Tiết Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục Lớp 1

--- Bài mới hơn ---

  • Tiết Thao Giảng Tiếng Việt 1
  • Điều Bất Ngờ Từ Tiết Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Tập Huấn Dạy Công Nghệ Tiếng Việt 1
  • Sách Tiếng Việt Lớp 1 Của Cánh Diều Chính Thức Phải Điều Chỉnh Nội Dung Chưa Phù Hợp
  • Hội Đồng Thẩm Định Đánh Giá Ra Sao Về Sách Tiếng Việt Lớp 1 Bộ Cánh Diều?
  • Ngày 17 tháng 10 năm 2022 dưới sự chỉ đạo của BGH trường tiểu học Đức Dũng, huyện Đức Thọ tổ chức dạy chuyên đề môn TV CNGD lớp 1.

    Về dự tiết chuyên đề có thầy giáo Đào Hữu Tình hiệu trưởng nhà trường; cô giáo Trần Thị Thùy Lê phó HT nhà trường, cùng tất cả các thầy giáo, cô giáo trong trường về tham dự.

    Trong buổi chuyên đề thay mặt cho giáo viên dạy lớp 1, cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hải đã thể hiện 2 việc của bài: Âm /ô/.

    Thông qua bài dạy của cô giáo, các đồng nghiệp được nắm sâu hơn về quy trình 4 việc. Có thể nói, dạy học theo chương trình này giáo viên với vai trò là người hướng dẫn, còn học sinh là người kiến thiết tạo nên bài học. Các em vừa được học, vừa được hoạt động nên tạo được sự hứng thú trong giờ học. Qua các hoạt động, giúp học sinh nắm bắt quy luật nhanh, chất lượng học TV của các em tốt hơn so với phương pháp học trước đây.

    Với quan điểm giúp học sinh được học và học thông qua hệ thống việc làm. Bằng cách này, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, HS tự tạo ra “sản phẩm” học tập của mình để chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện kĩ năng. Đây chính là nền tảng để khi các em lên lớp 2 có phương pháp học tập tốt hơn, có kĩ năng đọc thông, viết thạo.

    Kết thúc buổi chuyên đề thầy HT đã ghi nhận, đánh giá cao về kết quả tiết dạy và biểu dương kết quả thực hiện môn TV1 CGD của trường. Trong những năm qua, với sự chỉ đạo quyết liệt của BGH nhà trường, sự quyết tâm cao của các đồng chí GV dạy lớp 1 nên trường luôn đạt được kết quả như mong muốn.

    Một số hình ảnh của tiết dạy

    Tác giả: Phan Thị Thắm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Luật Chính Tả Trong Môn Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1
  • Cach Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1 Tieng Viet Cong Nghe 1 Doc
  • Giới Thiệu Phần Mềm Hỗ Trợ Học Và Dạy Tiếng Việt Lớp 1
  • Chương Trình Lớp 1 Mới: Dạy Con Học Như Một Cuộc Chiến
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Học Phần Âm Môn Tiêng Việt Lớp 1
  • Tập Huấn Dạy Công Nghệ Tiếng Việt 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Tiếng Việt Lớp 1 Của Cánh Diều Chính Thức Phải Điều Chỉnh Nội Dung Chưa Phù Hợp
  • Hội Đồng Thẩm Định Đánh Giá Ra Sao Về Sách Tiếng Việt Lớp 1 Bộ Cánh Diều?
  • Nghe Thầy Thuyết Nói Về Sách Tiếng Việt Lớp 1 Mới, Giáo Viên Chúng Tôi Lo Quá
  • Xôn Xao “sạn” Sách Tiếng Việt Lớp 1: Suồng Sã Phương Ngữ, Dạy Khôn Lỏi?
  • Sách Tiếng Việt Lớp 1 Bị Chê Tả Tơi, Bộ Gd
  • GI?I THI?U

    môn tiếng việt

    lớp 1.cgd

    PHẦN II

    CÔNG NGHỆ DẠY TIẾNG VIỆT LỚP 1

    PHẦN III

    GIỚI THIỆU BỘ TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT LỚP Lienminhchienthan.com động

    1. Thuật ngữ Công nghệ giáo dục.

    2. Luận điểm của Hồ Ngọc Đại

    về giáo dục.

    3. Quy trình công nghệ giáo dục.

    4. Quan điểm giáo dục cơ bản của Công nghệ Giáo dục.

    5. Các thao tác làm ra Khái niệm.

    PHẦN 1

    CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

    I. Công nghệ giáo dục (CGD) là gì?

    CÔNG NGHỆ

    – Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;

    – Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề.

    – Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau.

    CGD là một cách làm giáo dục.

    CGD là một cách làm giáo dục có công nghệ.

    CGD được diễn giải bằng một hệ thống khái niệm khoa học.

    CGD đi liền với kĩ thuật thực thi.

    CGD có một hệ thống thuật ngữ tương ứng.

    CGD là một cách làm giáo dục được kiểm nghiệm trên thực tiễn.

    CGD là một giải pháp giáo dục.

    Theo HỒ NGỌC ĐẠI

    Bản chất của công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằng một Quy trình kỹ thuật được xử lý bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm.

    Công nghệ học (CnH)-

    Công nghệ giáo dục (CGD)

    – Công nghệ học là quá trình làm ra một khái niệm khoa học

    – Công nghệ giáo dục là quy trình làm ra sản phẩm là các môn nghệ thuật, đạo đức.

    – Công nghệ học làm ra khái niệm như một sản phẩm chính thức, dứt khoát, với giá trị đúng.

    – Công nghệ giáo dục coi khái niệm là bán thành phẩm, phải làm tiếp mới có được sản phẩm mong muốn, với giá trị gần đúng

    II. Một số luận điểm của Hồ Ngọc Đại về giáo dục

    1. Trẻ em hiện đại

    – Trẻ em hiện đại được sinh thành cùng với xã hội hiện đại.

    – Trẻ em hiện đại là một khả năng bỏ ngỏ, trong một xã hội đạt đến trình độ phân hóa rất cao, vì vậy nền giáo dục hiện đại cũng phân hóa rất cao, thỏa mãn cho mọi khả năng bỏ ngỏ của trẻ em.

    2. Học để làm gì?(Mục đích giáo dục)

    – Học để sống hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày của cá nhân.

    Đi học là hạnh phúc.

    Đi học là phương thức mỗi cá nhân tự khẳng định mình, vì hạnh phúc của chính mình

    3. Học cái gì?(Nội dung giáo dục)

    Khoa học

    Nghệ thuật

    Cách sống

    4. Học như thế nào?

    (Phương pháp giáo dục)

    – Cách học cái gì là làm ra cái đó trong nhà trường, Học CÁCH cư xử khái niệm.

    – Quá trình giáo dục là quá trình nhà giáo dục tổ chức cho trẻ em thực hiện quá trình tự giáo dục

    III. Quy trình công nghệ giáo dục

    A là những thành tựu văn minh có sẵn của nhân loại

    Mũi tên  là quy trình công nghệ, là quá trình chuyển vào trong, biến A lớn thành a nhỏ, dựa trên kết quả “phân giải bản thân quá trình giáo dục” thành một chuỗi thao tác, sắp xếp theo trật tự tuyến tính (trên đường thẳng thời gian), thường gọi là phương pháp giáo dục.

    a nhỏ được gọi là sản phẩm giáo dục, là sự tồn tại của A lớn trong nhân cách mỗi trẻ em. a nhỏ là sản phẩm của cả A lớn và mũi tên .

    IV. Quan điểm dạy học theo công nghệ giáo dục ?

    1. HS là trung tâm

    – Thầy thiết kế- trò thi công

    Cơ chế việc làm

    2. HS tự chiếm lĩnh kiến thức

    – Xác định đối tượng chiếm lĩnh.

    – Tách đối tượng chiếm lĩnh ra thành các phạm trù riêng biệt: lời nói, tiếng, âm, vần.

    3. Phát triển tư duy học sinh

    Mỗi cá nhân được phát triển (về mặt tinh thần) đều bằng lao động, học tập của chính mình.

    Mỗi học sinh muốn phát triển, phải TỰ MÌNH học tập, lao động. Ai làm nhiều có nhiều, ai làm ít có ít, giá trị của mình do mình tự làm ra.

    Chiếm lĩnh đối tượng theo sự phát triển của phương pháp làm ra sản phẩm khoa học: Con đường chiếm lĩnh từ trừu tượng đến cụ thể.

    V. Các thao tác cơ bản Làm ra khái niệm

    – Phân tích được mối quan hệ bản chất, bên trong của khái niệm

    – Mô hình hoá được quan hệ này ở dạng tổng quát

    – Cụ thể hóa khái niệm (Luyện tập sử dụng)

    Phân tích

    Khái niệm xuất phát từ đâu, lôgic của nó như thế nào, có bao nhiêu thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố, sự tác động qua lại giữa các thành tố.

    Mô hình hóa

    Mô hình hóa được mối quan hệ này ở dạng tổng quát, giữ lại các thành tố cốt lõi của khái niệm và mối quan hệ qua lại giữa chúng.

    Phần đầu Phần vần

    b

    a

    Cụ thể hóa

    Thao tác này là luyện tập thành kỹ năng: từ một khái niệm (phương pháp, chất liệu) đã hình thành, người học bổ sung kiến thức về nội dung cho mình thông qua luyện tập sử dụng.

    Khi người học đã có một công cụ và có thể tự học lấy các kiến thức khác trong phạm vi của khái niệm vừa hình thành.

    Ví dụ: Tiếng ba – áp dụng sang các vần

    I. Mục tiêu

    1. Đọc thông viết thạo, không tái mù.

    2. Nắm chắc luật chính tả.

    3. Nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt.

    II. Đối tượng: Cấu trúc ngữ âm

    Tiếng

    Âm và chữ

    Vần

    III. Nguyên tắc xây dựng chương trình

    1. Nguyên tắc phát triển đòi hỏi mỗi sản phẩm của thời điểm trước (của một tiết học hay một bài học) đều có mặt trong sản phẩm tiếp sau. Vì thế mà các Bài học trong chương trình Tiếng Việt chúng tôi được xây dựng trên một trật tự tuyến tính lôgic, khoa học: Tiếng, Âm, Vần, Nguyên âm đôi.

    2. Nguyên tắc chuẩn mực được thể hiện ở tính chính xác của các khái niệm khoa học, tính chuẩn mực trong cách lựa chọn thuật ngữ để định hướng và tổ chức quá trình phát triển

    3. Nguyên tắc tối thiểu yêu cầu việc xác định và lựa chọn một số chất liệu tối thiểu và một số vật liệu tối thiểu cho chất liệu đó nhằm đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh lớp 1.

    IV. Nội dung chương trình

    1. Bài 1: Tiếng

    Tiếng là một khối âm toàn vẹn như một “khối liền” được tách ra từ lời nói. Tiếp đó bằng phát âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếng khác nhau hoàn toàn, tiếng khác nhau một phần.

    Tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: phần đầu, phần vần, thanh.

    Đánh vần một tiếng theo cơ chế hai bước:

    – Bước 1: b/a/ba (tiếng thanh ngang)

    – Bước 2: ba/huyền/bà (thêm các thanh khác)

    Tách lời thành tiếng

    Vật liệu:

    Tháp mười đẹp nhất bông sen

    Nước nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

    Nói to – nhỏ – mấp máy môi – thầm

    Phân tích bằng mô hình:

    Tiếng có 2 phần

    Phõn tớch b?ng phỏt õm

    SEN v CHEN

    ?

    ?

    2. Bài 2: Âm

    Học sinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị. Qua phát âm, các em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ tự của bảng chữ cái Tiếng Việt. Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng ký hiệu để ghi lại. Như vậy CGD đi từ âm đến chữ.

    Một âm có thể viết bằng nhiều chữ và có thể có nhiều nghĩa nên phải viết đúng luật chính tả.

    Do đó, các luật chính tả được đưa vào ngay từ lớp 1, CGD xử lý mối quan hệ âm và chữ

    Nguyên âm và Phụ âm

    T? 2 ph?n c?a ti?ng, cú m?u

    b

    a

    3. Bài 3: Vần

    Bài này giúp học sinh nắm được:

    – Cách tạo 4 kiểu vần Tiếng Việt

    – Cấu trúc vần Tiếng Việt: Âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối

    – Phát triển kiến thức về ngữ âm, phát triển năng lực phân tích và tổng hợp ngữ âm để tạo ra tiếng mới, vần mới.

    Các kiểu vần

    Kiểu 1: Vần chỉ có âm chính : la

    Kiểu 2: Vần có âm đệm và âm chính: loa

    Kiểu 3: Vần có âm chính và âm cuối: lan

    Kiểu 4: Vần có âm đệm, âm chính và âm cuối: loan

    Các kiểu vần

    Phân tích vật liệu bằng phát âm

    Mô hình hóa – ghi lại – đọc lại

    Luyện tập với nhiều vật liệu khác do T và H cùng tìm ra khi đọc

    b

    a

    o a

    a n

    o a n

    Bài 4: Nguyên âm đôi

    – Các Nguyên âm đôi: iê, uô, ươ

    – Cách ghi nguyên âm đôi

    * Luyện tập tổng hợp

    1.Phần LTTH bao gồm:

    – Hệ thống tri thức ngữ âm và luật chính tả.

    – Hệ thống bài đọc.

    2. Phần LTTH nhằm mục đích:

    Ôn tập lại kiến thức về cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt

    Rèn các kĩ năng N-N-Đ-V (chú trọng Đ-V) cho HS.

    V. QUY TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT LỚP chúng tôi

    Loại 1: Tiết lập mẫu

    Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm

    1.1: Giới thiệu vật liệu mẫu

    1.2: Phân tích ngữ âm

    1.3: Vẽ mô hình

    Việc 2: Viết

    2.1: Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ in thường

    2.2: Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ viết thường

    2.3: Viết tiếng có âm (vần) vừa học

    2.4: Viết vở Em tập viết

    Loại 1: Tiết lập mẫu

    Việc 3: Đọc

    3.1: Đọc trên bảng

    3.2: Đọc trong sách

    Việc 4: Viết chính tả

    4.1: Viết bảng con/Viết nháp

    4.2 : Viết vào vở chính tả

    Loại 2: Tiết dùng mẫu

    * Quy trình: Giống quy trình của tiết lập mẫu

    * Mục đích:

    Vận dụng quy trình từ tiếp Lập mẫu

    Luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết Lập mẫu.

    * Yêu cầu GV:

    Nắm chắc quy trình từ tiết lập mẫu

    Chủ động, linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao cho phù hợp với HS lớp mình.

    Loại 3: Tiết Luyện tập tổng hợp

    Việc 2: Đọc

    Bước 1: Chuẩn bị

    Đọc nhỏ

    Đọc bằng mắt

    Đọc to

    Bước 2: Đọc bài

    Đọc mẫu

    Đọc nối tiếp

    Đọc đồng thanh

    Bước 3: Hỏi đáp

    Việc 1:Ngữ âm

    – Đưa ra một số tình huống về ngữ âm TV và LCT.

    – Vận dụng Làm một số bài tập ngữ âm và LCT

    – Tổng hợp kiến thức ngữ âm theo hệ thống đã sắp xếp

    Loại 3: Tiết Luyện tập tổng hợp

    Việc 3: Viết

    3.1.Viết bảng con

    3.2.Viết vở Em Tập viết

    Việc 4: Chính tả

    4.1. Ôn LCT (nếu có)

    4.2. Nghe – viết

    VI. PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1.CGD

    Phương pháp Mẫu:

    Lập mẫu, sử dụng mẫu

    Làm mẫu, tổ chức học sinh làm theo mẫu đã có

    Phương pháp việc làm

    Tổ chức việc học của trẻ em thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy.

    VII. CÁC MẪU CƠ BẢN

    VIII. TỔ CHỨC, KIỂM SOÁT, ĐÁNH GIÁ

    CGD đã xây dựng một quy trình lô gic, có sự kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống Việc làm- thao tác cụ thể, tường minh.

    Đánh giá HS trong cả quá trình.

    Có 4 mức độ đánh giá :

    1.làm được

    2.làm đúng

    3.làm đẹp

    4.làm nhanh

    (Mức 1, 2 là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt cho 100% học sinh. Mức 3,4 thể hiện sự phân hóa HS rõ nét trong quá trình dạy học).

    PHẦN III: BỘ TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT NĂM HỌC 2012-2013

    Nêu đặc điểm chính của từng loại tài liệu ?

    1. Tài liệu tập huấn giáo viên.

    2. Tài liệu TK Tiếng Việt lớp 1.CGD?

    3. Tài liệu Tiếng Việt lớp 1.CGD?

    4. Tài liệu Em tập viết CGD?

    Cách sử dụng và những điều cần lưu ý của mỗi loại tài liệu ?

    1. Tài liệu tập huấn giáo viên.

    2. Tài liệu TK Tiếng Việt lớp 1.CGD?

    3. Tài liệu Tiếng Việt lớp 1.CGD?

    4. Tài liệu Em tập viết CGD?

    CÙNG XEM LẠI CÁC TÀI LIỆU

    TÀI LIỆU CHO GV

    1. Tài liệu tập huấn (Công nghệ học môn Tiếng Việt lớp 1).

    Trình bày lý luận CGD

    Nhấn mạnh kĩ thuật thực thi cho từng loại tiết học, từng mẫu (Trong mỗi phần đều có phần phân tích sư phạm)

    2. Tài liệu thiết kế (3 tập):

    Mẫu thiết kế tương ứng với các mẫu trong sách giáo khoa

    Phân phối chương trình

    Các tiết luyện tập

    II. TÀI LIỆU CHO HỌC SINH

    1. Bộ tài liệu Tiếng Việt 1. CGD ( 3 tập)

    a.Cấu trúc

    Tập 1: Tiếng và Âm

    Tập 2: Vần và Nguyên âm đôi

    Tập 3: Tự học

    b.Cách sử dụng

    – Dùng trên lớp trong từng tiết học

    – HS có thể mang về nhà để luyện tập thêm

    2. Bộ tài liệu tập viết

    a.Cấu trúc

    Gồm 3 tập: Nội dung tương ứng với SGK (trang ăn trang)

    Hướng dẫn cách nhận biết chữ in dựa trên tọa độ

    Dựa trên tọa độ của chữ in thường, in hoa để viết chữ viết thường, chữ viết hoa.

    b.Cách sử dụng

    Dùng luyện tập thêm về kỹ năng viết.

    GV chủ động về thời gian và căn cứ vào tình hình của lớp mình để triển khai vở Tập viết.

    Quy trình viết cụ thể của từng đã được hướng dẫn cụ thể trong thiết kế.

    III. Lưu ý về tài liệu 2013-2014

    1. Tài liệu SGK

    – Cấu trúc không thay đổi

    – Chỉnh sửa một số vật liệu cho chính xác hơn.

    – Một số lỗi in ấn

    2. Tài liệu tập viết

    – Thay đổi loại giấy đảm bảo chất lượng

    – Điều chỉnh vật liệu bài /i/ cho phù hợp SGK

    – Điều chỉnh điểm đặt bút của một số nét cho dễ viết hơn

    3. Tài liệu thiết kế

    Sách thiết kế rà soát lại căn cứ vào nội dung điều chỉnh của sách giáo khoa và vở tập viết.

    4. Bộ băng đĩa các tiết minh họa

    Gồm 14 đĩa: 5 mẫu và LCT

    Cấu trúc: 2 phần

    Tự kiểm tra- Đánh giá

    1. Đối tượng của môn chúng tôi là gì ?

    2. CGD dùng phương pháp chủ yếu nào trong quá trình dạy học ?

    3. Trình bày những nội dung chính của từng bài học trong chương trình môn Tiếng Việt 1 – CGD ?

    4. Hãy nhắc lại các mẫu cơ bản khi dạy học môn chúng tôi ?

    5. Nêu quy trình dạy học môn chúng tôi ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Bất Ngờ Từ Tiết Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Tiết Thao Giảng Tiếng Việt 1
  • Tiết Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục Lớp 1
  • Dạy Luật Chính Tả Trong Môn Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1
  • Cach Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1 Tieng Viet Cong Nghe 1 Doc
  • Dạy Luật Chính Tả Trong Môn Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiết Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục Lớp 1
  • Tiết Thao Giảng Tiếng Việt 1
  • Điều Bất Ngờ Từ Tiết Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Tập Huấn Dạy Công Nghệ Tiếng Việt 1
  • Sách Tiếng Việt Lớp 1 Của Cánh Diều Chính Thức Phải Điều Chỉnh Nội Dung Chưa Phù Hợp
  • CnH là công nghệ cho H học, là Công nghệ tự học. H trực tiếp tự mình thực thi cả 4 việc, làm theo thứ tự chặt chẽ của quy trình cứng, hình thành CÁCH nghĩ ( tư duy ) .

    Khi dạy về Luật chính tả trong TV1. CGDvới giáo viên trực tiếp như chúng tôi gặp không ít khó khăn.Đối tượng là học sinh lớp 1, các em còn nhỏ,nội dung học về luật chính tả nhiều nên giáo viên phải tìm nhiều phương pháp để cho các em khắc sâu và ghi nhớ lâu trong suốt quá trình học tạo thành kĩ năng để vận dụng vào thực tế.

    Qua một thời gian giảng dạy về Luật chính tả trong TV1. CGD tôi đã phần nào hiểu về nội dung môn học nên đã mạnh dạn đưa ra chuyên đề : ” Chuyên đề dạy luật chính tả trong môn Tiếng Việt Công nghệ lớp 1″.

    II.Các giải pháp thực hiện:

    1. Nội dung luật chính tả TV1.CGD:

    Trong quá trình lập mẫu và dùng mẫu H được vận dụng các quy tắc chính tả:

    *Vai trò của Luật chính tả trong TV1.CGD:

    -Cùng với cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt, LCT là một thành phần không thể tách rời của TV1.CGD.

    -Nhằm giải quyết mối quan hệ Âm – Chữ để đạt được mục tiêu : đọc thông; viết thạo (không viết sai chính tả); không tái mù.

    -Luật chính tả viết hoa.

    -Luật chính tả e, ê, i.

    -Luật chính tả âm đệm.

    -Luật chính tả nguyên âm đôi.

    -Luật chính tả phiên âm tiếng nước ngoài.

    -Luật chính tả ghi dấu thanh.

    -Luật chính tả theo nghĩa.

    -Một số trường hợp đặc biệt.

    2.Giải pháp:

    Để dạy tốt môn Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục phần Luật chính tả có hiệu quả cao, theo tôi, giáo viên cần vận dụng phù hợp các hình thức tổ chức dạy học trong từng tiết học một cách hiệu quả nhất.Đồng thời, sử dụng một số phương pháp dạy học như: Phương pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp hỏi đáp, phương pháp trực quan… kết hợp với nhiều hình thức dạy học như: Học theo lớp, nhóm; cá nhân,…

    Giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hành và rèn luyện kỹ năng đọc, viết; lưu ý trang bị cho học sinh kiến thức từ thấp đến cao.

    Để làm được điều này, người giáo viên chỉ nhiệt tình giảng dạy là không đủ mà còn phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; phải biết kích thích lòng say mê học tập của các em, đồng thời lưu ý đến điều kiện thực tế ở mỗi lớp, mỗi trường.

    2.1. Cách dạy Luật chính tả của TV1.CGD

    – Gặp đâu dạy đó.

    -Dạy đâu chắc đó.

    -Dạy LCT đi liền với dạy cấu trúc ngữ âm của Tiếng

    2.2. Quy trình tổ chức dạy học các bài Luật chính tả của chúng tôi Thống nhất quy trình 4 việc

    Việc 1. Chiếm lĩnh ngữ âm

    Việc 2. Viết (học viết chữ ghi âm)

    Việc 3. Đọc (đọc bảng, đọc sách)

    Việc 4. Viết chính tả (tổng kiểm tra)

    -Gặp tình huống chính tả ở đâu GV cần giúp HS xử lí triệt để ở đấy để làm rõ mối quan hệ âm và chữ.

    -Lưu ý HS một số trường hợp đặc biệt.

    -Liên tục nhắc lại Luật chính tả cho HS khi đọc và viết chứa luật

    2.4. Một số ví dụ minh họa :

    a.Dạy luật chính tả e , ê , i :

    – Âm /cờ / đứng trước âm / e / , / ê /, / i / phải viết bằng con chữ k ( đọc là ca )

    – Âm / gờ / đứng trước âm / e / , / ê /, / i / phải viết bằng con chữ gh ( đọc là gờ kép )

    – Âm / ngờ / đứng trước âm / e / , / ê /, / i / phải viết bằng con chữ ngh ( đọc là ngờ kép )

    Ví dụ 1: Tuần 4 . Tiết 3,4 .Âm / g /

    Việc 2: Mục 2c ( Theo sách thiết kế tập 1 )

    T. Em đưa tiếng /ga / vào mô hình .

    H. Thực hiện .

    g a

    T. Em đưa tiếng / ghê / vào mô hình . lưu ý ; lúc này sẽ có hai trường hợp xảy ra

    H. thực hiện .

    gh ê g ê

    – Trường hợp 1 : H viết ghê ( H đã được học trước ) .

    – Trường hợp 2 : H viết gê ( H chưa được học trước ) .

    T. Giới thiệu luật chính tả ghi âm / g / trước / e / , / ê / .

    T. Ở đây có luật chính tả : âm / gờ / đứng trước âm / e / và / ê / phải ghi bằng con chữ gh ( gọi là gờ kép ) . Em nhắc lại .

    H1 , H2 , H3 ,…: Âm / gờ / đứng trước âm / e / vag / ê / phải ghi bằng con chữ gh .

    H. ( Đồng thanh ) ( T – N – N – T ) .

    T. Giới thiệu cách viết chữ gh .

    – Chữ gh gồm nét cong kín , nét khuyết dưới ( giống như chữ g ) , nét khuyết trên và nét móc hai đầu .

    H. Viết vào bảng con ( 3 – 5 lần ).

    T. ( Nhấn mạnh ) Âm / gờ / được ghi bằng hai con chữ khác nhau quen gọi là g

    ( gờ đơn ) , gh ( gờ kép ).

    H. ( Nhắc lại ) Âm / gờ / được ghi bằng hai con chữ khác nhau là g và gh .

    T. Em hảy đưa tiếng / ghế / vào mô hình .

    H. (Đưa vào mô hình từng tiếng theo yêu cầu của T ) .

    g h ế

    T. Em đọc lại tiếng vừa viết .

    H. – Đọc trơn : / ghế / .

    – Đọc phân tích : / ghê / / gờ / – / ê / – / ghê /.

    / ghế / / ghê / – / sắc / – / ghế / .

    Ví dụ 3 : Tuần 5 tiết 9 , 10 Âm / ng / việc 2 theo thiết kế Tiếng Việt 1 tập một Công nghệ mục 2c , 2d .

    2c . Viết tiếng có âm / ng / .

    T . Em đưa âm / ng / vào mô hình trên .

    H. Thực hiện .

    ng a

    T. Em chỉ vào mô hình và đọc , đọc trơn , đọc phân tích .

    H. ( Đọc ) / nga / / ngờ / – / a / – / nga / .

    2d . Giới thiệu luật chính tả âm / ng /

    T. ( Phát âm ) / nghe / .

    H1 , H2 , H3 , …..( Phát âm lại ) / nghe /.

    H. ( Đồng thanh ) / nghe / .

    T. Em phân tích .

    H. / nghe / / ngờ / – / e / – / nghe / .

    T. Các em lưu ý ở đây có luật chính tả : Khi âm / ngờ / đứng trước nguyên âm / e / ta viết bằng con chữ ngh ( ngờ kép ) . ( T viết mẫu lên bảng ) .

    H. ( Đồng thanh ) Âm / ngờ / đứng trước âm / e / ta viết bằng con chữ ngh ( ngờ kép ) . ( T – N – N – T ) .

    T. Hướng dẫn viết chữ ngh : gồm một nét móc xuôi , một nét móc hai đầu ( giống chữ n ) , một nét cong kín , một nét khuyết dưới ( giống chữ g ) , Một nét khuyết trên , một nét móc hai đầu ( giống chữ h ) .

    T. Em đưa tiếng / nghe / vào mô hình .

    H. thực hiện .

    ngh e

    T. Em chỉ vào mô hình và đọc , đọc trơn và đọc phân tích .

    H. ( Đọc ) / nghe / / ngờ / – / e / – / nghe / .

    T. Em viết vào bảng con : nga , nghe .

    T. Em thêm thanh vào mô hình trên . Viết ở bảng con .

    H. nghe nghè nghé nghẻ nghẽ nghẹ .

    b.Luật chính tả về âm đệm:

    – Âm / cờ / đứng trước âm đệm phải viết bằng con chữ q ( gọi là “cu” ) và âm đệm viết bằng chữ u .

    + Ghi âm / cờ / có ba chữ cái : c , k , q .

    + Âm đệm ghi bằng hai chữ cái : o , u .

    Ví dụ 4: Tuần 10 tiết 5, 6 Vần / oe / việc 1 theo thiết kế tiếng việt 1 tập hai Công nghệ mục 1d .

    1d . Tìm tiếng mới .

    T. ( Giao việc ) Viết tiếng / loe / .

    1. T. Thay âm đầu trong tiếng / loe / , em có tiếng gì ? ( Chú ý chia các phụ âm đầu cho từng tổ , H thuộc tổ nào thì dùng phụ âm đầu cho tổ đó ).

    H. 1H viết ở bảng lớp , H khác viết ở bảng con . Lần lượt nêu tiếng của mình , chẳng hạn : boe , choe , doe , đoe , goe .

    T. Em viết: Khoe .

    H. Viết : Khoe ( viết xong , đọc to )

    2. T. Em hảy thêm các dấu chấm thanh để tạo ra tiếng mới . Em nhớ luật chính tả về vị trí đặt dấu thanh .

    H. Khòe , khóe , khỏe , khõe , khọe .

    T. Dấu thanh đặt ở đâu ?

    H. Dấu thanh đặt ở chữ ghi âm chính / e / .

    T. Em viết: que . Em lưu ý luật chính tả âm / cờ / đứng trước âm đệm .

    H. H viết: que .

    T. Em hảy thêm thanh vào / que / để tạo ra tiếng mới .

    H. què , qué , quẻ , quẽ , quẹ .

    T. Luật chính tả về âm đệm .

    Khi viết chữ có âm đệm , em cần lưu ý :

    -Dấu thanh đặt ở chữ ghi âm chính .

    -Âm / cờ / đứng trước âm đệm , ghi bằng chữ q , âm đệm ghi bằng chữ u . như vậy , một âm đệm có thể ghi bằng hai chữ : o hoặc u .

    c.Luật chính tả về nguyên âm đôi / ia / , / ua / , / ưa / .

    -Luật chính tả âm / ia / :

    + Khi vần không có âm cuối thì viết là ia .

    + Khi vần có âm cuối thì viết là iê , nếu vần có âm đệm thì ta viết là yê .

    -Luật chính tả / ua / :

    + Nếu vần không có âm cuối thì nguyên âm / uô / viết bằng ua . ( chú ý : ua là một chữ cái ghi một âm )

    *Nếu vần có âm cuối thì viết là uô .

    *Nếu vần không có âm cuối thì viết là ua .

    -Luật chính tả về / ưa / :

    +Theo luật chính tả , âm / ươ / trong vần có âm cuối viết ươ ; ở vần không có âm cuối viết ưa .

    Với phương pháp dạy học như trên tôi thấy rất có hiệu quả bản thân tôi xin trình bày một số kinh nghiệm như sau:

    Giáo viên phải nắm vững phương pháp về Luật chính tả để đưa các hoạt động một cách hợp lý.

    Tích cực tham khảo tài liệu trong và ngoài chương trình, học hỏi đồng nghiệp để nâng cao trình độ, hình thức và phương pháp giảng dạy phù hợp.

    Bản thân giáo viên phải chịu khó, kiên trì nhắc nhở hằng ngày, tìm các phương pháp phù hợp với độ tuổi trẻ.

    Giáo viên cần phải tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ được tham gia vào các hoạt động, được tham gia giúp cô những công việc vừa sức, mô hình được làm trên cơ sở hứng thú, theo nhu cầu của trẻ mới đạt hiệu quả cao nhất trong công tác giáo dục trẻ.

    GV trường Tiểu học thị trấn Tây Sơn

    Đinh Thị Diệu Chi @ 21:15 05/05/2015

    Số lượt xem: 311476

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cach Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1 Tieng Viet Cong Nghe 1 Doc
  • Giới Thiệu Phần Mềm Hỗ Trợ Học Và Dạy Tiếng Việt Lớp 1
  • Chương Trình Lớp 1 Mới: Dạy Con Học Như Một Cuộc Chiến
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Học Phần Âm Môn Tiêng Việt Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt 1
  • Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Tập Đọc Lớp 1 Trọn Bộ
  • Giáo Án Môn Tiếng Việt Lớp 1 Bộ Sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống (Trọn Bộ Học Kì 1)
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 1 Sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống
  • Tiết Dạy Minh Họa Sgk Lớp 1 Bộ Sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt 1
  • Học cái gì là làm ra cái đó Bản chất việc dạy học Tiếng Việt Công nghệ giáo dục là dạy khái niệm khoa học. Thông qua việc tự chiếm lĩnh tri thức của học sinh, phát triển năng lực tối ưu của từng cá nhân: khả năng phân tích, tổng hợp, mô hình hóa. Học sinh học mônTiếng Việt Công nghệ giáo dục là học cách làm việc trí óc, học cách học, học cách tự nhận xét- đánh giá quá trình và kết quả làm việc của mình

    Theo TS Ngô Hiền Tuyên, mục tiêu của dạy học môn tiếng Việt lớp 1 theo Công nghệ Giáo dục là giúp các em học sinh đọc thông viết thạo, học đâu chắc đấy. Nắm chắc luật chính tả, nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt.

    Đồng thời giúp các em phát triển tư duy và biết cách làm việc trí óc, phát huy năng lực tối ưu của từng cá nhân học sinh.

    Cách học cái gì là làm ra cái đó trong nhà trường. Quá trình học là quá trình nhà giáo dục tổ chức cho trẻ em thực hiện quá trình tự giáo dục. Việc học có thực hiện được hay không là do phương pháp giáo dục của nhà trường.

    Ví dụ ở phần học “Tách lời thành tiếng” trong bài học về “Tiếng”, giáo viên có thể đưa ra câu thơ:

    “Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”.

    Để giúp học sinh có được những kỹ năng trên, giáo viên có thể làm theo cách sau: Nói: to – nhỏ – mấp máy môi – thầm hoặc phân tích bằng mô hình.

    Giáo viên cũng có thể tách tiếng thành 2 phần rồi phân tích bằng phát âm SEN và CHEN

    Hay như với bài học về vần, từ 2 phần của tiếng, có mẫu giáo viên phân tích vật liệu bằng phát âm. Mô hình hóa – ghi lại – đọc lại luyện tập với nhiều vật liệu khác.

    Cách học Tiếng Việt Công nghệ giáo dục

    Tiến sỹ Tuyên – cho biết: Bản chất việc học là làm ra khái niệm. Phân tích được mối quan hệ bản chất, bên trong của khái niệm. Đồng thời mô hình hoá được quan hệ này ở dạng tổng quát và cụ thể hóa khái niệm qua luyện tập sử dụng.

    Thao tác hình thành khái niệm gồm: Phân tích, cụ thể hóa. Thao tác này là luyện tập thành kỹ năng. Học sinh có một công cụ và có thể tự học lấy các kiến thức khác trong phạm vi của khái niệm vừa hình thành.

    Những điều cần biết đối với phụ huynh Nên khuyến khích con tự học. Nên khen con thường xuyên. Nên kiên nhẫn, biết đợi và biết lắng nghe những điều con nói. Nên kiểm soát việc học của con bằng cách đặt câu hỏi. Không nên dạy con học trước. Không nên chê con khi con chưa làm được. Không nên nóng giận và áp đặt suy nghĩ của mình cho trẻ. Không nên tạo áp lực về điểm số, thành tích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 1 Từ Tuần 1 Đến Tuần 35
  • Giáo Án Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Gdpt Mới
  • Tập Huấn Bộ Sách Giáo Khoa (Sgk) Lớp 1 Cánh Diều Tại Các Cơ Sở Giáo Dục: Những Phản Hồi Tích Cực
  • Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Theo Sách Công Nghệ Giáo Dục, Giáo Viên Nói Gì?
  • Cach Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1 Tieng Viet Cong Nghe 1 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Luật Chính Tả Trong Môn Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1
  • Tiết Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục Lớp 1
  • Tiết Thao Giảng Tiếng Việt 1
  • Điều Bất Ngờ Từ Tiết Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Tập Huấn Dạy Công Nghệ Tiếng Việt 1
  • NỘI DUNG DẠY HỌC

    Môn Tiếng Việt

    Môn Văn

    Môn Toán

    Môn Đất nước học

    Môn Giáo dục nghệ thuật

    Môn Giáo dục lối sống

    Môn Tiếng Anh

    Môn Giáo dục thể chất

    Môn Công nghệ thông tin

    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    Lí luận dạy học theo công nghệ giáo dục

    Các tiết dạy minh họa

    Các mẫu tập huấn

    VIDEO

    Quy trình Viết chính tả của môn Tiếng Việt lớp 1- CGD

    Thứ năm, 21 Tháng 5 2022 01:42 ADMIN_CNGD Phương pháp dạy học – Các tiết dạy minh họa

    Câu hỏi: Quy trình Viết chính tả của môn Tiếng Việt lớp 1- CGD gồm mấy bước? Có thể linh hoạt lược bỏ một số bước, thao tác được không?

    Trả lời: Quy trình Viết chính tả của môn Tiếng Việt 1 – CGD Quy trình viết chính tả của môn Tiếng Việt 1 – CGD là một cách dạy H làm việc trí óc, đó là hình thức Nghe – viết chứ không phải Nhìn – chép. Đầu tiên H nhận ra tiếng bằng cách nhắc lại tiếng để nhớ tiếng. Sau đó phân tích tiếng thành các âm cấu thành. Dùng chữ ghi lại âm – viết. Cuối cùng đọc lại để kiểm tra. Quy trình Viết chính tả được cụ thể hóa thành 4 bước như sau: – Bước 1: Phát âm lại (đồng thanh, cả lớp). – Bước 2: Phân tích (bằng thao tác tay). – Bước 3: Viết. – Bước 4: Đọc lại. Để thực hiện tốt quy trình viết chính tả, T cần làm kĩ từng bước để H nắm chắc, không sợ mất thời gian. T phải phát âm chuẩn, rõ ràng, dứt khoát, chỉ phát âm một lần để rèn cho H khả năng tập trung. T không phát âm một tiếng nhiều lần. Nếu trong lớp chưa có H viết được thì T dừng lại, yêu cầu H đó phát âm lại, phân tích tiếng rồi viết. T tuyệt đối không làm thay H. Quy trình Viết chính tả có thể áp dụng một cách linh hoạt tùy theo trình độ và kĩ năng của từng lớp. Với những lớp H đã có khả năng nghe – viết khá tốt nên có thể lược bỏ một số thao tác (Phát âm lại, phân tích). Thậm chí, sự linh hoạt đó có thể phân hóa tới từng nhóm học sinh trong một lớp học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Phần Mềm Hỗ Trợ Học Và Dạy Tiếng Việt Lớp 1
  • Chương Trình Lớp 1 Mới: Dạy Con Học Như Một Cuộc Chiến
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Học Phần Âm Môn Tiêng Việt Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt 1
  • Tiết Dạy Minh Họa Sgk Lớp 1 Bộ Sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống
  • Bản Chất Việc Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Chia Sẻ Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục
  • Phương Pháp Dạy Hs Lớp 1 Nhanh Biết Đọc Tiếng Việt
  • Thiết Kế Bài Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 1 (Chương Trình 2022)
  • Giáo Án Tiếng Việt Lớp 1
  • Dạy Mẫu Âm Trong Chương Trình Môn Tiếng Việt Lớp 1
  • Tên gọi “Công nghệ giáo dục” (CGD) xuất hiện ở ViệtNamđầu những năm 90 của thế kỷ trước – tiền thân là chương trình thực nghiệm giáo dục (phổ thông) ra đời trước khi cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3(1980) diễn ra. Việc xác định mục tiêu (hướng đi) và hiện đại hóa nền giáo dục bằng (Cách làm) Công nghệ hóa, CGD được coi là một trong những giải pháp có sức thuyết phục đối với nền giáo dục đương thời và được nhiều người mong đợi.

    I. BẢN CHẤT CỦA VIỆC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP chúng tôi Về lý luận và thực tiễn

    Với tư tưởng Công nghệ hóa quá trình giáo dục, CGD coi giáo dục là một quá trình sản xuất đặc biệt. Quá trình dạy học là quá trình làm ra sản phẩm là khái niệm khoa học. Người học – học sinh – là chủ thể của quá trình, tự làm nên sản phẩm (khái niệm) do thầy giáo tổ chức hướng dẫn thông qua mối quan hệ phân công hiệp tác trong “dây chuyền công nghệ”: Thầy thiết kế – Trò thi công! Điều đó làm nên ý tưởng đậm chất kỹ thuật của CGD, sau này được gọi như một khái niệm mới về mặt học thuật là Công nghệ Học (có thể gọi đó là cái lõi của công nghệ giáo dục).

    Bản chất của công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằng một Quy trình kỹ thuật được xử lý bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm.Trong dạy học, CGD quan tâm đến Cái và Cách. Thay cho mệnh đề thông thường là dạy học cái gì và dạy học như thế nào, CGD coi Cái/Cách là cốt lõi của nghiệp vụ sư phạm hiện đại. Cái vốn là của có sẵn trong xã hội đương thời. Nghiệp vụ sư phạm chỉ việc chọn lựa, nhặt ra và sắp xếp lại theo định hướng lý thuyết theo 3 nguyên tắc: Phát triển-Chuẩn mực-Tối thiểu. Cái là hình thái tồn tại của Đối tượng cũng đồng thời là Sản phẩm. Cách là quá trình chuyển hóa (chuyển vào trong), được thiết kế bằng một Quy trình kỹ thuật để làm ra Cái (sản phẩm) ở dạng kiến thức khoa học. Cách còn được hiểu là Cách dùng Cái như ở dạng kỹ năng vận dụng hoặc việc lựa chọn, sắp xếp như nói trên.

    Việc xử lý mối quan hệ Cái/Cách thể hiện trình độ chuyên nghiệp của nghiệp vụ sư phạm, với nhiệm vụ cốt tử là Thiết kế một hệ thống việc làm, mỗi việc là triển khai bằng một chuỗi thao tác: thao tác tư duy (hay thao tác trí óc) và thao tác vật chất (hay thao tác cơ bắp). Để thiết kế quy trình công nghệ dạy học, nhất thiết phải tìm tòi, phát hiện được cái lôgic tồn tại của khái niệm, nhờ đó xác định một cách tường minh các việc làm, thao tác rạch ròi, chính xác nhằm tạo cho việc chiếm lĩnh khái niệm một cách chủ động, dễ dàng kiểm soát được. Vì vậy năng lực thiết kế quy trình công nghệ dạy học một khái niệm hoàn toàn đồng nghĩa với năng lực tìm tòi, phát hiện con đường hình thành khái niệm đó.

    CGD thực thi ý tưởng của mình trong việc xây dựng chương trình các môn học. Môn Tiếng Việt 1 là một trong những môn học đã được đời sống nhà trường chấp nhận, coi đó là thành công trong suốt thời gian các trường học 43 tỉnh, thành phố cả nước nhập CGD giai đoạn từ năm 1986 – năm 2000. Vấn đề “Cái” và “Cách” thực sự khởi xướng về mặt Kỹ thuật cho công cuộc “Đổi mới phương pháp dạy học” mà về sau được hiểu đúng đắn đầy đủ hơn là ” Đổi mới Phương pháp-Kỹ thuật dạy học“. Cái là Khái niệm khoa học, ta thường được biết tới như là Kiến thức, Kỹ năng, Thái độ-là đầu ra của Nội dung dạy học. Cách là Phương pháp-Kỹ thuật dạy học. Chúng ta có thể so sánh để thấy được sự khác biệt cả về mặt phương pháp và mặt kỹ thuật giữa ” Thầy giảng giải- Trò ghi nhớ” với một đằng là ” Thầy thiết kế-Trò thi công “.

    Bộ sách tiếng Việt lớp 1- Công nghệ giáo dục

    2. Về nội dung và nguyên tắc xây dựng chương trình

    Môn Tiếng Việt lớp chúng tôi là sự chắt lọc thành tựu từ 3 lĩnh vực khoa học (triết học, ngữ âm học, tâm lí học).CGD xác định đối tượng lĩnh hội trong môn Tiếng Việt lớp chúng tôi là Cấu tạo ngữ âm của tiếng Việt. Để chiếm lĩnh đối tượng một cách hiệu quả, CGD đã đặt đối tượng trong một môi trường thuần khiết- chân không về nghĩa. CGD đã xuất phát từ Âm (Âm thanh, âm vị) để đi đến chữ (kí mã), rồi từ chữ quay về âm ( giải mã). Dựa trên những thành quả khoa học hiện đại nhất về ngữ âm học của tác giả Đoàn Thiện Thuật (1977), CGD đã chắt lọc những vấn đề cơ bản nhất nhằm mang đến cho trẻ em không chỉ những kiến thức và kĩ năng cần thiết mà còn giúp trẻ lần đầu tiên đến trường được làm việc một cách khoa học, phát triển khả năng tối ưu của mỗi cá thể, phát triển năng lực làm việc trí óc, năng lực sử dụng tiếng Việt hiện đại một cách có văn hóa thông qua các hoạt động kích thích khả năng tư duy và khái quát hóa .

    Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp chúng tôi được chiếm lĩnh theo con đường từ trừu tượng đến cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp.Bản chất việc dạy Tiếng Việt lớp 1. CGD cho học sinh là dạy cho học sinh hệ thống khái niệm của một môn khoa học nhằm giúp các em chiếm lĩnh được tri thức ngữ âm cơ bản và hình thành các kĩ năng Nghe- Nói- Đọc- Viết tương ứng. Lần đầu tiên học sinh biết tiếng là một khối âm thanh toàn vẹn như một “khối liền” được tách ra từ lời nói. Tiếp đó, bằng phát âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếng khác nhau hoàn toàn. Sau đó, các em phân biệt các tiếng khác nhau một phần. Đến đây, tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: phần đầu, phần vần, thanh. Trên cơ sở đó, các em biết đánh vần một tiếng theo cơ chế hai bước. Học sinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị (gọi tắt là âm). Qua phát âm, các em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ tự của bảng chữ cái TiếngViệt. Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng kí hiệu để ghi lại. Như vậy, con đường chiếm lĩnh đối tượng của CGD đi từ âm đến chữ.

    Đặc biệt,chương trình Tiếng Việt chúng tôi được xây dựng từ 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối thiểu. Ba nguyên tắc này xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống Bài học Tiếng Việt chúng tôi

    Nguyên tắc phát triển đòi hỏi mỗi sản phẩm của thời điểm trước( của một tiết học hay một bài học) đều có mặt trong sản phẩm tiếp sau. Vì thế mà các Bài học trong chương trình Tiếng Việt chúng tôi được xây dựng trên một trật tự tuyến tính lôgic, khoa học: Tiếng, Âm, Vần, Nguyên âm đôi.

    Nguyên tắc chuẩn mực được thể hiện ở tính chính xác của các khái niệm khoa học, tính chuẩn mực trong cách lựa chọn thuật ngữ để định hướng và tổ chức quá trình phát triển của học sinh.

    Nguyên tắc tối thiểu yêu cầu việc xác định và lựa chọn một số chất liệu tối thiểu và một số vật liệu tối thiểu cho chất liệu đó nhằm đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh lớp 1.

    3. Về phương pháp và kĩ thuật dạy học

    Công nghệ giáo dục thiết kế việc dạy học theo một quy trình logic chặt chẽ, bằng hệ thống các biện pháp KTDH với các hình thức tổ chức dạy học hợp lý.

    Về phương pháp dạy học: Quy trình Công nghệ bao gồm hai công đoạn là công đoạn Lập mẫu và công đoạn Dùng mẫu. Lập mẫu là quá trình T tổ chức cho HS chiếm lĩnh khái niệm trên một vật liệu xác định. Dùng mẫu là luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với công đoạn Lập mẫu. Để thực hiện quy trình này, T phải sử dụng phương pháp Mẫu. T phải xuất phát từ Mẫu, phân tích Mẫu và vận dụng Mẫu. Mỗi mẫu cơ bản trên tương ứng với quy trình của một tiết Lập mẫu. Dựa trên quy trình của tiết Lập mẫu đó có thể xây dưng nhiều tiết Dùng mẫu.

    Bên cạnh phương pháp Mẫu còn phải kể đến một phương pháp đặc trưng xuyên suốt quá trình dạy học theo quy trình công nghệ – phương pháp Việc Làm. Đây là phương pháp dạy học hoàn toàn mới, xây dựng trên cơ sở sự hợp tác mới giữa Thầy và Trò. Trong đó, T tổ chức việc học của HS (T không giảng, chỉ giao việc, hướng dẫn, theo dõi, điều chỉnh) thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy. Điều này thể hiện rất rõ qua toàn bộ thiết kế TV1.CGD.

    Về kĩ thuật dạy học: Kĩ thuật dạy học đã được chuyển giao thành công nghệ mới. Công nghệ mới chính là quá trình có thể kiểm soát được. Quá trình này cho ra những sản phẩm đồng loạt, bảo đảm độ tin cậy một cách chắc chắn.

    Đặc biệt quá trình này có thể thực hiện được ở mọi nơi khác nhau bởi tính phân hoá ưu việt của chương trình và cách kiểm soát triệt để tới từng cá thể HS.

    4. Về cơ chế thức tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học

    Khác với nền giáo dục cổ truyền , CGD đã xây dựng một quy trình lôgic, có sự kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống Việc làm- thao tác cụ thể, tường minh. Để thiết kế được hệ thống việc làm-thao tác cho việc hình thành- chiếm lĩnh một khái niệm, CGD xác định nhiệm vụ một cách rõ ràng :

    – Làm rõ các thành phần (đơn vị kiến thức-kỹ năng) cấu thành của khái niệm ấy.

    – Coi nhiệm vụ hình thành được mỗi đơn vị (kiến thức-kỹ năng) cấu thành ấy là một việc làm

    – Xem xét trong mỗi việc làm ấy cần những đơn vị việc nhỏ nhất gì, định cho mỗi đơn vị nhỏ nhất ấy một thao tác, sao cho đến thao tác cuối cùng ta hoàn thành xong một việc làm.

    – Thống kê sắp xếp các việc làm- thao tác vừa xong, ta có một hệ thống việc làm- thao tác cần thiết kế.

    – Rà soát, tu chỉnh lại hế thống trên để có chính thức một hệ thống việc làm-thao tác tối ưu cho hoạt động dạy học khái niệm.

    5. Về nhận xét, đánh giá sản phẩm giáo dục

    CGD nhấn mạnh vấn đề đánh giá sản phẩm giáo dục thông qua hoạt động của HS, đánh giá dựa trên quá trình chứ không phải đánh giá dựa vào kết quả tại một thời điểm. Việc đánh giá không chỉ dừng ở phương diện kiến thức, kĩ năng mà còn xem xét ở góc độ ý thức học tập và phương pháp học tập. Học môn Tiếng Việt chúng tôi H không chỉ ý thức được các hoạt động của chủ thể mà còn tự kiểm soát được quá trình hình thành tri thức. H không chỉ có thói quen làm việc độc lập mà còn hình thành một phương pháp tự học, tự mình chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động của chính bản thân.

    Để đánh giá HS, CGD không chỉ nhìn nhận trong cả quá trình mà còn so sánh đối chiếu với chính cá thể đó ở các thời điểm khác nhau. Sự tiến bộ của một HS phải được so sánh với chính bản thân HS trong cùng một hoạt động.

    Có 4 mức độ đánh giá đối với quá trình chiếm lĩnh đối tượng của HS:

    – Mức 1: làm được

    – Mức 2: làm đúng

    – Mức 3: làm đẹp

    – Mức 4: làm nhanh

    Mức 1, 2 là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt cho 100% học sinh. Mức 3,4 thể hiện sự phân hóa HS rõ nét trong quá trình dạy học.

    Ngô Hiền Tuyên

    Vụ Giáo dục tiểu học- Bộ Giáo dục và Đào tạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vấn Đề Cần Biết Về Chương Trình Tiếng Việt 1
  • Xung Quanh Chương Trình Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục
  • Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Tiếng Latin
  • Top 5 Trung Tâm Dạy Tiếng Trung Chất Lượng Tại Biên Hòa 2022
  • Trung Tâm Tiếng Trung Tại Lào Cai
  • Điều Bất Ngờ Từ Tiết Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Huấn Dạy Công Nghệ Tiếng Việt 1
  • Sách Tiếng Việt Lớp 1 Của Cánh Diều Chính Thức Phải Điều Chỉnh Nội Dung Chưa Phù Hợp
  • Hội Đồng Thẩm Định Đánh Giá Ra Sao Về Sách Tiếng Việt Lớp 1 Bộ Cánh Diều?
  • Nghe Thầy Thuyết Nói Về Sách Tiếng Việt Lớp 1 Mới, Giáo Viên Chúng Tôi Lo Quá
  • Xôn Xao “sạn” Sách Tiếng Việt Lớp 1: Suồng Sã Phương Ngữ, Dạy Khôn Lỏi?
  • Chuông điện thoại reo hồi dài, tôi nhấc máy. A lô, với giọng khào khào không rõ lời ” Em nhọc quá, xin cho em nghỉ dạy”. Tôi nhất trí, nhanh chóng ăn sáng để lên lớp dạy thay cho lớp 1A.

    Tôi lên lớp, học sinh đã chuẩn bị sách tiếng Việt ở bàn ngay ngắn, với lời chào ” Chúng em chào thầy ạ! “. Nhưng các em nhìn nhau thì thầm. Tôi biết các em đang nghỉ thầy vào để kiểm tra, đang lo đây. Tôi chào lớp và giới thiệu bài học tiếng Việt ” Luật chính tả về nguyên âm đôi”.

    Đang dạy theo qui trình 4 việc của Công nghệ Giáo dục. Biết rằng, đây là bài khó dạy, học sinh khó nhận biết. Nhưng điều bất ngờ đầu tiên của tôi đó là phân biệt. Lớp có 22 em thì không một em nào phân biệt sai nguyên âm đôi với âm đệm như tôi nghỉ. Điều bất ngờ thứ hai là 22 em đều đọc không sai, rất nhanh. Tôi cứ nghĩ thế đã là đủ, nhưng không.

    Chuẩn bị sang bước 4 của việc 1 tôi nêu câu hỏi mở ” Các em tim trong bài cho thầy tiếng có đầy đủ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối?” 1 cánh tay giơ lên:

    – Thưa thầy ” nguyên” tôi im lặng;cánh tay thứ 2:

    – Thưa thầy ” nguyên“; rồi cánh tay thứ 3:

    – Thưa thầy ‘ nguyên” tôi vẫn im lặng. Học sinh biết tôi chưa đồng ý với câu trả lời. Nhanh như cắt, một học sinh cầm bài đang học quay quyển sách 180 độ về phía tôi chỉ vào mục bài:

    – Thưa thầy ” nguyên” đây ạ! Em chỉ vào tiếng ” nguyên” tên bài học. Tôi chút nữa phịt cười, nhưng trấn tính, ân cần với lớp học: ” Các em rất giỏi, phân biệt và tìm rất tốt, nhưng tiếng không có trong bài chiến thắng Bạch Đằng.” Rồi tiếng thì thầm to nhỏ, tôi biết em thì thầm gì rồi.

    Bài viết chính tả của học sinh lớp 1 học chương trình Công nghệ Giáo dục

    Dạy hết việc 1, việc 2, việc 3 trống đã báo. Trong tâm tưởng tôi các em sao mà nhanh, thông minh, tự tin đến thế, sao mà đáng yêu đến thế. Tôi đang nhớ mới vào đầu năm hoc một phụ huynh đến báo học sinh sợ học. Có em còn báo ” Học mấy chữ lớp 1 thôi, không học lớp 2 nữa, khó quá!” thì giờ các em hồ hởi, đón nhận những bài tập đọc dài, đúng âm, đúng dấu, đúng chính tả và những phát hiện thật sự bất ngờ của sự thông minh, độc lập, tự tin, tạo dấu ấn tuyệt vời cho mỗi đứa trẻ và người lớn sau này.

    Phải chăng đó là những điều đang mong đợi cho một thế hệ mới, những mốc xích quan trọng, tạo tính thông minh cho một xã hội ngày mai và bao nhiêu điều bất ngờ nữa đang đến với chương trình Công nghệ Giáo dục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiết Thao Giảng Tiếng Việt 1
  • Tiết Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục Lớp 1
  • Dạy Luật Chính Tả Trong Môn Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1
  • Cach Dạy Tiếng Việt Công Nghệ Lớp 1 Tieng Viet Cong Nghe 1 Doc
  • Giới Thiệu Phần Mềm Hỗ Trợ Học Và Dạy Tiếng Việt Lớp 1
  • Công Nghệ Giáo Dục Tiếng Việt 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảng Âm Vần Theo Chương Trình Gdcn Và Sách Cải Cách Giáo Dục
  • Top 10 Website Tốt Nhất Để Tìm Bạn Nước Ngoài Học Tiếng Anh Và Trao Đổi Ngôn Ngữ
  • Đề Tài Tổ Chức Các Hoạt Động Dạy Học Giờ Tiếng Việt Có Hiệu Quả Cho Học Sinh Lớp 6
  • Học Tiếng Việt Lớp 1 Trực Tuyến
  • Học Trực Tuyến Lớp 4 Ngày 23/12/2020
  • Thực hiện 25. 9.2013

    CHUYÊN ĐỀ

    CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC(CGD)

    TRƯỜNG TIỂU HỌC YÊN TỪ

    NĂM HỌC 2013- 2014

    GS.TSKH. Hồ Ngọc Đại (77 tuổi)

    Quan điểm: Cần có 1 nền GD mới.Một nền GD phải mới tận nguyên lý của nó.

    Một nền GD tất yếu phải trở thành sự cứu nguy cho DT, nơi trẻ em là những anh hùng thời đại.Và một nền GD không bị thần bí hóa bằng lời hô hào” Sáng tạo” suông. Mà là một nền GD công nghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà KH tạo ra bằng thực nghiệm.

    Và nếu muốn đổi mới tận gốc nền GDVN thì phải bắt đầu từ lớp 1.

    Một người “chịu thua tất cả chỉ để được CNGD”

    PHẦN 1

    CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC(CGD)

    PHẦN 2

    TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 1-CGD

    PHẦN 3

    DỰ GIỜ MINH HỌA DẠY TIẾNG VIỆT 1-CGD

    I.Công nghệ giáo dục là gì?

    chúng tôi là một cách làm giáo dục có công nghệ

    2.Bản chất của Công nghệ giáo dục

    II.Quan điểm dạy học theo CGD:

    1.HS là trung tâm

    2.HS tự chiểm lĩnh tri thức

    3.Phát triển tư duy HS

    PHẦN 1

    CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC (CGD)

    PHẦN 2

    TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 1-CGD

    1.Mục tiêu: Giúp HS

    -Đọc thông, viết thạo, không tái mù

    -Nắm chắc Luật chính tả

    -Nắm chác hệ thống cấu trúc ngữ âm TV

    2. Đối tượng:

    -Tiếng – Âm và chữ – vần

    3.Nguyên tắc xây dựng chương trình

    -NT phát triển

    -NT chuẩn mực

    -NT tối thiểu

    4.Nội dung chương trình : Tổng số 35 tuần= 350 tiết(Mỗi tuần 10 tiết), chương trình chia làm các dạng bài cơ bản sau:

    Bài 1: Tiếng

    Bài 2: Âm

    Bài 3: Vần

    Bài 4: Nguyên âm đôi

    Bài 5: Luyện tập tổng hợp

    -Hệ thồng tri thức ngữ âm và Luật chính tả

    – Hệ thống bài đọc

    5. Quy trình dạy một bài Tiếng Việt lớp 1.CGD

    Loại bài: Lập mẫu

    Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm Việc 3: Đọc(Đọc trơn- Đọc PT)

    Việc 2: Viết Việc 4:Viết chính tả

    Loại bài: Dùng mẫu

    QT giống như bài Lập mẫu

    Loại bài: Luyện tập tổng hợp

    Việc 1: Ngữ âm Việc 3:Viết

    Việc 2: Đọc Việc 4:Chính tả

    6. Phương pháp cơ bản trong dạy họcTV1.CGD

    -Phương pháp Mẫu

    -Phương pháp Việc làm

    7. Đánh giá HS

    Có 4 mức độ Đánh giá:

    1.Làm được 3.Làm đẹp

    2.Làm đúng 4.Làm nhanh

    100% HS phải đạt mức 1, 2. Mức 3, 4 thể hiện

    sự phân hóa rõ nét.

    PHẦN 3

    GIỜ MINH HỌA DẠY

    TIẾNG VIỆT 1-CGD

    Câu hỏi thu hoạch

    Qua tiết dạy minh họa, ĐC cho biết:

    1.Giáo viên đã áp dụng các phương, hình thức tổ chức dạy học nào?(VD…)

    2.Tiết dạy đã đem lại những hiệu quả nào?.

    Tiết 1

    Vần có âm chính và âm cuối( Mẫu 3: an)

    --- Bài cũ hơn ---

  • “sách Tiếng Việt Lớp 1 Cánh Diều, Không Thể Chỉnh Sửa Mà Nên Thu Hồi”
  • Học Sinh Được Đổi Sách Giáo Khoa Tiếng Việt 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Cộng Đồng Người Việt Ở Úc: Quan Tâm Đến Việc Dạy Tiếng Việt Cho Thế Hệ Trẻ
  • Tiếng Việt Ở Úc: Tính Vùng Miền Trong Dạy Và Học Tiếng Việt Ở Úc
  • Gia Sư Dạy Tiếng Việt Lớp 5 Tại Nhà Ở Hà Nội
  • Hiệu Quả Từ Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Cuốn Sách Dạy Học Sinh Lớp 1 Đánh Vần Theo Cách Lạ Có Thể Cải Cách Tiếng Việt?
  • Đề Thi Học Kì 2 Môn Tiếng Việt Lớp 1 Có Bảng Ma Trận Đề Thi Theo Thông Tư 22
  • Unit 1 Lesson 3 (Trang 10
  • Bài Viết Giới Thiệu Về Lớp Học Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Lớp Học Tiếng Anh Lớp 1 Bắc Giang, Trung Tâm Học Tiếng Anh Lớp 1 Tại
  • Được tham gia vào một tiết học Tiếng Việt của cô và trò lớp 1A2, trường Tiểu học số 1, thị trấn Tân Uyên, chúng tôi bắt gặp không khí hào hứng của cô và trò nơi đây. Học sinh được thực hành theo các cử chỉ của giáo viên. Mỗi khi giáo viên đưa tay trái ra là các em đọc âm và tay phải là vần. Khi xòe hai bàn tay ra là phân tích, gập hai bàn tay lại là tổng hợp. Cứ như thế, việc học theo phương pháp cô làm mẫu rồi trò làm theo đã kích thích sự chủ động trong tư duy, hành động của học sinh. Phương pháp dạy học mới theo CNGD khơi gợi tính sáng tạo, tự giác tiếp thu bài dễ dàng. Nếu như chương trình học cũ đối với học sinh lớp 1 môn Tiếng Việt đánh vần là chủ yếu thì nay các em được tiếp cận bằng việc phân tích âm, vần qua cử chỉ của 2 tay. Thao tác phụ trợ này tạo sự hứng thú giúp học sinh làm chủ kiến thức và tiếp thu bài dễ dàng hơn.

    Giờ học Tiếng Việt của cô và trò lớp 1A2, trường Tiểu học số 1, thị trấn Tân Uyên.

    Cô Hoàng Thị Hương – giáo viên chủ nhiệm lớp 1A2 tâm sự: “Đối với giáo viên việc tiếp cận chương trình này không hề đơn giản, tôi phải nghiên cứu kỹ tài liệu, học hỏi đồng nghiệp trau dồi thêm chuyên môn. Trước mỗi giờ lên lớp tôi đều chuẩn bị dụng cụ phụ trợ cho công tác dạy học đồng thời định hướng mục tiêu là phát huy tính chủ động, tự học, phát triển năng lực học sinh. Cùng với đó đưa ra những nhận xét, động viên, góp ý vừa khích lệ nhưng cũng phải khắt khe để nâng tính tự giác của các em trong quá trình học”.

    Có thể thấy, phương pháp học môn Tiếng Việt lớp 1 theo CNGD giúp học sinh không chỉ nắm chắc kiến thức ngữ âm, chính tả mà còn tạo hứng thú cho các em đến trường. Sau gần 5 năm áp dụng ở trường Tiểu học số 1, thị trấn Tân Uyên: chất lượng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1 đã được nâng lên nhiều so với trước, số lượng học sinh xếp loại khá, giỏi môn Tiếng Việt tăng hơn. Năm học 2013-2014, Trường có 108 học sinh theo học lớp 1, trong đó học lực giỏi đạt 70%, khá 27%, trung bình 3%; hạnh kiểm thực hiện đầy đủ 99,8%.

    Tìm hiểu được biết, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo CNGD dành cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, bao gồm 4 nội dung: Học vần, viết, đọc và viết chính tả. Học sinh sẽ được học kiến thức từ âm đến chữ, cách phân tích cấu trúc ngữ âm, xác định vị trí âm trong một tiếng gồm âm đầu, âm chính và âm cuối. Để làm tốt điều này, Ban Giám hiệu trường Tiểu học số 1, thị trấn Tân Uyên thường xuyên tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh tổ chức. Đồng thời tăng cường các buổi sinh hoạt chuyên môn theo tổ, nhóm để giáo viên có cơ hội trao đổi, rút kinh nghiệm và góp ý cho nhau. Về phía lãnh đạo nhà trường cũng tăng cường dự giờ, góp ý, tư vấn để kịp thời giải đáp vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình. Ngoài ra, trường cũng chỉ đạo giáo viên tự bồi dưỡng, nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ để từng bước nâng cao tay nghề đáp ứng yêu cầu giảng dạy. Yếu tố tay nghề giỏi cũng là khía cạnh để Nhà trường đưa vào hình thức thi đua khen thưởng vào cuối năm học.

    Thầy giáo Lê Sĩ Chiến – Hiệu trưởng trường Tiểu học số 1, thị trấn Tân Uyên cho biết: “Với mục tiêu giúp học sinh lớp 1 có thể đọc thông viết thạo, học đâu chắc đấy. Nhà trường luôn quan tâm để giáo viên có thời gian ứng dụng tốt chương trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo CNGD vào giảng dạy. Trước đây học sinh lớp 1 hoàn thành chương trình vẫn còn một số em chưa đọc thành thạo, chữ viết chưa chuẩn thì chương trình này học sinh nắm chắc luật chính tả cũng như hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt”

    Thành công bước đầu của phương pháp dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo CNGD ở trường Tiểu học số 1, thị trấn Tân Uyên là nền tảng để nhà trường từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Qua đó, góp phần thực hiện tốt mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục trên địa bàn huyện nói riêng và tỉnh ta nói chung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Trò Chơi Học Tập Tiếng Việt Lớp 1.
  • Cách Chọn Phần Mềm Và Vở Giúp Bé Tập Viết Chữ Tiếng Việt Lớp 1 Full Crack Miễn Phí
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt Lớp 1 Tập 2
  • Em Học Giỏi Tiếng Anh Lớp 9 Tập 1
  • Rèn Kỹ Năng Học Tốt Tiếng Việt Lớp 1
  • Xung Quanh Chương Trình Dạy Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Vấn Đề Cần Biết Về Chương Trình Tiếng Việt 1
  • Bản Chất Việc Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục
  • Chia Sẻ Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 Theo Công Nghệ Giáo Dục
  • Phương Pháp Dạy Hs Lớp 1 Nhanh Biết Đọc Tiếng Việt
  • Thiết Kế Bài Dạy Môn Tiếng Việt Lớp 1 (Chương Trình 2022)
  • Chương trình dạy Tiếng Việt lớp 1 theo tài liệu Công nghệ giáo dục (TV1-CNGD) được Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình triển khai thí điểm từ năm học 2013-2014 cho học sinh lớp 1 ở một số trường học trên địa bàn tỉnh. Đến năm học 2022-2017, chương trình này được triển khai đồng bộ ở tất cả các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh, với mục tiêu nhằm giúp học sinh nắm chắc kiến thức, đọc thông, viết thạo và yêu thích môn Tiếng Việt hơn.

    Trường Tiểu học Lê Hồng Phong (thành phố Tam Điệp) thực hiện dạy TV1-CNGD đã được 5 năm. Cô giáo Lê Hải Yến, giáo viên dạy lớp 1, chia sẻ: “Khi đó, việc dạy TV1-CNGD còn khá mới mẻ nên một bộ phận cha mẹ học sinh có tâm lý lo lắng về chất lượng dạy học theo chương trình mới. Thêm vào đó, lượng kiến thức tại các bài dài, nhiều. Có những bài học đến 6 vần, nên dẫn đến thời gian 1 tiết không đủ để giáo viên giảng dạy, luyện tập cho học sinh. Đặc biệt trong quá trình học tập, học sinh làm việc liên tục với bảng, vở tập viết, sách giáo khoa, vở chính tả và phải tuân thủ theo lệnh, tín hiệu, kí hiệu của giáo viên, trong khi ở lứa tuổi lớp 1, sự tập trung chú ý của các em chưa cao nên trong thời gian đầu rèn nền nếp cho học sinh, các giáo viên gặp khá nhiều khó khăn.

    “Qua 5 năm trực tiếp giảng dạy theo phương pháp mới, tôi nhận thấy, học TV1-CNGD giúp các em học sinh không chỉ nắm chắc kiến thức ngữ âm, chính tả mà còn rất thích thú khi được đến trường. Dù còn một số khó khăn, bất cập trong bộ sách giáo khoa, như âm tiết, vần hơi nhiều và lỗi chính tả, nội dung một số bài học chưa đúng chuẩn, một số từ ngữ, hình ảnh còn mang tính địa phương…, nhưng với sự cố gắng của giáo viên và học sinh, hầu hết học sinh khi học xong lớp 1 đã đọc thông, viết thạo, đáp ứng được các mục tiêu đề ra, chỉ còn số ít học sinh kỹ năng viết còn chậm, được nhà trường phối hợp với gia đình bồi dưỡng thêm trong dịp hè….”. – Cô giáo Lê Hải Yến cho biết thêm.

    Theo nhiều phụ huynh có con vào học lớp 1, thực sự ban đầu chương trình GDCN hơi phức tạp và khó đối với các em. Hơn nữa, trong quá trình đồng hành cùng các con học, các bậc phụ huynh thường dạy theo phương pháp truyền thống, cách phát âm theo CNGD lại khác nhiều so với trước, do đó không có sự đồng nhất, dẫn đến nhiều phụ huynh lăn tăn, lo lắng và mong muốn cho con được học theo chương trình cũ. Nhưng cũng theo nhiều phụ huynh đã có con học xong lớp 1, thì hiệu quả của chương trình CNGD này là khá rõ: Học sinh viết đẹp, viết nhanh, đọc lưu loát hơn. Cùng với đó, trong quá trình giảng dạy, giáo viên còn hướng dẫn các em tham gia một số hoạt động như vỗ tay theo tiếng, vẽ hình theo tiếng, tạo cho các em sự hứng thú, thoải mái và tự tin, mạnh dạn trong quá trình học tập và vui chơi.

    Được biết, bên cạnh những ưu điểm, tiến bộ của chương trình TV1-CNGD, chương trình cũng bộc lộ một số khó khăn, bất cập cần phải được nghiên cứu, xem xét và khắc phục. Đó là việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường chưa được hài hòa, hiệu quả. Hơn nữa, đây là bộ sách giáo khoa được triển khai ở các tỉnh, thành trên cả nước nhưng lại dùng quá nhiều từ địa phương như bể (biển), gà qué, quả chấp…; nhiều từ láy gây khó với cả người lớn, như: chon chót, sứt sát, thia lia, thìa lìa, quằm quặp, khúyp khùym khụyp… Nhiều câu thành ngữ, tục ngữ học sinh không hiểu mà chỉ học vẹt như “trăm thứ bà giằn”, “bạt ngàn san dã”, “đổ vỡ tóe loe”… Cùng với đó là phương pháp học này chưa có tính kế thừa. (Học sinh lên lớp 2 lại học chương trình theo kiểu truyền thống. Ví dụ như các chữ c,k,q ở lớp 1 đều đọc là cờ, nhưng lên lớp 2 lại được hướng dẫn đọc lại là cờ, ca, cu, nên học sinh hay bị nhầm lẫn và viết sai chính tả, như: Tổ quốc thành Tổ cuốc; kiên quyết thành ciên quyết…, từ đó một số kỹ năng, phương pháp mới đã học từ lớp 1 không còn được áp dụng, gây lãng phí cho cả cô và trò). Một điều đáng lưu ý nữa là bộ sách và tài liệu học chương trình Tiếng Việt lớp 1-CNGD có giá khá cao, gồm 18 đầu sách, giá tổng cộng gần 300 nghìn đồng; bộ dụng cụ học tập gần 60 nghìn đồng và thường phải chờ đến gần năm học mới mới bán, nhiều khi xảy ra tình trạng khan hiếm và thiếu sách hoặc bộ dụng cụ học tập không có…

    Nhà giáo Phạm Thị Tuất, Trưởng Phòng Giáo dục Tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết: Từ năm học 2013-2014, Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo thực hiện thí điểm chương trình Tiếng Việt lớp 1-CNGD tại một số trường Tiểu học ở các huyện, thành phố, năm học 2022-2017, được triển khai ở 100% trường Tiểu học trên địa bàn toàn tỉnh. Năm học 2022-2018, tiếp tục có 100% trường tiểu học giảng dạy chương trình này với 526 lớp, trên 156 nghìn học sinh. Toàn tỉnh có 6 trường dạy thí điểm chương trình Tiếng Việt 2 – CNGD của GS Hồ Ngọc Đại, với 10 lớp, 271 học sinh.

    Trước những ý kiến nhiều chiều trong dư luận xã hội về chương trình CNGD, năm học 2022-2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi văn bản hướng dẫn đến các địa phương. Theo đó, các Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương triển khai tài liệu Tiếng Việt 1-CNGD trên nguyên tắc tự nguyện và phù hợp với điều kiện từng địa phương. Đặc biệt, sẽ chỉ triển khai ở các địa phương đã sử dụng chương trình CNGD, không mở rộng để tạo sự ổn định cho đến khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội đồng thẩm định quốc gia Tài liệu Tiếng Việt 1-CNGD và đánh giá, về cơ bản đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học. Đây là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1, nhất là với học sinh vùng khó, vùng dân tộc thiểu số.

    Đối với tỉnh Ninh Bình, năm học 2022-2019, tiếp tục thực hiện dạy chương trình Tiếng Việt 1-CNGD tại tất cả các trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh. Để chương trình này phát huy hiệu quả và khắc phục những hạn chế, Sở Giáo dục và Đào tạo yêu cầu đội ngũ giáo viên phải bám sát chặt chẽ phương pháp giảng dạy, thực hiện đúng quy trình, có phát hiện, đóng góp những ý kiến để khắc phục, sửa chữa; đối với các bậc phụ huynh học sinh cần phối hợp với giáo viên và các nhà trường trong việc tổ chức giảng dạy và học tập nhằm phát huy tối đa hiệu quả phương pháp dạy học này trong các trường tiểu học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Tiếng Latin
  • Top 5 Trung Tâm Dạy Tiếng Trung Chất Lượng Tại Biên Hòa 2022
  • Trung Tâm Tiếng Trung Tại Lào Cai
  • Học Tiếng Lào Cho Người Mới Bắt
  • Khóa Học Tiếng Trung Ở Lào Cai
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100