âm nào không thể phát âm bằng tên chữ được thì mới phân biệt), còn cách phát âm mới đã triển khai nó một cách triệt để hơn. Và người Việt thì rơi vào một cuộc “bất đồng ngôn ngữ” vô tận bằng những tranh luận “lạc đề” về ngôn ngữ.

Minh Trâm

Cách Giúp Phát Âm Tiếng Việt Chuẩn Cho Người Nước Ngoài

Phát âm là vấn đề quan trọng khi học tiếng Việt bởi nếu nói sai ngữ pháp người Việt có thể hiểu ý bạn muốn nói, nhưng nếu nói sai một từ thì người Việt không thể hiểu. Tuy nhiên, phát âm lại là vấn đề khó khăn nhất cho hầu hết người nước ngoài học tiếng Việt.

Các âm trong tiếng Việt được cấu thành khá phức tạp từ: Phụ âm, nguyên âm, và thanh điệu. Vậy, làm cách nào để phát âm tiếng Việt chuẩn? Bài viết xin chia sẻ cho người học một số bí quyết sau đây:

Trước hết, học viên cần nắm được rằng tiếng Việt được cấu tạo từ các đơn âm nên việc học phát âm sẽ theo trình tự từ phát âm âm tiết đến phát âm chuỗi âm tiết, từ phát âm chuỗi âm tiết đến phát âm câu với ngữ điệu tự nhiên.

Phát âm mỗi âm tiết

Điều quan trọng khi học phát âm mỗi âm tiết là học viên cần nắm được tiêu chí phát âm và cấu hình miệng khi phát âm âm đó, ví dụ: phát âm ngắn gọn hay kéo dài, chuyển động của lưìi từ khi bắt đầu đến khi kết thúc âm ra sao, bật hơi hay không bật hơi,…Người nước ngoài học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai thường bị áp lực từ tiếng mẹ đẻ, do đó thường không nhận ra những nét khác biệt và thường qui âm nhận được thành âm tương tự có sẵn trong tiếng mẹ đẻ. Đối với trường hợp này, cần thiết phải có giáo viên hướng dẫn để người học có thể phân biệt và sửa lỗi ngay lập tức. Có rất nhiều người học có thể phản ánh và nhận thức đúng về các âm nhưng vẫn phát âm sai là do chưa thể tự điều chỉnh bộ máy phát âm theo ý muốn, trường hợp này học viên đó ý thức được lỗi phát âm của mình nhưng đòi hỏi phải có sự luyện tập chăm chỉ trong thời gian dài để có thể phát âm tiếng Việt chuẩn.

Nhận diện và phát âm

Với mỗi người bắt đầu học tiếng Việt, đều lo lắng không biết bắt đầu học tiếng Việt từ đâu? Việc đầu tiên là phải nhận diện âm tiết. Đó là việc người học từ tiếp nhận đến khái quát hóa âm đó đến lúc có thể thực hiện hóa tri thức của mình bằng việc phát âm. Thủ pháp để nhận diện âm tiết tiếng Việt cũng giống khi học các ngôn ngữ khác, là học viên cần phải nghe và lặp lại nhiều lần âm tiết đó. Với những âm tiết quen thuộc, có trong tiếng mẹ đẻ, người học sẽ rất dễ dàng bắt chước và phát âm chính xác. Vấn đề cần nói tới là các âm xa lạ (là khác nhau đối với các học viên đến từ những nước khác nhau) thì việc nhận diện không dễ dàng. Học viên cần phải nghe và lặp lại nhiều lần đồng thời có sự hướng dẫn của giáo viên để phân biệt các âm tương tự nhau mà học viên không tự nhận ra được sự khác biệt.

Học viên nên học theo từng cặp đối lập. Ví dụ, những học viên từ Nhật Bản hay Hàn Quốc thì khả năng nhầm lẫn giữa âm (b) rất cao, còn học viên là người nói tiếng Anh thường hay không phân biệt được âm (kh),…Biết được mình nhầm lẫn giữa những âm nào, học viên nên thường xuyên nghe và phát âm liên tục những âm đó, tập trước với những từ quen thuộc và có cấu trúc âm tiết đơn giản, sau đó với những từ phức tạp hơn. Ví dụ, học viên nên lập bảng như sau:

Luyện tập phát âm và luyện nghe luôn đi cùng với nhau. Học viên nên dùng audio hoặc nhờ giáo viên phát âm để nghe đi nghe lại và chỉ ra chính xác từ vừa được phát âm, ngược lại học viên cần luyện tập để phản xạ phát âm thật nhanh từ mà giáo viên yêu cầu. Qúa trình luyện tập ban đầu rất khó khăn, tốc độ chậm nhưng sau đó sẽ nhanh hơn, nếu không luyện tập thường xuyên, học viên sẽ rất dễ quên các âm đã học. Do đó, quá trình luyện tập đòi hái phải lâu dài, học viên cần kiên trì cho đến khi học viên có thể nhận diện và phát âm đúng âm bất kỳ lúc nào.

Phát âm chuỗi âm tiết

Học viên có thể phát âm được từng âm tiết không có nghĩa là luôn phát âm đúng âm tiết trong một chuỗi nhiều âm tiết. Học viên cần phải luyện tập kỹ năng phát âm chuỗi âm tiết vì trong thực tế nói năng, một ý cần nói thường là một câu với nhiều từ phối hợp với nhau.

Thường học viên sẽ mắc lỗi về thanh điệu khi phát âm một chuỗi âm tiết (đặc biệt đối với các học viên mà trong tiếng mẹ đẻ không có thanh điệu). Ngay cả khi học viên có thể phát âm đúng thanh điệu khi phát âm từng âm tiết cũng không có nghĩa là sẽ vẫn đúng khi phát âm một chuỗi có cùng hay không cùng âm điệu. Để khác phục lỗi sai này, học viên cần phải luyện tập theo hướng chuyển đổi liên tục giữa các thanh điệu. Ví dụ, nếu học viên phát âm âm thanh ngang giống thanh huyền sau khi phát âm thanh huyền thì cần phải luyện tập theo trình tự: “huyền-huyền-ngang”.

    Câu chứa thanh ngang: Ví dụ: Tôi đi chơi Nha Trang hôm qua.
    Câu chứa thanh huyền: Ví dụ: Bà Tùng vừa về nhà mình hồi chiều.
    Câu chứa thanh hái: Ví dụ: Thảo chỉ hái đổi mảnh vải đá.
    Câu chứa thanh ngã: Ví dụ: Gã đã vẽ kỹ lưìng mãi.
    Câu chứa thanh sắc: Ví dụ: Nó muốn nói với má: nó rất cố gắng.
    Câu chứ thanh nặng: Ví dụ: Một chuyện thật tội nghiệp tại bệnh viện: chị bị đụng thật nặng.
    Ngang-sắc-ngang: Ví dụ: không có chi, đi với tôi, xem máy bay, mua áo mưa,…
    Sắc-ngang-sắc: Ví dụ: thấy anh ấy, tối hôm đó, mấy con chó, khó khăn đấy,…
    Ngang-nặng-ngang: Ví dụ: đi chợ đêm, bưu điện xưa, viên kẹo to, nghiêng một bên,…
    Nặng-ngang-nặng: Ví dụ: một con bọ, thị ba rọi, chục viên kẹo, quẹo xe lại,…

  1. Chu Thị Quỳnh Giao – Phan Trần Công – Trần Thị Tâm, Luyện phát âm đối với thanh điệu tiếng Việt, Khoa Việt Nam học – Trường đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.Hồ Chí Minh.
  2. Phan Trần Công, Phương pháp dạy phát âm cho người nước ngoài bắt đầu học tiếng Việt từ lý thuyết đến thực tiễn dạy tiếng, Khoa Việt Nam học – Trường đại học KHXH&NV, ĐHQG TP.Hồ Chí Minh.
  3. Nguyễn Hưng Quốc (2014) Phương pháp dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai (Methods of Teaching Vietnamese as a Second Language), NXB NgườiViệtBook 2014.

Hướng Dẫn Nghi Thức Trì Tụng Chú Lăng Nghiêm

Trì tụng kinh kinh Lăng Nghiêm: Hộ trì Phật giáo

Kinh Lăng Nghiêm chính là một dạng xá lợi của Phật, chân thân của Phật. Những ai phê bình Kinh Lăng Nghiêm, bất luận là người nào, nếu là Bồ tát, cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả thì vị Bồ tát này lập tức bị đọa vào địa ngục. Nếu là A la hán, cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là giả thì vị A la hán này cũng sẽ lập tức bị đọa vào địa ngục. Cho nên bất luận là người nào phê bình Kinh Lăng Nghiêm, bất luận họ là ai, đều rơi vào địa ngục.

Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh quý báu vô cùng, chỉ đường lối tu hành một cách rành mạch, nào là giáo lý, hạnh quả đều rõ ràng. Người tu phải trải qua bao nhiêu địa vị, trong khi tu gặp những đều nguy hiểm thế nào, mà phải làm sao mới tránh khỏi những điều nguy hiểm ấy, thì trong Kinh-Lăng-Nghiêm dạy hết sức rõ ràng.

Kinh Lăng Nghiêm là một bộ Kinh đại diện cho toàn thể Phật Giáo, nếu không có Kinh Lăng Nghiêm thì sẽ không có Phật Giáo, cho nên Đức Phật mới tuyên nói trước là vào thời pháp diệt, thời Chánh pháp diệt tận, Kinh Lăng Nghiêm sẽ diệt trước, sau khi Kinh Lăng Nghiêm hoàn toàn diệt rồi, thì những Kinh khác mới lần lượt diệt theo. Cho nên những người đệ tử Phật chúng ta nếu muốn hộ trì Phật Giáo, trước phải hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, đến khắp nơi giảng Kinh Lăng Nghiêm, thuyết Kinh Lăng Nghiêm, phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm, đọc Kinh Lăng Nghiêm.

Đồng thời, điều chánh yếu là phải trì tụng Chú Lăng Nghiêm.

Nội dung kinh Lăng Nghiêm

Nội dung của kinh Lăng-Nghiêm là Phật chỉ dạy cho chúng ta ngộ được chơn tâm. Chúng ta vì không ngộ được chơn tâm nên phải vĩnh kiếp làm chúng sanh, trầm luân trong biển sanh tử, chịu không biết bao nhiêu khổ sở. Còn chư Phật thoát ly sanh tử luân hồi, được tự do giải thoát, thần thông tự tại, trí huệ vô ngại v.v….đều do các Ngài đã ngộ chơn tâm, nên mới được như thế.

Nói cho dể hiểu: Phật với chúng sanh vẫn đồng một thể tánh chơn tâm, nhưng các Ngài đã hoàn toàn giác ngộ được thể tánh ấy, nên mới thành Phật. Trái lại, chúng sanh vì mê muội thể tánh chơn tâm, nên phải bị sanh tử luân hồi. Nếu chúng sanh giác ngộ chơn tâm, thì sẽ được như Phật.

Ông A-nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp nào mà mười phương các Đức Phật đã tu hành và đều được chứng quả, thì Phật chỉ dạy, phải ngộ “Chơn tâm” mà thôi. Nếu ngộ được chơn tâm này thì thành Phật. Ngộ được chơn tâm, như người còn ngủ chiêm bao. Đây là phương pháp duy nhứt mà mười phương chư Phật tu hành đã được thành đạo chứng quả.

Hướng dẫn trì tụng chú Lăng Nghiêm

Nam mô Lăng Nghiêm Hội thượng Phật Bồ tát. (3 Lần)

Diệu trạm tổng trì bất động tôn,

Thủ Lăng Nghiêm Vương thế hy hữu.

Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng.

Bất lịch tăng kỳ hoạch Pháp thân. Thuấn-nhã-đa tánh khả tiêu vong,

Thước-ca-ra tâm vô động chuyển. Nam mô thường trụ thập phương Phật.

Nam mô thường trụ thập phương Pháp.

Nam mô thường trụ thập phương Tăng.

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm.

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Nam mô Kim Cang Tạng Bồ tát. Kính lễ chư Phật chư Bồ tát trong pháp hội

Thủ Lăng Nghiêm. (3 Lần) Hư không kia còn có thể tiêu mất,

Bổn tâm kiên cố không hề lay động. Nam mô thường trụ thập phương Phật.

Nam mô thường trụ thập phương Pháp.

Nam mô thường trụ thập phương Tăng.

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm.

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Nam mô Kim Cang Tạng Bồ tát.

Bấy giờ, Thế Tôn từ nơi nhục kế phóng ra hào quang trăm báu, trong hào quang phóng ra hoa sen báu ngàn cánh, có Hóa thân Như Lai ngồi trong hoa sen báu. Trên đảnh phóng mười đạo hào quang trăm báu, mỗi mỗi đạo hào quang đều thị hiện Kim Cang Mật Tích nhiều như số cát mười sông Hằng hà, tay đỡ núi, tay cầm chày, khắp cõi hư không. Ðại chúng ngước lên xem, vừa kính yêu vừa lo sợ, xin Phật thương xót che chở, nhất tâm lắng nghe đức Như Lai nơi Vô Kiến Ðảnh Tướng của Phật phóng ra hào quang tuyên thuyết Thần Chú.

01. Nam-mô tát đát tha

02. Tô già đa da

03. A ra ha đế

04. Tam-miệu tam bồ-đà tỏa

05. Nam mô tát đát tha

06. Phật đà cu tri sắc ni sam

07. Nam-mô tát bà

08. Bột đà bột địa

09. Tát đa bệ tệ

10. Nam-mô tát đa nẩm

11. Tam-miệu tam bồ đà

12. Cu tri nẩm

13. Ta xá ra bà ca

14. Tăng già nẩm

15. Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm.

16. Nam-mô tô lô đa ba na nẩm.

17. Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm.

18. Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm.

19. Tam-miệu dà ba ra

20. Ðể ba đa na nẩm.

21. Nam-mô đề bà ly sắc nỏa.

22. Nam-mô tất đà da

23. Tỳ địa da

24. Ðà ra ly sắc nỏa.

25. Xá ba noa

26. Yết ra ha

27. Ta ha ta ra ma tha nẩm

28. Nam-mô bạt ra ha ma ni

29. Nam-mô nhơn dà ra da

30. Nam-mô bà dà bà đế

31. Lô đà ra da.

32. Ô ma bát đế

33. Ta hê dạ da.

34. Nam-mô bà dà bà đế

35. Na ra dả

36. Noa da

37. Bàn dá ma ha tam mộ đà da

38. Nam-mô tất yết rị đa da

39. Nam-mô bà dà bà đế

40. Ma ha ca ra da

41. Ðịa rị bác lặc na

42. Dà ra tỳ đà ra

43. Ba noa ca ra da.

44. A địa mục đế

45. Thi ma xá na nê

46. Bà tất nê

47. Ma đát rị dà noa

48. Nam-mô tất yết rị đa da

49. Nam-mô bà dà bà đế

50. Ða tha dà đa câu ra da

51. Nam-mô bát đầu ma câu ra da.

52. Nam-mô bạc xà ra câu ra da.

53. Nam-mô ma ni câu ra da

54. Nam-mô dà xà câu ra da

55. Nam-mô bà dà bà đế

56. Ðế rị trà

57. Du ra tây na.

58. Ba ra ha ra noa ra xà da

59. Ða tha dà đa da

60. Nam-mô bà dà bà đế

61. Nam-mô A di đa bà da

62. Ða tha dà đa da

63. A ra ha đế.

64. Tam-miệu tam bồ đà da

65. Nam-mô bà dà bà đế

66. A sô bệ da

67. Ða tha dà đa da

68. A ra ha đế

69. Tam-miệu tam-bồ đà da

70. Nam-mô bà dà bà đế

71. Bệ xa xà da

72. Câu lô phệ trụ rị da

73. Bác ra bà ra xà da

74. Ða tha dà đa da.

75. Nam-mô bà dà bà đế

76. Tam bổ sư bí đa

77. Tát lân nại ra lặc xà da

78. Ða tha dà đa da

79. A ra ha đế

80. Tam-miệu tam-bồ đà da

81. Nam-mô bà dà bà đế

82. Xá kê dã mẫu na duệ

83. Ða tha dà đa da

84. A ra ha đế

85. Tam-miệu tam-bồ đà da

86. Nam-mô bà dà bà đế

87. Lặc đát na kê đô ra xà da

88. Ða tha dà đa da

89. A ra ha đế

90. Tam-miệu tam-bồ đà da

91. Ðế biều

92. Nam-mô tát yết rị đa

93. Ế đàm bà dà bà đa

94. Tát đác tha dà đô sắc ni sam

95. Tát đác đa bát đác lam

96. Nam-mô a bà ra thị đam

97. Bác ra đế

98. Dương kỳ ra

99. Tát ra bà

100. Bộ đa yết ra ha

101. Ni yết ra ha

102. Yết ca ra ha ni

103. Bạt ra bí địa da

104. Sất đà nể

105. A ca ra

106. Mật rị trụ

107. Bát rị đác ra da

108. Nảnh yết rị

109. Tát ra bà

110. Bàn đà na

111. Mục xoa ni

112. Tát ra bà

113. Ðột sắc tra

114. Ðột tất phạp

115. Bát na nể

116. Phạt ra ni

117. Giả đô ra

118. Thất đế nẩm

119. Yết ra ha

120. Ta ha tát ra nhã xà

121. Tỳ đa băng ta na yết rị

122. A sắc tra băng xá đế nẩm

123. Na xoa sát đác ra nhã xà

124. Ba ra tát đà na yết rị

125. A sắc tra nẩm

126. Ma ha yết ra ha nhã xà

127. Tỳ đa băng tát na yết rị

128. Tát bà xá đô lô

129. Nể bà ra nhã xà

130. Hô lam đột tất phạp

131. Nan giá na xá ni

132. Bí sa xá

133. Tất đác ra

134. A kiết ni

135. Ô đà ca ra nhã xà

136. A bát ra thị đa câu ra

137. Ma ha bác ra chiến trì

138. Ma ha điệp đa

139. Ma ha đế xà

140 Ma ha thuế đa xà bà ra

141. Ma ha bạt ra bàn đà ra

142. Bà tất nể

143. A rị da đa ra

144. Tỳ rị câu tri

145. Thệ bà tỳ xà da

146. Bạt xà ra ma lễ để

147. Tỳ xá lô đa

148. Bột đằng dõng ca

149. Bạt xà ra chế hắt na a giá

150. Ma ra chế bà

151. Bát ra chất đa

152. Bạt xà ra thiện trì

153. Tỳ xá ra giá

154. Phiến đa xá

155. Bệ để bà

156. Bổ thị đa

157. Tô ma lô ba

158. Ma ha thuế đa

159. A rị da đa ra

160. Ma ha bà ra a bác ra

161. Bạt xà ra thương yết ra chế bà

162. Bạt xà ra câu ma rị

163. Câu lam đà rị

164. Bạt xà ra hắt tát đa giá

65. Tỳ địa da

166. Kiền dá na

167. Ma rị ca

168. Khuất tô mẫu

169. Bà yết ra đá na

170. Bệ lô giá na

171. Câu rị da

172. Dạ ra thố

173. Sắc ni sam

174. Tỳ chiếc lam bà ma ni giá

175. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.

176. Lồ xà na

177. Bạt xà ra đốn trỉ giá

178. Thuế đa giá

179. Ca ma ra

180. Sát sa thi

181. Ba ra bà.

182. Ế đế di đế

183. Mẫu đà ra

184. Yết noa .

185. Ta bệ ra sám

186. Quật phạm đô

187 Ấn thố na mạ mạ tỏa.

☸ ÐỆ NHỊ ☸

188. Ô Hồng

189. Rị sắc yết noa

190. Bác lặc xá tất đa

191. Tát đác tha

192. Già đô sắc ni sam

193. Hổ hồng đô lô ung

194. Chiêm bà na

195. Hổ hồng đô lô ung

196. Tất đam bà na

197. Hổ hồng đô lô ung

198. Ba ra sắc địa da

199. Tam bác xoa

200. Noa yết ra

201. Hổ hồng đô lô ung

202. Tát bà dược xoa

203. Hắt ra sát ta

204. Yết ra ha nhã xà

205. Tỳ đằng băng tát na yết ra

206. Hổ hồng đô lô ung

207. Giả đô ra

208. Thi để nẩm

209. Yết ra ha

210. Ta ha tát ra nẩm

211. Tỳ đằng băng tát na ra

212. Hổ hồng đô lô ung

213. Ra xoa

214. Bà già phạm

215. Tát đác tha

216. Già đô sắc ni sam

217. Ba ra điểm

218. Xà kiết rị

219. Ma ha ta ha tát ra

220. Bột thọ ta ha tát ra

221. Thất rị sa

222. Câu tri ta ha tát nê

223. Ðế lệ a tệ đề thị bà rị đa

224. Tra tra anh ca

225. Ma ha bạt xà lô đà ra

226. Ðế rị bồ bà na

227. Man trà ra

228. Ô hồng

229. Ta tất đế

230. Bạt bà đô

231. Mạ mạ

232. Ấn thố na mạ mạ tỏa.

☸ ÐỆ TAM ☸

233. Ra xà bà dạ

234. Chủ ra bạt dạ

235. A kỳ ni bà dạ

236. Ô đà ca bà dạ

237. Tỳ xa bà dạ

238. Xá tát đa ra bà dạ

239. Bà ra chước yết ra bà dạ

240. Ðột sắc xoa bà dạ

241. A xá nể bà dạ

242. A ca ra

243. Mật rị trụ bà dạ

244. Ðà ra ni bộ di kiếm

245. Ba già ba đà bà dạ

46. Ô ra ca bà đa bà dạ

247. Lặc xà đàn trà bà dạ

248. Na dà bà dạ

249. Tỳ điều đát bà dạ

250. Tô ba ra noa bà dạ

251. Dược xoa yết ra ha

252. Ra xoa tư yết ra ha

253. Tất rị đa yết ra ha

254. Tỳ xá giá yết ra ha

255. Bộ đa yết ra ha

256. Cưu bàn trà yết ra ha

257. Bổ đơn na yết ra ha

258. Ca tra bổ đơn na yết ra ha

259. Tất kiền độ yết ra ha

260. A bá tất ma ra yết ra ha

261. Ô đàn ma đà yết ra ha

262. Xa dạ yết ra ha

263. Hê rị bà đế yết ra ha

264. Xả đa ha rị nẩm

265. Yết bà ha rị nẩm

266. Lô địa ra ha rị nẩm

267. Mang ta ha rị nẩm

268. Mê đà ha rị nẩm

269. Ma xà ha rị nẩm

270. Xà đa ha rị nữ

271. Thị tỷ đa ha rị nẩm

272. Tỳ đa ha rị nẩm

273. Bà đa ha rị nẩm

274. A du giá ha rị nữ

275. Chất đa ha rị nữ

276. Ðế sam tát bệ sam

277. Tát bà yết ra ha nẩm

278. Tỳ đà dạ xà

279. Sân đà dạ di

280. Kê ra dạ di

281. Ba rị bạt ra giả ca

282. Hất rị đởm

283. Tỳ đà dạ xà

284. Sân đà dạ di

285. Kê ra dạ di

286. Trà diễn ni

287. Hất rị đởm

288. Tỳ đà dạ xà

289. Sân đà dạ di

290. Kê ra dạ di

291. Ma ha bát du bát đác dạ

292. Lô đà ra

293. Hất rị đởm

294. Tỳ đà dạ xà

295. Sân đà dạ di

296. Kê ra dạ di

297. Na ra dạ noa

298. Hất rị đởm

299. Tỳ đà dạ xà

300. Sân đà dạ di

301. Kê ra dạ di

302. Ðát đỏa dà lô trà tây

303. Hất rị đởm

304. Tỳ đà dạ xà

305. Sân đà dạ di

306. Kê ra dạ di

307. Ma ha ca ra

308. Ma đác rị già noa

309. Hất rị đởm

310. Tỳ đà dạ xà

311. Sân đà dạ di

312. Kê ra dạ di

313. Ca ba rị ca

314. Hất rị đởm

315. Tỳ đà dạ xà

316. Sân đà dạ di .

317. Kê ra dạ di

318. Xà dạ yết ra

319. Ma độ yết ra

320. Tát bà ra tha ta đạt na

321. Hất rị đởm

322. Tỳ đà dạ xà

323. sân đà dạ di

324. Kê ra dạ di

325. Giả đốt ra

326. Bà kỳ nể

327. Hất rị đởm

328. Tỳ đà dạ xà

329. Sân đà dạ di

330. Kê ra dạ di

331. Tỳ rị dương hất rị tri

332. Nan đà kê sa ra

333. Dà noa bác đế

334. Sách hê dạ

335. Hất rị đởm

336. Tỳ đà dạ xà

337. Sân đà dạ di

338. Kê ra dạ di

339. Na yết na xá ra bà noa

340. Hất rị đởm

341. Tỳ đà dạ xà

342. Sân đà dạ di

343. Kê ra dạ di

344. A-la-hán

345. Hất rị đởm

346. Tỳ đà dạ xà

347. Sân đà dạ di

348. Kê ra dạ di

349. Tỳ đa ra dà

350. Hất rị đởm

351. Tỳ đà dạ xà

352. Sân đà dạ di

353. Kê ra dạ di

354. Bạt xà ra ba nể

355. Câu hê dạ câu hê dạ

356. Ca địa bát đế

357. Hất rị đởm

358. Tỳ đà dạ xà

359. Sân đà dạ di

360. Kê ra dạ di

361. Ra xoa vỏng

362. Bà dà phạm

363. Ấn thố na mạ mạ tỏa

☸ ÐỆ TỨ ☸

364. Bà dà phạm

365. Tát đác đa bát đác ra

366. Nam-mô tý đô đế

367. A tất đa na ra lặc ca

368. Ba ra bà

369. Tất phổ tra

370. Tỳ ca tát đác đa bát đế rị

371. Thập Phật ra thập Phật ra

372. Ðà ra đà ra

373. Tần đà ra tần đà ra

374. Sân đà sân đà

375. Hổ hồng hổ hồng.

376. Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra.

377. Ta ha

379. A mâu ca da phấn

380. A ba ra đề ha da phấn

381. Ba ra bà ra đà phấn

382. A tố ra

383. Tỳ đà ra

384. Ba ca phấn

385. Tát bà đề bệ tệ phấn

386. Tát bà na dà tệ phấn

387. Tát bà dược xoa tệ phấn

388. Tát bà kiền thát bà tệ phấn

389. Tát bà bổ đơn na tệ phấn

390. Ca tra bổ đơn na tệ phấn

391. Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn .

392. Tát bà đột sáp tỷ lê

393. Hất sắc đế tệ phấn

394. Tát bà thập bà lê tệ phấn

395. Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn

396. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.

397. Tát bà địa đế kê tệ phấn

398. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn

399. Tát bà tỳ đà da

400. Ra thệ giá lê tệ phấn

401. Xà dạ yết ra

402. Ma độ yết ra

403. Tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn .

404. Tỳ địa dạ

405. Giá lê tệ phấn

406. Giả đô ra

407. Phược kỳ nể tệ phấn

408. Bạt xà ra

409. Câu ma rị

410. Tỳ đà dạ

411. La thệ tệ phấn

412. Ma ha ba ra đinh dương

413. Xoa kỳ rị tệ phấn

414. Bạt xà ra thương yết ra dạ

415. Ba ra trượng kỳ ra xà da phấn

416. Ma ha ca ra dạ

417. Ma ha mạt đát rị ca noa

418. Nam-mô ta yết rị đa da phấn .

419. Tỷ sắc noa tỳ duệ phấn

420. Bột ra ha mâu ni duệ phấn

421. A kỳ ni duệ phấn

422. Ma ha yết rị duệ phấn

423. Yết ra đàn tri duệ phấn

424. Miệc đát rị duệ phấn

425. Lao đát rị duệ phấn

426. Giá văn trà duệ phấn

427. Yết la ra đác rị duệ phấn .

428. Ca bát rị duệ phấn

429. A địa mục chất đa

430. Ca thi ma xá na

431. Bà tư nể duệ phấn

432. Diễn kiết chất

433. Tát đỏa bà tỏa

434. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa .

☸ ÐỆ NGŨ ☸

435. Ðột sắc tra chất đa

436. A mạt đác rị chất đa

437. Ô xà ha ra

438. Dà ba ha ra

439. Lô địa ra ha ra

440. Ta bà ha ra

441. Ma xà ha ra

442. Xà đa ha ra

443. Thị tỉ đa ha ra

444. Bạt lược dạ ha ra

445. Kiền đà ha ra

446. Bố sử ba ha ra

447. Phả ra ha ra

448. Bà tả ha ra

449. Bát ba chất đa

450. Ðột sắc tra chất đa .

451. Lao đà ra chất đa

452. Dược xoa yết ra ha

453. Ra sát ta yết ra ha

454. Bế lệ đa yết ra ha

455. Tỳ xá giá yết ra ha

456. Bộ đa yết ra ha

457. Cưu bàn trà yết ra ha

458. Tất kiền đà yết ra ha

459. Ô đát ma đà yết ra ha

460. Xa dạ yết ra ha

461. A bá tất ma ra yết ra ha.

462. Trạch khê cách

463. Trà kỳ ni yết ra ha

464. Rị Phật đế yết ra ha

465. Xà di ca yết ra ha

466. Xá câu ni yết ra ha

467. Lao đà ra

468. Nan địa ca yết ra ha

469. A lam bà yết ra ha

470. Kiền độ ba ni yết ra ha

471. Thập phạt ra

472. Yên ca hê ca

473. Trị đế dược ca

474. Ðát lệ đế dược ca

475. Giả đột thác ca

476. Ni đề thập phạt ra

477. Tỉ sam ma thập phạt ra

478. Bạt để ca

479. Tỷ để ca

480. Thất lệ sắc mật ca

481. Ta nể bát để ca

482. Tát bà thập phạt ra

483. Thất lô kiết đế

484. Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm

485. A ỷ lô kiềm

486. Mục khê lô kiềm

487. Yết rị đột lô kiềm

488. Yết ra ha

489. Yết lam yết noa du lam

490. Ðản đa du lam

491. Hất rị dạ du lam

492. Mạt mạ du lam

493. Bạt rị thất bà du lam

494. Tỷ lật sắc tra du lam

495. Ô đà ra du lam

496. Yết tri du lam

497. Bạt tất đế du lam

498. Ô lô du lam

499. Thường dà du lam

500. Hắc tất đa du lam

501. Bạt đà du lam

502. Ta phòng án dà

503. Bát ra trượng dà du lam

504. Bộ đa tỷ đa trà

505. Trà kỳ ni

506. Thập bà ra

507. Ðà đột lô ca

508. Kiến đốt lô kiết tri

509. Bà lộ đa tỳ

510. Tát bát lô

511. Ha lăng già

512. Du sa đát ra

513. Ta na yết ra

514. Tỳ sa dụ ca

515. A kỳ ni

516. Ô đà ca

517. Mạt ra bệ ra

518. Kiến đa ra

519. A ca ra

520. Mật rị đốt

521. Ðát liểm bộ ca

522. Ðịa lật lặc tra

523. Tỷ rị sắc chất ca

524. Tát bà na câu ra

525. Tứ dẫn dà tệ

526. Yết ra rị dược xoa

527. Ðác ra sô

528. Mạt ra thị

529. Phệ đế sam

530. Ta bệ sam

531. Tất đát đa bát đác ra

532. Ma ha bạt xà lô

533. Sắc ni sam

534. Ma ha bát lặc trượng kỳ lam

535. Dạ ba đột đà

536. Xá dụ xà na

537. Biện đát lệ noa

538. Tỳ đà da

539. Bàn đàm ca lô di

540. Ðế thù

541. Bàn đàm ca lô di

542. Bát ra tỳ đà

543. Bàn đàm ca lô di

544. Ðát điệt tha

545. Án

546. A na lệ

547. Tỳ xá đề

548. Bệ ra

549. Bạt xà ra

550. Ðà rị

551. Bàn đà bàn đà nể

552. Bạt xà ra bán ni phấn

553. Hổ hồng đô lô ung phấn

554. Ta bà ha.

PHẬT THUYẾT UY LỰC CỦA CHÚ LĂNG NGHIÊM

– Này A-nan! Nếu có chúng sanh ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới mà có thể dùng vỏ cây hoa, lá cây cọ, giấy trắng, hay vải trắng mà biên chép thần chú Lăng Nghiêm này, rồi lưu giữ trong túi thơm. Cho dù tâm trí của ai ám độn đi nữa và chưa có thể tụng niệm hay học thuộc thần chú, nhưng nếu mang túi thơm bên mình hoặc cất giữ ở trong nhà, thì phải biết suốt cuộc đời của người ấy sẽ không bị bất cứ loại độc nào mà có thể gây hại.

– Sau khi Ta diệt độ, nếu có chúng sanh nào ở vào thời Mạt Pháp mà có thể tự mình tụng niệm hoặc dạy bảo người khác tụng niệm thần chú này, thì phải biết những chúng sanh tụng trì thần chú như thế: lửa chẳng thể đốt họ, nước chẳng thể dìm họ, và dù là thuốc độc mạnh hay nhẹ thì cũng không thể tổn hại họ, và như vậy cho đến tất cả chú thuật tà ác của trời rồng quỷ thần hay yêu tinh quỷ quái thì cũng đều chẳng thể khống chế họ. Khi tâm họ đã đắc chánh định, mọi tố chất chế tạo từ chú thuật, bùa ngải trù ếm, thuốc độc trộn với vàng hay bạc, thảo mộc trùng xà, hay vạn vật độc khí, một khi những thứ ấy vào miệng của người đó thì đều sẽ thành vị cam lộ. Tất cả yêu tinh ác độc và chúng quỷ thần oán tâm hại người đều chẳng thể khởi lòng ác. Chướng ngại thần, các vị quỷ vương từng làm ác, và hàng quyến thuộc của họ, do đều thọ ân sâu của Phật đã hóa độ nên sẽ luôn thủ hộ người trì chú.

– Các thiện nam tử nào đọc tụng hay biên chép thần chú Lăng Nghiêm này, mang thần chú theo bên mình, hoặc an trí thần chú ở nơi thích hợp để làm những sự cúng dường, thì từ kiếp này đến kiếp khác, họ không sanh ở gia đình bần cùng hạ tiện hay ở nơi chẳng an vui. Giả sử các chúng sanh này không đích thân làm những việc phước đức, mười phương Như Lai cũng sẽ chuyển công đức của mình cho người ấy. Do vậy nên trải qua số kiếp nhiều như cát sông Hằng, vô số kiếp, bất khả thuyết, bất khả thuyết, họ sẽ thường sanh cùng một nơi với chư Phật. Vô lượng công đức của họ sẽ dày khít như chùm quả côm lá hẹp. Họ sẽ ở cùng một nơi để huân tu Pháp lành và vĩnh viễn không rời xa chư Phật.

– Lại nữa, thần chú này có thể làm cho những người phá giới được phục hồi giới căn thanh tịnh, những ai chưa thọ giới sẽ được thọ giới, những ai chưa tinh tấn sẽ khiến họ tinh tấn, những ai vô trí tuệ sẽ được trí tuệ, những ai không thanh tịnh sẽ mau được thanh tịnh, và những ai chưa ăn chay trì giới thì sẽ tự mình thành tựu trai giới.

– Này A-nan! Giả sử thiện nam tử đó đã phạm giới cấm trước khi thọ trì thần chú. Sau khi trì chú, những tội phá giới của họ, chẳng kể là nặng hay nhẹ, sẽ đồng thời tiêu diệt. Giả sử những người ấy có thể đã uống rượu, ăn năm loại thực vật hôi nồng, hoặc dùng đủ mọi thức ăn bất tịnh, nhưng hết thảy chư Phật, chư Bồ-tát, kim cang thần, thiên chúng, tiên nhân, và quỷ thần sẽ không xem đó là lỗi lầm. Hoặc giả sử những người ấy mặc quần áo rách nát đi nữa, nhưng mọi việc làm của họ đều vẫn thanh tịnh. Cho dù họ không kiến lập Pháp đàn, không vào Đạo Tràng, và cũng không hành Đạo đi nữa, nhưng nếu họ tụng trì chú này thì công đức cũng giống như đã vào đàn tràng để hành Đạo – không chút sai khác. Hoặc giả sử những người ấy đã tạo năm trọng tội ngỗ nghịch và lẽ ra phải đọa Địa ngục Vô Gián, hoặc họ là những Tỳ-kheo phạm bốn giới nghiêm trọng đáng bị trục xuất, hoặc họ là những Tỳ-kheo-ni phạm tám giới nghiêm trọng đáng bị trục xuất, nhưng một khi tụng chú này xong, các nghiệp trọng như thế thảy đều tiêu diệt đến sợi lông tơ cũng chẳng còn, tựa như cơn gió lốc thổi tan bãi cát.

– Này A-nan! Giả sử có những chúng sanh ở đời hiện tại hay ở đời trước mà chưa từng sám hối tất cả tội chướng nặng nhẹ đã tạo từ vô lượng vô số kiếp cho đến nay, nhưng nếu họ có thể đọc tụng, biên chép, mang thần chú theo bên mình, hoặc an trí thần chú ở nơi cư trú – trong nhà, khu vườn, hay quán trọ, thì những nghiệp tội tích tập của họ sẽ tan rã như tuyết bị nấu chảy. Không lâu sau đó, họ đều sẽ chứng đắc Vô Sanh Nhẫn.

– Lại nữa A-nan! Giả sử có người nữ nào không con và cầu mong con cái, nếu họ có thể chí tâm tụng thuộc lòng thần chú hoặc có thể mang Đại Bạch Tản Cái Thần Chú này ở bên mình (Chú Lăng Nghiêm), thì sẽ sanh con cái với phước đức trí tuệ. Hoặc những ai mong sống lâu thì sẽ được sống lâu. Hoặc những ai mong kết quả mỹ mãn thì sẽ mau được viên mãn, cho đến thân mạng và sắc lực thì cũng lại như vậy. Sau khi mạng chung, họ sẽ tùy theo ước nguyện mà vãng sanh về các quốc độ trong mười phương và nhất định sẽ không sanh ở chốn biên địa hạ tiện. Hà huống là sanh vào hàng tạp loại chúng sanh.

– Này A-nan! Phải biết thần chú này luôn được 84.000 na-do-tha Hằng Hà sa ức chư Bồ-tát ở trong chủng tộc của Kim Cang Tạng Vương hộ trì. Mỗi vị đều có hàng kim cang chúng làm quyến thuộc và ngày đêm họ luôn đi theo để bảo vệ người trì chú. Cho dù có chúng sanh nào với tâm tán loạn và thiếu chánh định đi nữa nhưng nếu tâm họ nhớ nghĩ và miệng đọc chú, thì các vị Bồ-tát ở trong chủng tộc của Kim Cang Tạng Vương cũng luôn đi theo hộ vệ. Hà huống là các thiện nam tử đã phát khởi Đạo tâm kiên định.

– Lại nữa, các vị Bồ-tát ở trong chủng tộc của Kim Cang Tạng Vương sẽ âm thầm chú tâm phát khởi thần thức của người trì chú. Bấy giờ tâm của người ấy sẽ có thể nhớ lại rõ ràng mọi việc ở trong 84.000 Hằng Hà sa kiếp mà chẳng hề nhầm lẫn. Từ đó về sau cho đến thân cuối cùng, đời đời họ sẽ không sanh làm quỷ tiệp tật, quỷ bạo ác, quỷ xú uế, quỷ cực xú uế, quỷ úng hình, quỷ hút tinh khí, hay quỷ đói, hoặc những loài chúng sanh xấu ác có hình, vô hình, có tưởng, hay vô tưởng.

  • – Này A-nan! Giả sử ở bất kỳ nơi đâu, hoặc ở xóm làng, tỉnh huyện, hay trong quốc gia nào mà gặp nạn đói kém, bệnh dịch, đao binh, giặc cướp, đấu tranh, cùng đủ mọi ách nạn khác xảy ra, thì hãy biên chép thần chú này và an trí ở bốn cổng thành, các ngôi tháp, hoặc treo lên cờ xí. Hãy chỉ dạy tất cả dân chúng ở trong quốc gia đó phải nghênh tiếp, cung kính lễ bái, và nhất tâm cúng dường thần chú này. Hãy chỉ dạy mỗi công dân ở đó nên mang theo thần chú bên mình hoặc an trí trong nhà. Như thế mọi tai ách tất đều sẽ tiêu diệt.
  • – Này A-nan! Trong quốc gia nào hoặc ở bất kỳ nơi đâu mà có chúng sanh tùy thuận chú này, trời rồng sẽ hoan hỷ, mưa gió thuận hòa, ngũ cốc chín rộ, và muôn dân an lạc. Thần chú này cũng lại có thể ngăn chặn tất cả tai chướng được thấy qua sự biến đổi quái dị xấu ác của tinh tú ở mỗi phương xứ. Dân chúng sẽ không bị chết yểu, chẳng bị gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, ngày đêm ngủ nghỉ an lành, và không hề gặp ác mộng.
  • – Này A-nan! Ở cõi ta bà có 84.000 tinh tú báo hiệu cho tai biến xấu. Trong số đó có 28 đại tinh tú là báo hiệu cho điềm xấu nhất. Và trong đó lại có tám đại tinh tú là báo hiệu cho điềm xấu cực kỳ. Chúng hiện ra đủ mọi hình thù, và có thể phát sanh đủ mọi tai ương khác lạ khi xuất hiện ở thế gian. Tuy nhiên, nếu ở chốn nào có thần chú này thì trong vòng 12 do-tuần sẽ trở thành chỗ kết giới, mọi tai ương điềm xấu thảy đều diệt trừ và vĩnh viễn không thể lọt vào.
  • – Cho nên Như Lai đã tuyên thuyết thần chú này là để bảo hộ những hành giả mới tu học ở vào đời vị lai, hầu giúp họ vào chánh định, thân tâm an nhiên, và được an ổn tự tại. Lại nữa, họ sẽ không bị tất cả chúng ma quỷ thần cùng oán thù tai ương ở đời trước và nghiệp vay nợ thuở xưa từ vô thỉ đến não hại.
  • – Thần chú này có thể cứu hộ thế gian, giúp chúng sanh thoát khỏi sợ hãi kinh hoàng, và thành tựu trí tuệ xuất thế gian.
  • – Giả sử ông và các vị Hữu Học cùng những hành giả ở vào đời vị lai y theo cách kiến lập đàn tràng mà Ta đã dạy và trì giới đúng như giáo Pháp, lại được thọ giới từ vị Tăng thanh tịnh, và cũng trì chú này với lòng không sanh nghi ngờ hay hối tiếc, nếu như thiện nam tử này ở ngay tại thân do cha mẹ sanh ra mà tâm chẳng thông đạt, thì tức là mười phương Như Lai đã vọng ngữ!
  • – Khi Phật nói lời ấy xong, vô lượng trăm ngàn kim cang thần ở trong chúng hội đồng một lúc chắp tay và đảnh lễ ở trước Phật, rồi thưa với Phật rằng: “Tùy thuận như lời dạy của Phật, chúng con sẽ thành tâm bảo hộ những vị tu Đạo như thế.”
  • – Lúc bấy giờ Phạm Vương, Năng Thiên Đế, và Tứ Đại Thiên Vương cũng đồng một lúc đảnh lễ ở trước phật, rồi thưa với Phật rằng: “Nếu có những người thiện nào tu học như thế, chúng con sẽ tận tâm chí thành bảo hộ và khiến cho việc làm của họ ở trong đời hiện tại sẽ như ước nguyện.”
  • – Lại có vô lượng đại tướng tiệp tật, chúa quỷ bạo ác, chúa quỷ úng hình, chúa quỷ hút tinh khí, chướng ngại thần, và các đại quỷ vương khác cũng chắp tay và đảnh lễ ở trước Phật, rồi thưa rằng: “Chúng con cũng phát thệ nguyện để hộ trì những người ấy và làm cho Đạo tâm của họ mau được viên mãn.”
  • – Lại có vô lượng Nhật Thiên Tử, Nguyệt Thiên Tử, phong thiên, vũ thiên, vân thiên, lôi thiên, điện thiên, và những vị khác như thế, cùng với những vị quan trời niên tuế tuần tra và hàng quyến thuộc cũng ở trong Pháp hội, họ đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi thưa với Phật rằng: “Chúng con cũng sẽ bảo hộ những người tu hành này, làm cho Đạo Tràng bình an và họ sẽ không phải sợ bất cứ điều gì.”
  • – Lại có vô lượng thần núi, thần biển, muôn chúng thần linh của vạn vật đi trên đất, bơi trong nước, hay bay giữa trời, cùng với chúa thần của gió và các vị trời từ cõi vô sắc, cũng đồng một lúc cúi đầu ở trước Như Lai, rồi thưa với Phật rằng: “Chúng con cũng sẽ bảo hộ các vị tu hành này để họ vĩnh viễn không có những việc ma và mau được thành Đạo.”
  • – Bấy giờ 84.000 na-do-tha Hằng Hà sa ức chư Bồ-tát ở trong chủng tộc của Kim Cang Tạng Vương đang ở giữa đại hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, rồi thưa với Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Tương tự như các vị khác tu hành công đức, từ lâu chúng con đã giác ngộ nhưng lại không chọn vào tịch diệt. Trái lại, chúng con luôn đi theo để cứu hộ những ai chân chánh tu hành môn chánh định của thần chú này ở vào thời Mạt Pháp.

Thưa Thế Tôn! Những ai tu tâm để cầu chánh định như thế, hoặc họ ở tại Đạo Tràng, hoặc đang đi trên đường, và cho đến tâm tán loạn khi dạo qua xóm làng, thì quyến thuộc chúng con cũng sẽ luôn tùy tùng để bảo vệ người ấy. Cho dù ma vương ở trời Tha Hóa Tự Tại thường mãi tìm cách để trục lợi từ họ thì vĩnh viễn không thể được. Trong vòng 10 do-tuần, hàng tiểu quỷ thần không thể đến gần những người thiện này – duy trừ họ đã phát khởi Đạo tâm và vui thích tu thiền định.

Thưa Thế Tôn! Nếu những ác ma như thế hoặc hàng quyến thuộc của ma mà muốn đến xâm hại hay quấy nhiễu người hiền lương này, chúng con sẽ vung chày báu đập nát đầu của chúng ra thành như các hạt vi trần. Chúng con cũng luôn giúp mọi việc làm của người ấy sẽ như ước nguyện.”

– Chư Phật Như Lai không bao giờ nói lời hư vọng. Giả sử có người vi phạm trọn bốn giới nghiêm trọng và mười giới ngăn cấm, trong nháy mắt thì liền đọa Địa ngục Vô Gián ở thế giới này, rồi trải qua ở các thế giới khác, và cho đến phải trải qua hết những Địa ngục Vô Gián tại các thế giới tận cùng ở mười phương.

Tuy nhiên, nếu trong một niệm mà lưu truyền Pháp môn này và khai thị cho những ai chưa học qua, thì tội chướng của người ấy liền ứng theo niệm mà tiêu diệt.

Tất cả địa ngục mà họ phải trải qua thống khổ sẽ trở thành cõi nước an lạc.

Họ sẽ được phước đức và siêu việt người cúng dường ở trước gấp hơn trăm lần, ngàn lần, vạn lần, ức lần và như vậy cho đến toán số thí dụ thì cũng không thể tính xuể.

Này A-nan! Nếu những chúng sanh nào mà có thể tụng Kinh hoặc có thể trì chú này, cho dù Ta rộng nói công đức của họ suốt muôn kiếp thì cũng không hết. Những ai nương vào lời dạy của Ta và như Pháp hành Đạo, họ sẽ thẳng đến giác ngộ và không còn gặp ma nghiệp.

(Trích Kinh Lăng Nghiêm quyển 7 và quyển 10)

( Hòa Thượng Tuyên Hoá )

Phật Tử Tại Gia Có Nên Tụng Chú Lăng Nghiêm Không?

Có lần con từng nghe một bạn đồng tu bảo rằng Phật tử tại gia không nên đọc nhiều chú (Chẳng hạn như Chú Lăng Nghiêm…) vì mỗi câu chú do chư Phật nói ra, chư thiên hộ trì thì kèm theo sẽ có rất nhiều ma chướng, muốn trì tụng cần phải giữ giới, giữ thân khẩu ý, tịnh tu vô cùng, nếu tâm loạn, giới không giữ, không ăn chay, thanh tịnh thân tâm và không có một vị thầy hướng dẫn trên đường tu sẽ càng trì càng loạn, không giúp ích trên con đường đang tu thậm chí có thể gây trở ngại, hoang mang. Xin thầy giải thích rõ giúp con vấn đề này. Xin thầy cho con được biết Phật tử tại gia như con nên trì tụng những loại kinh nào là tốt nhất. Con cảm ơn thầy. A Di Đà Phật.

Giá trị của người Phật tử cũng rất cao quý, Phật tử tu tại gia còn gọi là tu sĩ tại gia hay cư sĩ. Ở Trung Hoa, từ ngữ cư sĩ dành cho các bậc trưởng thượng đáng kính, sống ẩn dật; những người giàu có quý phái cũng gọi là cư sĩ.

Theo thầy thì người đệ tử đức Phật xuất gia hay tại gia là người làm công tác nghệ thuật sống trong xã hội đạo lý.

Làm Phật tử đã quy y Tam bảo, giữ gìn giới luật thật nghiêm túc, biết tinh chuyên niệm Phật, trì tụng kinh bộ, nghe thuyết pháp, đàm luận đạo lý… là Phật tử có trình độ tu hành, Phật tử thuần túy, truyền thống. Ở Việt Nam từ năm 1930 cho đến hôm nay, số Phật tử có chất lượng trên ngày càng tăng lên cao, chứng tỏ Phật giáo thật hữu ích trong thế giới chúng ta.

Ngoài việc tụng kinh niệm Phật, gia trì kinh bộ, Phật tử còn phát tâm ăn chay trường, nhẫn đến ăn chay kỳ, mỗi năm ăn chay ba tháng: tháng giêng, tháng bảy, tháng mười, ăn chay mỗi tháng 10 ngày, 6 ngày, 4 ngày, 02 ngày… tất cả đều là thiện tâm, có căn lành với Phật Pháp, là gia đình phước đức.

Người Phật tử tại gia vẫn tụng đọc các kinh bộ như: Kinh Pháp Hoa, kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Phổ Hiền, Kinh Ánh sáng hoàng kim, Kinh Vạn Phật, Kinh Địa Tạng thậm chí tụng những kinh đại thừa do Phật diễn thuyết như người tu sĩ xuất gia tụng đọc. Tuy nhiên, không có lý do nào bằng lý do: “Người Phật tử tại gia: Gia duyên bận buộc, xã hội gần bên, mọi việc cần phải tháo gở, giải quyết… nên việc tụng kinh niệm Phật bị trở ngại…”, chứ không phải tụng không được, chỉ có thế thôi!

Trường hợp như thần chú Thủ Lăng Nghiêm, tại các tự viện theo học phái đại thừa được các Nhà Sư trì tụng vào lúc 4 giờ sáng, tụng đọc và lúc nào cũng tụng đọc, chỉ khi nào vị ấy không còn trên cõi đời mới không còn tụng đọc! Trường hợp nầy chắc chắn người Phật tử không bao giờ theo nổi phải không? Vì vậy nên quý Sư Thầy rất ít hoặc không bao giờ khuyên Phật tử tụng đọc Thần chú Thủ Lăng Nghiêm là như thế. Vã lại, nếu có tụng thì chỉ tụng theo thời khóa có giới hạn, hoặc năm ba thời khóa rồi bị trở ngại gia duyên, quay sang tụng kinh bộ khác, hoặc không tụng nữa, như thế không đạt chuẩn mực trong quá trình tu hành tụng Thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Do đó, trong giới thiền lâm thường truyền miệng cho nhau: “Phật tử không tụng Thủ Lăng Nghiêm được là như thế”.

Ở Việt Nam, các Cụ già ở nhà ruộng, nhà vườn còn sức khoẻ, có đất đai rộng rãi, các Cụ dạy con cháu xây cho một cái “Am” nhỏ mỗi cạnh 6 mét ở cuối đất để có phương tiện an trú tu hành; các Cụ tuy không xuất gia nhưng phát nguyện tụng kinh chú, niệm Phật như người xuất gia, tụng kinh ngày đêm tứ thời, hoặc lục thời, trong đó có tụng các kinh chú theo như các Sư ở các tự viện đại thừa tụng đọc.

Hiện nay, đại đa số các Phật tử tham dự khóa tu Bát Quan Trai giới, tập sự xuất gia một ngày một đêm tại các chùa lớn, thì có tụng kinh chú như người xuất gia, không bị trở ngại, cũng không ai ngăn cản.

Tóm lại, Phật tử vẫn tụng đọc kinh chú, nhưng tùy trường hợp phương, thời, xứ, cởi bỏ việc thế gian mà dự vào hàng thánh chúng tụng đọc, phước đức vô biên.

HT. Thích Giác Quang

Share FB »