Đề Xuất 3/2023 # Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4 # Top 5 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 3/2023 # Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4 # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4 mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

chất lượng dạy học không thể không quan tâm tới đổi mới cách sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học. Đối với việc giảng dạy môn Khoa học ở tiểu học, thiết bị, đồ dùng dạy học lại càng đặc biệt quan trọng bởi phương pháp dạy học đặc trưng của môn học là quan sát và thí nghiệm. Những kiến thức, kĩ năng, phương pháp học tập môn Khoa học là cơ sở để học tiếp các môn Sinh học, Vật lý, Hóa học…ở bậc học cao hơn. Vì vậy có thể nói Thiết bị, đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong mỗi tiết học Để tạo điều kiện cho học sinh được phát triển kĩ năng học tập khoa học, phát huy tính tích cực, chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức, bản thân tôi cũng đã nghiên cứu tìm phương pháp để có thể sử dụng đồ dùng dạy học một cách hiệu quả nhất. Vì thế, tôi xin trình bày một số biện pháp nâng cao chất lượng “Sử dụng đồ dùng dạy học môn Khoa học lớp 4”. II.Thực trạng việc sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Khoa học: 1.Thực trạng: – Những năm gần đây giáo viên Tiểu học cũng đã quan tâm sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học song phần lớn chỉ coi đó là phương tiện minh họa thay cho lời giảng của giáo viên chứ ít được sử dụng làm phương tiện để tổ chức các hoạt động học tập của từng cá nhân hoặc từng nhóm học sinh. – Trong quá trình sử dụng giáo viên đã gặp không ít những khó khăn vì chưa nắm vững những nguyên tắc sử dụng thiết bị, đồ dùng sao cho hợp lý, có hiệu quả. Phần lớn là sự tự mày mò, học hỏi lẫn nhau, chưa được bồi dưỡng một cách cơ bản, có hệ thống nên còn nhiều lúng túng. – Bộ đồ dùng dạy học được trang bị đáp ứng được xu thế đổi mới phương pháp dạy học. Mỗi lớp chỉ được cung cấp một bộ, chỉ đủ để giáo viên làm mẫu, ít có điều kiện để các nhóm học sinh được thực hành. 2

– Ngoài ra, không gian lớp học còn chật hẹp, tủ đựng đồ dùng chưa đồng bộ nên việc sắp xếp, bảo quản còn nhiều bất tiện. 2.Kết quả,hiệu quả của thực trạng : – Giáo viên còn lúng túng khi sử dụng các đồ dùng làm thí nghiệm khoa học – Việc sử dụng đồ dùng trong mỗi tiết Khoa học chủ yếu là giáo viên thao tác minh họa, học sinh quan sát nghe cô giảng giải. – Một số đồ dùng cấp phát đã bị hỏng sau một vài lần sử dụng. – Học sinh ít được làm thí nghiệm khoa học. B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Các giải pháp thực hiện: 1. Đối với công tác quản lý: – Sắp xếp bố trí đội ngũ giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn, trình độ tay nghề vững vàng, có sức khoẻ, tâm huyết với nghề giảng dạy khối 4. – Tạo thuận lợi để giáo viên có điều kiện chuẩn bị đồ dùng, làm thử các thí nghiệm khoa học. – Trường tổ chức tập huấn hướng dẫn sử dụng, khai thác triệt để các đồ dùng bộ môn khoa học, đồng thời, phát động giáo viên, học sinh tự sưu tầm, tự làm đồ dùng dạy học bổ sung. – Trường tổ chức thi sử dụng đồ dùng dạy học; Thi đồ dùng dạy học tự làm. 2. Đối với giáo viên: – Phải xác định được mục tiêu phân môn Khoa học lớp 4, cần đạt theo chuẩn kiến thức kỹ năng.

3

5

Để chủ động trong việc sử dụng đồ dùng dạy học, mỗi giáo viên và tổ chuyên môn cần lập kế hoạch cụ thể những đồ dùng cần thiết trong từng bài và sắp xếp chúng hợp lí để tiện sử dụng.

Bài

Tên Bài

Đồ Dùng -Phiếu học tập (SGV)

Ghi Chú -GV chuẩn bị

Con người cần gì để – 4 bộ phiếu vẽ (hoặc ghi) những sống?

thứ cần thiết khác để duy trì cuộc sống.

– HS chuẩn

-Giấy khổ lớn. bị theo nhóm ……….. ….. -2 tháp dinh dưỡng cân đối (tranh – GV chuẩn bị

Tại sao cần ăn phối câm) hợp

nhiều

thức ăn?

loại – Các tấm thẻ cài ghi tên hay hình vẽ hoặc tranh ảnh các loại thức ăn. -Các tấm bìa hình tròn để ghi tên các – HS chuẩn bị món ăn.

…….

theo nhóm

-Giấy khổ lớn (bìa lịch) để làm “mâm” ……………. ……. – 3 cốc thủy tinh giống nhau,thìa – HS chuẩn – Chai,bình,cốc đựng nước có hìn bị theo nhóm

Nước có những tính dạng khác nhau chất

gì? – 1tấm kính và 1khay đựng nước – 1tấm vải (khăn tay)bông, giấy thấm. – Một ít muối ,đường, cát…

– GV chuẩn bị

– Nước lọc, nước chè, sữa.. …

– Phiếu học tập …

Từ kế hoạch trên, có thể chủ động hơn trong việc phân công HS chuẩn bị sưu tầm; Giáo viên phối hợp với đồng nghiệp dạy cùng khối lớp để tự làm một số đồ dùng đơn giản như: Mô hình lọc nước đơn giản; Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên; ….. Giáo viên hướng dẫn HS trong nhóm phân chia nhau hoặc cùng nhau chuẩn bị đồ dùng cô giáo giao, ví dụ như: cùng vẽ tranh hoặc sưu tầm ảnh về các loại quả, rau, gà, vịt, cá, trứng sữa,… phục vụ cho trò chơi ở hoạt động 3 – bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn? Hoặc taát caû ñoà duøng chuaån bò töø tieát tröôùc ñeå laøm thí nghieäm veà: nöôùc, khoâng khí, aâm thanh, aùnh saùng, nhieät nhö: coác, tuùi niloâng, xi lanh, ñeøn, nhieät keá… phục vụ cho bài ôn tập( tuần 28): Vật chất và năng lượng. 2,Sử dụng đồ dùng dạy học trong từng bài cụ thể. 2.1. Sử dụng đồ dùng là tranh, ảnh, sơ đồ… Trong nội dung chương trình môn Khoa học đồ dùng là tranh ảnh, sơ đồ…không chỉ làm nhiệm vụ minh họa mà còn là nguồn cung cấp thông tin để học sinh tìm ra kiến thức mới. Vì vậy khai thác tranh ảnh có hiệu quả sẽ giúp học sinh hiểu sâu và nhớ lâu những kiến thức trong mỗi bài học. Sách giáo môn Khoa học lớp 4, số lượng tranh ảnh đã được tăng cường, màu sắc đẹp, hấp dẫn và có tính điển hình. Vì vậy tập trung khai thác kĩ những hình ảnh sách giáo khoa là có thể đạt được phần lớn mục tiêu của giờ học. Tuy nhiên do khổ sách có hạn nên một số tranh ảnh còn nhỏ, chỉ đủ để HS là việc cá nhân hoặc nhóm nhỏ chứ không thể dùng trình bày trước cả lớp, do đó cũng cần phải phóng to, tách riêng một số hình ảnh. Ví dụ1: Bài 27 Một số cách làm sạch nước Hoạt động 3:Tìm hiểu quy trình sản xuất nước sạch

7

Để giúp HS nắm được quy trình sản xuất nước sạch của nhà máy nước đảm bảo 3 tiêu chuẩn: Khử sắt, loại bỏ các chất không tan và sát trùng, thì Hình 2 SGK chỉ có tác dụng khi em hoạt động nhóm 4. Muốn giải thích hoặc tổ chức cho HS trình bày trước lớp một cách cụ thể về tác dụng của từng công đoạn trong dây chuyền sản xuất nước sạch cần phải phóng to hình 2. Ví dụ 2: Bài 15 : Bạn cảm thấy thế nào khi bị bệnh? Hoạt động 1:Quan sát hình và kể chuyện. 9 Hình trong SGK cần được tách rời, phóng to để HS sắp xếp thành 3 câu chuyện sức khỏe của Hùng. Từ đó HS có thể vừa chỉ vào tranh vừa trình bày trước lớp một cách sinh động, cụ thể về nguyên nhân dẫn đến việc mắc bệnh của Hùng và những việc cần làm khi cơ thể bị bệnh. Bên cạnh việc sử dụng tranh ảnh thì sơ đồ, phiếu học tập…cũng được sử dụng rất nhiều trong môn Khoa học. Thường thì GV vẽ sơ đồ trên bảng phụ hoặc khổ giấy lớn; Một số phiếu học tập được phóng to để phục vụ khi dạy cả lớp hoặc để các nhóm đối chiếu kết quả làm việc và giáo viên sử dụng để chốt lại ý cơ bản cần thiết. Nhiều giờ thao giảng, sơ đồ, phiếu học tập được phóng to, in màu rất đẹp nhưng lại chỉ sử dụng được một lần vì giáo viên yêu cầu HS viết, vẽ ngay vào đó. Như vậy rất tốn kém và lãng phí thời gian chuẩn bị. Vì thế tôi đã suy nghĩ để thiết kế những sơ đồ, phiếu học tập có thể sử dụng được nhiều lần. Ví dụ 3 : Bài 21 Ba thể của nước Hoạt động 3: Vẽ sơ đồ sự chuyển thể của nước. Nếu chỉ yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ và trình bày sự chuyển thể của nước thì các em sẽ sao chép y nguyên hình vẽ SGK chuyển thành sơ đồ và trình bày theo kiểu học thuộc lòng. Chỉ cần “xoay” sơ đồ kiểu khác như đề kiểm tra cuối kì I năm 2007-2008 là đã có tới 40% HS nhầm lẫn vì không hiểu 8

bản chất, Vì vậy để học sinh nắm vững về sự chuyển thể của nước và điều kiện nhiệt độ của sự chuyển thể đó tôi đã thiết kế 2 kiểu sơ đồ sau: SƠ ĐỒ 1:Yêu cầu HS gắn các tấm thẻ có ghi :

đông đặc

;

ngưng tụ

đồ cho phù hợp :

; Bay hơi

nóng chảy

;

vào các ô trống trong sơ

Sơ đồ 1 Nước ở thể lỏng

Nước ở thể rắn

Hơi nước

Nước ở thể lỏng + SƠ ĐỒ 2: Y/c HS gắn các hình sau vào trong sơ đồ cho phù hợp:

,

,

Ngưng tụ

Sơ đồ 2

Nóng chảy

Kết quả gắn các hình vào sơ đồ như sau:

Bay hơi

Nóng chảy

Ngưng tụ

Đông đặc

Sau khi hoàn thiện sơ đồ HS sẽ dựa vào đó để trình bày sự chuyển thể của nước trong điều kiện nhiệt độ của sự chuyển thể đó.

10

Các tấm thẻ trên đều được ép Platic và gắn nam châm sau để có thể gắn vào và tháo ra 1 cách dễ dàng. Tương tự như vậy,tôi cũng làm các tấm thẻ ghi Đ-S ( đúng- sai); NK( nên – không nên) ; 1-2-3-4 ; X… Để tháo gắn vào các ô trống trước ý đúng; các lời khuyên về sử dụng dinh dưỡng hợp lý; các việc nên hay không nên làm; Trình tự các sự việc…. Ví dụ : Bài 42 Sự lan truyền của âm thanh * Hoạt động 1: Tìm hiểu sự lan truyền của âm thanh Để kiểm tra sự nắm vững cơ chế truyền âm thanh của HS, tôi đã yêu cầu HS thực hiện phiếu học tập sau: Khi gõ trống tai ta nghe thấy tiếng trống. Hãy điền số vào

trước

các sự kiện xảy ra theo thứ tự từ 1 đến 4 cho phù hợp : Không khí xung quanh mặt trống rung động. Mặt trống rung Màng nhĩ rung và tai ta nghe thấy tiếng trống. Không khí gần tai ta rung động * Dựa vào phiếu trên HS sẽ dễ dàng giải thích được âm thanh truyền tới ta ta như thế nào. Với những tấm thẻ như thế tôi không những sử dụng được nhiều lần ở nhiều bài trong môn Khoa học mà có thể sử dụng rất tiện lợi ở các môn như Đạo đức, Lịch sử, Địa lí…. Đối với các dạng bài tập nối ô chữ tôi cũng đã thay đổi để sử dụng được nhiều lần. Ví dụ: Bài 50 Nóng, Lạnh, Nhiệt độ Hãy gắn các phiếu ghi 1000C, 00C, 390C, 250C, 370C vào

cho

phù hợp: Người khỏe mạnh (bình thường) 11

Người bị sốt Nhiệt độ trong phòng một ngày trời mát mẻ Nước đang sôi Nước đá đang tan Chỉ cần hai bộ như trên có thể tổ chức tốt các trò chơi học tập nhằm giúp HS ghi nhớ được một số nhiệt độ tiêu biểu không chỉ ở một lớp mà có thể sử dụng cho cả khối và còn dùng được nhiều năm. 2.2.Sử dụng đồ dùng là vật thật: Trong môn Khoa học lớp 4 có một số bài là cần sử dụng đồ dùng dạy học là vật thật. Nếu tổ chức cho HS được thực hành trên vật thật chắc chắn các em sẽ có được những kĩ năng cần thiết ứng dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống. Tuy nhiên khi thực hành với vật thật theo đúng yêu cầu của nội dung bài học cần phải hướng dẫn các em rất tỉ mỉ, cẩn thận, nếu không kiến thức rút ra từ thực hành sẽ không thuyết phục. Ví dụ1: Bài 10,11 Sử dụng thưc phẩm sạch và an toàn – Một số cách bảo quản thức ăn Các nhóm HS cần phải chuẩn bị một số loại rau quả còn tươi, lành lặn và cả loại héo úa; Một số đồ hộp, thực phẩm đóng gói còn hạn sử dụng, bao bì đảm bảo quy cách và một số lạo bị han rỉ, méo mó…để các em có điều kiện so sánh để từ đó nhận biết được thức ăn tươi sạch đảm bảo an toàn thực phẩm. Đồng thời biết cách bảo quản và sử dụng thực phẩm đã bảo quản cho hợp vệ sinh. Ví dụ 2: Bài 16 Ăn uống khi bị bệnh

12

Nếu không được thực hành pha dung dịch Ô-rê-dôn chắc chắn các em sẽ khó nhớ được chính xác các bước tiến hành pha dung dịch theo đúng hướng dẫn và sẽ lúng túng trong thao tác. Qua 2 ví dụ trên ta thấy rõ: được thực hành trên vật thật sẽ hình thành cho các em những thói quen tốt , những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống có lợi cho sức khỏe: Xem hạn sử dụng, đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng, lựa chọn sản phẩm tốt, bảo quản, sử dụng đúng cách… Ví dụ 3: Bài 47 Ánh sáng cần cho sự sống Để có đồ dùng phục vụ cho bài này tôi đã hưỡng dẫn HS chuẩn bị trước một tuần. Mỗi nhóm chuẩn bị 3 hộp giấy (Hộp cà phê,chè); cho đất khoảng 1/3 hộp gieo vào mỗi hộp từ 5 đến 10 hạt đậu, tưới đủ nước ấm. Hộp thứ nhất đậy kín nắp, khoét lỗ 7x7cm bên thành hộp ; hai hộp còn lại cắt bỏ nắp, một hộp để ngoài sân, một hộp để trong góc phòng (thiếu ánh sáng). Với 3 điều kiện trên, cách mọc và màu sắc của cây đậu có sự khác biệt rõ rệt. Đó là bằng chứng thiết thực nhất để HS thấy được vai trò của ánh sáng đối với đời sống thực vật. Tương tự như vậy. Ở bài 57 tôi cũng hướng dẫn HS trồng 5 cây đậu vào hộp nhựa với các điều kiện chăm sóc khác nhau để giúp các em nhận rõ được điều kiện cần thiết để thực vật sống và phát triển bình thường. Từ đó các em có ý thức và bắt đầu biết chăm sóc cây ở gia đình và vườn trường. 2.3.Sử dụng thiết bị thí nghiệm : Mặc dù thí nghiệm môn Khoa học lớp 4 khá đơn giản, việc bố trí lắp đặt cũng không mấy phức tạp song nếu không chuẩn bị kĩ chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể làm cho thí nghiệm không thành công. Khi đó kiến thức được rút ra từ thí nghiệm cũng khiến HS nghi ngờ,Vì vậy việc làm thử trước các thí nghiệm, ghi chép rút kinh nghiệm để khắc phục các sự cố có thể xảy ra đảm bảo cho thí nghiệm thành công là việc làm rất cần thiết. 13

Ví dụ: Bài 35 Không khí cần cho sự cháy Hoạt động 2:Tìm hiểu cách duy trì sự cháy Trong thí nghiệm chứng minh: Muốn diễn ra sự cháy liên tục, không khí phải được lưu thông. Nếu ngọn nến quá nhỏ khi úp cốc thủy tinh thông đáy lên cây nến gắn trên đế kín, nến không tắt được. Ngược lại nếu cây nến to qua thì lại tắt quá nhanh, HS không đủ thời gian quan sát ngọn lửa bé dần rồi tắt hẳn, Do đó phải làm thử trước để chọn được đồ dùng phù hợp. Ngoài ra, cũng cần phải có một số “mẹo” nhỏ khi làm thí nghiệm để HS dễ quan sát các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm đó. Ví dụ : Bài 32 Không khí gồm những thành phần nào? Hoạt động 1:Xác định thành phần chính của không khí. Khi tiến hành thí nghiệm; úp lọ thủy tinh vào cây nến đang cháy gắn trong một đĩa chứa nước, chỉ cần pha vào nước 1-2 giọt mực để nước có màu xanh lơ thì khi nến tắt, nước dâng lên trong lọ(chiếm chỗ lượng khí ô-xi đã mất đi) sẽ quan sát rõ hơn nhiều so với dùng nước trong suốt. Tương tự như vậy đối với bài 51: Nóng, lạnh và nhiệt độ HS cũng thấy được mực nước màu trong ống thủy tinh dâng lên và hạ xuống rõ rệt khi nhúng vào chậu nước sôi và chậu nước đá. 2.4.Tổ chức cho HS hoạt đông với đồ dùng dạy học. Một trong những định hướng của đổi mới phương pháp dạy học là tăng cường tổ chức hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho HS phát huy tính tích cực, tự tìm tòi phát hiện ra kiến thức. Chính vì vậy trong mỗi giờ học giáo viên đều phải cố gắng lựa chọn những hình thức, phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp để có thể tổ chức tốt các hoạt động học tập của HS. Tuy nhiên, hoạt động của HS đối với đồ dùng dạy học thường diễn ra dưới hình thức nhóm, mà HS tiểu học còn nhỏ tuổi, năng lực tổ chức, phối hợp còn hạn chế, sự khéo léo, cẩn trọng trong thao tác chưa nhiều nên dễ 14

nhắc nhở các em một số những lưu ý hoặc kĩ thuật cần thiết trong thao tác thực hành. Ví Dụ : Bài 52: Vật dẫn nhiệt, vật cách nhiệt Hoạt Động 2: Làm thí nghiệm tính cách nhiệt của không khí. Trước khi yêu cầu các nhóm báo cáo các dụng cụ thí nhiệm đã chuẩn bị giáo viên phải nhắc nhở và làm mẫu các thao tác kết hợp phân tích kĩ thuật như : + Cách cầm nhiệt kế (không cầm vào bầu thủy ngân) + Trước khi đo cần vẩy cho mực thủy ngân tụt xuống. + Nhúng nhiệt kế vào hai cốc nước đồng thời. + Cách đọc nhiệt độ (Để nguyên nhiệt kế trong cốc để đọc nhiệt độ sau 5 phút – 10 phút) + Kĩ thuật quấn báo vào 2 cốc và dùng dây chun để cố định + Đánh dấu để lượng nước trong 2 cốc bằng nhau. v.v… Thực tế những năm học trước một số giáo viên thực hiện thí nghiệm này không thành công vì nhiệt độ ở 2 cốc nước trênh lệch nhau rất ít, mà thời gian mỗi tiết học chỉ có 40 phút, không đươc phép đợi lâu. Cũng chính vì vậy kết quả thí nghiệm chưa thuyết phục nên các em khó giải thích được những ứng dụng thực tế về tính cách nhiệt của không khí. Sau nhiều lần làm thử rút ra kinh nhiệm tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện được thành công thí nghiệm này. 3.Sắp xếp bảo quản thiết bị dạy học: Sau khi sử dụng xong giáo viên cần chú ý phân công học sinh các tổ hoặc trực nhật thu đếm thiết bị dạy học cho đầy đủ ,lau cho sạch sẽ rồi mới trả cho cán bộ thiết bị hoặc xếp vào tủ bảo quản.

16

Nếu trong quá trình dạy có hỏng hóc đổ vỡ, bị gãy hoặc mất mát cần cho các tổ thống kê tên thiết bị, nguyên nhân dẫn đến hỏng hóc gẫy vỡ để thông báo với cán bộ thiết bị và nhà trường để có biện pháp khắc phục. Khi xếp đặt thiết bị giáo viên nên chú ý đặt đúng chỗ theo khoa học, theo phân loại thiết bị để lần sau dễ lấy, đễ sử dụng, để kiểm tra nhanh chóng, thống kê chính xác. 4.Sửa chữa thiết bị dạy hoc: Theo tôi người giáo viên cần tìm hiểu sâu thiết bị đặc biệt là vật liệu chế tạo để có thể tự khắc phục một số hư hỏng đơn giản trong quá trình giảng dạy như: Với các mô hình bị gãy, vỡ có thể dùng keo hoặc nến dẻo để gắn lại. Với những dây điện có lõi đồng bị đứt nên hàn lại hoặc nối lại, chú ý an toàn điện. Với tranh ảnh nên gài nẹp, nếu nẹp không chặt có thể dùng băng dính để hỗ trợ. C.KẾT LUẬN I.Kết quả nghiên cứu: Với những cố gắng trên, Việc sử dụng đồ dùng,thiết bị dạy học trong môn Khoa học lớp 4 đã trở thành việc làm thường xuyên của giáo viên và học sinh. Giáo viên có được kĩ năng sử dụng đồ dùng dạy học khá thành thạo góp phần nâng cao chất lượng mỗi giờ dạy. Thiết bị dạy học bền đẹp hơn, ít hư hỏng hơn. Học sinh rất hào hứng khi được làm các thí nghiệm khoa học, thao tác làm thí nghiệm chính xác hơn.

17

Kết quả: 2 Tiết thao giảng môn Khoa học ở Học kì 1 và Học kì 2( có sử dụng đồ dùng dạy học) đều được xếp loại giỏi. Đồ dùng dạy học: Sơ đồ tuần hoàn của nước trong tự nhiên do giáo viên khối 4 tự làm để tham gia dự thi cấp trường đạt nhất. Cũng nhờ được hoạt động thường xuyên với đồ dùng học tập nên HS cũng có được thói quen tốt trong việc chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức. Niềm hứng thú, say mê môn học đã giúp các em nắm chắc những kiến thức cơ bản, có kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế nên nhớ lâu kiến thức đã học. Kết quả kiểm tra định kì cuối kì I (Năm Học 2010 -2011) của khối 4 (37 học sinh) như Sau :

Học sinh đạt

Học sinh đạt

điểm 9 và 10

điểm 7 và 8

Sốlượng Tỉ lệ Sốlượng Tỉ lệ 29

4

Học sinh đạt điểm 5 Học sinh có điểm dưới và 6

5

Sốlượng

Tỉ lệ %

Sốlượng

Tỉ lệ %

1

3

0

0

II.Kiến nghị đề xuất : – Để có thể sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả tôi xin đề xuất như sau trước hết người giáo viên phải nhận thức được vai trò quan trọng của đồ dùng dạy học. Thầy cô phải thực sự cảm nhận có lỗi đối với học sinh khi mỗi tiết học qua đi một cách buồn tẻ, hời hợt, không đọng lại trong các em những điều mới mẻ bổ ích của môn học. Từ đó mới có thể có đủ say mê và sự kiên trì để suy ngẫm, tìm tòi sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và sử dụng đồ dùng dạy học nói riêng. 18

– Việc sử dụng đồ dùng dạy học sẽ rất khó thành công nếu như không thực hiện thường xuyên và không biết rút kinh nghiệm. Sau mỗi giờ dạy giáo viên cần tự hỏi : Sử dụng đồ dùng thời điểm ấy đã hợp lý chưa? làm thế nào có tể rút ngắn thời gian trong các thao tác? Nguyên nhân nào khiến học sinh không phát hiện ra kiến thức từ hoạt động với đồ dùng? Cần cải tiến như thế nào có hiệu quả hơn? Rồi trao đổi với đồng nghiệp để có cách khắc phục. Học hỏi kinh nghiệm ở những người đi trước cũng là điều rất nên làm để hoàn thiện khả năng sử dụng đồ dùng dạy học của mình. – Sử dụng đồ dùng dạy học phải được phối hợp hài hòa, thống nhất với hình thức và phương pháp dạy học. Muốn vậy giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung mục tiêu mỗi bài học trong mối quan hệ với chương trình để có sự lựa chọn hợp lý. Người viết

Phạm Thị Hân

19

Kế Hoạch Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn: Tiếng Anh 6

KẾ HOẠCH SDĐDDH NH : 2015- 2016 MƠN: TIẾNG ANH 6 NGÀY DẠY PPCT BÀI DẠY TÊN ĐDDH MÁY GHI CHÚ 1 HKI Introduction 2 Unit1:A:Hello A1234 Picture of greetings X 3 A:Hello A567 Picture of greetings X 4 B:Good morning B1234 Picture of greetings X 5 C:How old are you?C12 Picture of greetings X 6 C:How old are you?C345 Picture of greetings X 7 Unit 2: A:Come in A1.2.3 Picture of imperative X 8 B: Where do you live? B1.2 X 9 B: Where do you live?B3.4.5. X 10 C:My school C1 Picture of a school X 11 C:My school : C2.3.4 Picture of school things X 12 Unit 3: A:My house: A1.2 Picture of things in the living room X 13 A :My huose A 3.4 Picture of a family X 14 B:Numbers B1.2 X 15 B: Numbers B3.4.5 X 16 C: families C1.2 Interactive board 17 Grammar practice Picture 18 Review 19 Test 45 20 Test correction 21 Unit 4:Where is your schoo?A1.2 Picture of a school X 22 A:Where is your school? :A 3.4 Picture of a school X 23 B:My class :B1.2.3.4.5 Picture of a school X 24 C:Getting ready for school C1.2.3 Picture of activities in the morning X 25 C:Getting ready for school C4.5.6.7 Picture of clocks X 26 Unit 5 A: My day A1.2 .3.4 Picture of activities after school X 27 A: My day :A 5.6.7 Picture of activities after school X 28 B:My routine :B1.2 Picture of daily activities 29 B:My routine : B3.4 30 C:Classes C1 Picture of subjects X 31 C:Classes C2.3 X 32 Grammar Practice 2 33 Unit 6 A: Our house A1.2 Picture of things around the house X 34 A: Our house A 3.4.5.6 Picture of facilities in the neighborhood X 35 B: In the city B1.2.3.4 Picture of facilities in the neighborhood X 36 C: Around the house C1.2 Picture of things around the house X 37 C: Around the house C3.4.5 Picture of facilities in the neighborhood X 38 Review 39 Test 2 40 Test correction 2 41 Unit 7: A: Is your house big ?(A1,2) Picture of facilities in the neighborhood X 42 A: Is your house big ? ( A 3 , 4, 5) Picture of facilities in the neighborhood X 43 B:Town or country ?(B1,2,3) Picture of facilities in the neighborhood X 44 C: On the move (C 1,3) Picture of means of transportation X 45 C: On the move (C 4,5,6) X 46 Unit8: A:What are you doing? A1.2.3 Picture of on-going activities X 47 A :What are you doing? A 4.5.6 Picture of means of transportation X 48 Consolidation 49 The frist examination 50 B: A truck driver B1 Picture of Mr. Quang's work 51 B: A truck driver B 2,3 X 52 C: Road signs C 1,2 Picture of road signs X 53 C: Road signs C 4 Picture of road signs X 54 Grammar practice. 55 Unit9: A:part or the body A1.2 Picture of a body X 56 A:part or the body :A 3.4 Picture of physical descriptions of people X 57 A:part or the body A5.6 X 58 B: Faces B1.2 Picture of a face X 59 B: Faces B4.5.6 X 60 Unit10:A. How do you feel?A1.2 Picture about feelings X 61 A. How do you feel?A3.4 X 62 A. How do you feel?A 5,6 X 63 B.Food and drink B1.2.3 Picture of food and drink X 64 B.Food and drink B4,5 Picture of food and drink X 65 C.My favorite food C1.2.3.4 Picture of food and drink X 66 Unit11: chúng tôi the store A1 Picture of food and drink X 67 A.At the store A2,3 Picture of food and drink X 68 A.At the store A4 69 B.At the canteen B1,2. Picture of food and drink X 70 B.At the canteen B3.4.5. X 71 Grammar practice 72 Test 3 73 Test correction 3 74 Unit12: chúng tôi are they doing? 1.2.3.4.5. Picture of sporting activities X 75 chúng tôi time B1.2.3.4. Picture of activities in freetime X 76 chúng tôi time B5. X 77 C.How often?C1.2.3.4 X 78 C.How often?C5,6 X 79 Unit13: A. The weather and seasons A 1.2 Picture of weather and seasons X 80 A. The weather and seasons A 3,4 Picture of activities in Seasons X 81 B.Activities in seasons B 1 Picture of activities in Seasons X 82 B.Activities in seasons B2+review 13 83 Unit14 A.Vacation destinations A1.2.3 X 84 A.Vacation destinations A4,5 X 85 B. Free time plans B 1,2,3,4 X 86 B. Free time plans B5,6 X 87 C.Suggestions C1 Picture of makimg suggestions X 88 C.Suggestions C2,3 Picture of makimg suggestions 89 Grammar practice 90 Test 4 91 Test correction 4 92 Unit15 A: We are the world A1.2.3 Picture of flags X 93 A: We are the world A4,5,6 X 94 B:Cities,buildings and people B1.2 Picture of comparition X 95 B:Cities,buildings and people B3,4 X 96 C:Natural features C1.2 Picture of Natural features X 97 C:Natural features C3 X 98 Unit16 : A: Animals and plants A 1,2,3 Picture of food X 99 A :Animals and plants A 4 Picture of animals X 100 B:Pollution B1 X 101 B:Pollution B2,3 Picture of environmental issues X 102 B:Pollution B4,5 X 103 Grammar practice 104 Consolidation 105 The second examination KẾ HOẠCH SDĐDDH NH : 2015- 2016 MƠN: TIẾNG ANH 9 NGÀY DẠY PPCT BÀI DẠY TÊN ĐDDH GHI CHÚ 2 Unit1: Getting started, Listen and read Pictures of famouse places in Ha Noi/ page 6 3 Unit 1: Speak, Listen Pictures/ Page 9 4 Unit 1: Read A map of Malaysia 6 Unit 1 : Language focus Pictures of a party 7 Unit 2: Getting started, Listen and read Pictures of traditional clothes of some countries/ page 13 8 Unit 2: Speak + Listen Pictures of clothing/ page 14, 15, 16 9 Unit 2: Read Interactive board 15 Unit 3: Getting started, Listen and read Interactive board 16 Unit 3: Listen A map/ page 25 18 Unit 3: Write Pictures of a country picnic/ Page 26,27 20 Unit 4: Getting started, Listen and read Interactive board 28 Unit 5:Getting started, Listen and read Interactive board 30 Unit 5: Read Interactive board 1 Unit 6:Getting started, Listen and read Interactive board 2 Unit 6: Speak, Listen Interactive board 4 Unit 6: Write Interactive board 3 Unit 6: Languge focus Interactive board 6 Unit 7:Getting started, Listen and read Interactive board 7 Unit 7: Speak, Listen Pictures of saving energy/ Page 59 14 Unit 8: Getting started, Listen and read Interactive board 15 Unit 8:Speak, Listen Interactive board 16 Unit 8: Read Interactive board 17 Unit 8: Write Interactive board 19 Unit 9: Getting started, Listen and read Pictures of Natural disasters/ Page 75 20 Unit 9:Speak, Listen Interactive board 21 Unit 9: Read Interactive board 22 Unit 9: Write Interactive board 27 Unit 10: Getting started, Listen and read Pictures of UFOs/ Page 83 28 Unit 10: Speak, Listen Pictures of drawing of things on Mars

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp Hai

Đồ dùng dạy học với tư cách là công cụ lao động của giáo viên và học sinh được sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng bộ môn. Đồ dùng dạy học không những đóng vai trò minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn cung cấp nội dung thông tin học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.

Nghị quyết 40/2000 – QH 10 của Quốc Hội nước ta về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã nêu rõ : “Đối với nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học”.

Sử dụng đồ dùng dạy học đã tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy – học và hoạt động theo hướng tích cực hoá, cá thể hoá người học trong hoạt động học tập rèn luyện ; phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của mỗi học sinh.

Đồ dùng dạy học đẩy mạnh được hoạt động nhận thức của học sinh. Giúp học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh, hợp lý hoá quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh.

Với tầm quan trọng của ĐDDH và những thực trạng mà tôi đã nêu ra từ đồng nghiệp cũng chính là tồn tại của bản thân. Chính vì vậy, tôi đã suy nghĩ và tìm ra “một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt lớp Hai”.

Tên đề tài : MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP HAI. A. ĐẶT VẤN ĐỀ : a) Tầm quan trọng của vấn đề : Đồ dùng dạy học với tư cách là công cụ lao động của giáo viên và học sinh được sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng bộ môn. Đồ dùng dạy học không những đóng vai trò minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn cung cấp nội dung thông tin học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Nghị quyết 40/2000 - QH 10 của Quốc Hội nước ta về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã nêu rõ : "Đối với nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học". Sử dụng đồ dùng dạy học đã tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy - học và hoạt động theo hướng tích cực hoá, cá thể hoá người học trong hoạt động học tập rèn luyện ; phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của mỗi học sinh. Đồ dùng dạy học đẩy mạnh được hoạt động nhận thức của học sinh. Giúp học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh, hợp lý hoá quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh. Với tầm quan trọng của ĐDDH và những thực trạng mà tôi đã nêu ra từ đồng nghiệp cũng chính là tồn tại của bản thân. Chính vì vậy, tôi đã suy nghĩ và tìm ra "một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt lớp Hai". b) Giới hạn và phạm vi nghiên cứu : * Đối tượng nghiên cứu : Học sinh lớp 2B. Trường Tiểu học số 1 Duy Vinh * Phạm vi nghiên cứu : Chương trình môn Tiếng Việt lớp 2 ở các phân môn : Tập đọc - Chính tả - Kể chuyện - Tập viết. c) Thực trạng trước khi áp dụng đề tài : Qua những năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, tôi nhận thấy rằng việc sử dụng đồ dùng dạy học ở giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế. Về phần giáo viên qua dự giờ, thao giảng việc sử dụng đồ dùng dạy học còn một số tồn tại như sau : - Việc hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học chưa đúng mục đích, chưa bám sát mục đích đã định của bài học, sử dụng chưa đúng lúc làm phân tán sự tập trung chú ý của học sinh, ảnh hưởng tới quá trình tiếp thu của các em. - Sử dụng đồ dùng dạy học chưa đúng chỗ, xác định vị trí của đồ dùng, trình bày ở nơi chưa hợp lí để mọi học sinh trong lớp quan sát được. - Sử dụng chưa đúng mức độ, chưa phù hợp mục đích, yêu cầu bài học, chưa đúng đặc trưng bộ môn Tiếng Việt, chưa phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh. Về phía học sinh, nhược điểm của các em quan sát không có chủ định. Nhìn vào bức tranh, ảnh các em thường không tập trung chú ý vào những nhân vật, sự vật chủ yếu thể hiện nội dung cơ bản của bài học, mà lại chú ý những đối tượng mà mình ưa thích, dù đấy chỉ là những đối tượng thứ yếu. B. CƠ SỞ LÝ LUẬN : Sử dụng ĐDDH trong dạy - học Tiếng Việt nhằm mục đích giúp cho giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn. Hoạt động học sinh tham gia quá trình sử dụng ĐDDH, điều chủ yếu là bồi dưỡng cho các em phương pháp suy nghĩ, diễn tả, nghiên cứu phương pháp, giải quyết vấn đề. Để phát huy hết tác dụng của ĐDDH, điều quan trọng nhất là phải xác định đúng các tình huống sư phạm, phù hợp với đặc trưng bộ môn, trong từng tiết học cụ thể. Tình huống sư phạm sẽ quy định thời điểm, phương pháp và mức độ khai thác nội dung các ĐDDH trong quá trình lên lớp. Hoạt động nhận thức của học sinh từ chưa biết đến hiểu biết, đến kĩ năng, kĩ xảo và vận dụng vào thực tiễn. Lê-Nin đã từng khẳng định con đường biện chứng của nhận thức là : "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của dẫn chứng chân lí, nhận thức hiện thực khách quan". Sử dụng ĐDDH trong quá trình dạy học là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, bằng hành động vật chất, bằng ngôn ngữ bên ngoài tác động vào cảm giác để chuyển thành ngôn ngữ bên trong phù hợp với đặc điểm của học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 2. Trên cơ sở đó, hình thành các khái niệm, định luật, luận thuyết khoa học. C. CƠ SỞ THỰC TIỄN : Trong những năm học này, toàn ngành hưởng ứng cuộc vận động "Hai không" với 5 nội dung mới trong đó có nội dung "Nói không với đọc - chép trong dạy học" nội dung này phù hợp với phương pháp "lấy học sinh làm trung tâm". Đây là nội dung thiết yếu nhằm đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh, giúp học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách con người Viêt Nam XHCN, kích thích sự hứng thú nhận thức của học sinh. Với tầm quan trọng như thế, nhưng trong thực tiễn giảng dạy hiện nay vẫn còn một số giáo viên chưa nắm được nguyên tắc sử dụng, chưa coi trọng việc sử dụng ĐDDH, trong dự giờ đồng nghiệp vẫn còn tồn tại : sử dụng ĐDDH chưa hiệu quả, chưa phát huy tác dụng, chưa khoa học ... Để nhận thức rõ tầm quan trọng của việc sử dụng ĐDDH, thực hiện nghiêm túc việc "Không đọc chép trong dạy - học" và khắc phục những tình trạng nêu trên, tôi đã suy nghĩ và tìm ra : "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ĐDDH môn Tiếng Việt lớp Hai". D. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU : Để nâng cao hiệu quả sử dụng ĐDDH, tôi đã thực hiện một số biện pháp trong từng phân môn ở môn Tiếng Việt, đảm bảo theo các nguyên tắc cơ bản : + Sử dụng đúng mục đích. + Sử dụng đúng lúc. + Sử dụng đúng chỗ. + Sử dụng đúng mức độ. Cụ thể là : a) Biện pháp 1 : Sử dụng tranh ảnh, mẫu vật trong phân môn tập đọc : * Thời gian thực hiện : * Biện pháp thực hiện : Trong phân môn tập đọc, sử dụng ĐDDH chủ yếu nhằm mục đích giúp cho học sinh hiểu và cảm thụ nội dung thơ văn tốt hơn. Việc sử dụng ĐDDH trong phân môn tập đọc rất cần thiết, song tôi luôn căn cứ vào nội dung từng bài đọc cụ thể mà lựa chọn những đồ dùng dạy học cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu cần và đủ, giúp cho bài giảng đạt được mục đích đã định. + Ví dụ 1 : Bài : Câu chuyện bó đũa. - Vật mẫu : 1 bó đũa. Đây là câu chuyện khuyên anh em trong nhà phải đoàn kết, thương yêu nhau, đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh. Với bài này, tôi đã hướng dẫn học sinh quan sát tranh, tìm hiểu nội dung tranh vẽ những gì ? Sau 2 phút quan sát tranh, học sinh trả lời tranh vẽ : Một người bố cầm trong tay bó đũa và bốn người con đang đứng xung quanh người bố, nghe bố nói điều gì. GV vào bài : Để xem người bố khuyên các con điều gì, cô cùng các em tìm hiểu nội dung bài : Câu chuyện bó đũa. Trong quá trình tìm hiểu bài, tôi vẫn sử dụng bức tranh ấy để hướng dẫn các em khai thác nội dung. Ví dụ : Câu1 : Câu chuyện này có những nhân vật nào ? Học sinh nhìn vào tranh và nói được ngay có 5 nhân vật : ông cụ và 4 người con. Đến đoạn tìm hiểu : Một chiếc đũa được ngầm so sánh gì ? Bó đũa được ngầm so sánh gì ? Để giúp các em cảm nhận được một chiếc đũa được ngầm so sánh với từng người con, với sự chia rẽ, với sự mất đoàn kết. Tôi đã sử dụng mẫu vật bó đũa, tháo bó đũa tách ra từng chiếc đũa để các em thấy rõ sự chia rẽ, sự mất đoàn kết. Tôi gộp bó đũa lại được ngầm so sánh với 4 người con, với sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau, với sự đoàn kết. Tôi kết hợp giảng từ "đoàn kết" là yêu thương, đùm bọc nhau, chung sức lại để làm việc. + Ví dụ 2 : Sông Hương. + Mẫu vật : Hoa phượng vĩ. Ví dụ : Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu : Vào mùa hè, Sông Hương đổi màu như thế nào ? (Học sinh đọc thầm đoạn 2 trong bài để trả lời) : Vào mùa hè : Sông Hương thay chiếc áo xanh hằng ngày thành dải lụa đào ửng hồng cả phố phường. Sau khi học sinh trả lời xong tôi lại đặt vấn đề cho các em suy nghĩ : Do đâu có sự thay đổi ấy ? Tôi lại treo tranh, gợi mở chỉ trên hình ảnh cho các em nhận rõ những cây phượng vĩ nở đỏ rực hai bên bờ. Từ đó các em suy nghĩ trả lời : Do hoa phượng vĩ nở đỏ rực hai bên bờ in bóng xuống dòng nước. Kết hợp cho học sinh quan sát vật mẫu "hoa phượng vĩ" để giảng từ "đỏ rực". Biện pháp 2 : Sử dụng đồ dùng dạy - học trong phân môn Kể chuyện : Phân môn kể chuyện có nhiệm vụ rèn luyện trí nhớ cho học sinh. Có ghi nhớ nội dung các em mới kể chuyện lưu loát, trôi chảy, diễn cảm. Ở lớp Hai, điểm khác biệt về nội dung phân môn kể chuyện là sự gắn bó chặt chẽ với phân môn tập đọc. Nội dung cả 31 tiết kể chuyện đều là kể lại những câu chuyện các em đã học trong các bài tập đọc 2 tiết mở đầu mỗi tuần, nhờ thế các em kể lại chuyện một cách tự tin. Khi hướng dẫn học sinh sử dụng bảng con tôi lưu ý : Học sinh luyện viết chữ trên mặt bảng con có dòng kẻ ô li. Ngồi viết đúng tư thế ; biết cách cầm phấn và trình bày chữ viết trên dòng kẻ ở bảng con đúng, đủ yêu cầu. Học sinh có thói quen giơ bảng, hạ bảng, xoá bảng bảo đảm yêu cầu, hợp vệ sinh. c. Vở Tập viết : Vở tập viết lớp 2 do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành là phương tiện luyện tập thực hành quan trọng của học sinh. Nội dung mỗi bài tập viết được thiết kế trên 2 trang vở có chữ viết mẫu trên dòng kẻ li, cấu trúc như sau : (Trang lẻ) : - Tập viết ở lớp ( kí hiệu l ), bao gồm các yêu cầu tập viết như sau : + 1 dòng chữ cái viết hoa cỡ vừa ; + 2 dòng chữ cái viết hoa cỡ nhỏ ; + 1 dòng viết ứng dụng (chữ ghi tiếng có chữ cái viết hoa) cỡ vừa ; + 1 dòng viết ứng dụng (chữ ghi tiếng có chữ cái viết hoa) cỡ nhỏ ; + 3 dòng viết ứng dụng (cụm từ có chữ viết hoa) cỡ nhỏ. - Tập viết nghiêng (tự chọn) - kí hiệu ". (Tranh chẵn) : - Luyện viết ở nhà (kí hiệu n ) - Tập viết nghiêng (tự chọn - kí hiệu ") Sau chữ viết mẫu, trên mỗi dòng kẻ đều có điểm đặt bút (dấu chấm) tôi cho các em xác định rõ đó là điểm đặt bút bắt đầu viết một chữ cái, giúp các em biết viết đúng khoảng cách giữa các chữ. Trước khi bắt đầu luyện tập viết bài vào vở ở mỗi dòng tôi cho các em tô lại chữ mẫu nhằm giúp các em xác định đúng điểm đặt bút, điểm dừng bút, viết đúng quy trình viết chữ. - Tôi nhắc các em nắm vững yêu cầu tập viết (viết chữ gì, viết bao nhiêu dòng, mỗi chữ viêt cách nhau một con chữ "o"). - Tôi yêu cầu các em nhớ lại hình dạng, quy trình viết chữ đã học và luyện tập trên bảng con, dựa vào điểm đặt bút ở dòng kẻ trên trang vở để viết cho đúng mẫu, rõ ràng, sạch sẽ. Không viết dở dang 1, 2 chữ trong cụm từ ứng dụng trên dòng kẻ. Biện pháp 4 : Sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn Chính tả : Phân môn chính tả nhằm rèn luyện kĩ năng viết, kĩ năng nghe cho học sinh. Kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn cách phát âm, củng cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp tiếngViệt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ ...). Bồi dưỡng một số đức tính, thái độ, tác phong cần thiết trong công việc như tính cẩn thận, tác phong làm việc chính xác, óc thẩm mĩ ... Đồ dùng trong phân môn chính tả gồm có : Bảng phụ, bảng con, tranh ảnh, mẫu vật, ... Biện pháp thực hiện : Bảng phụ : + Tôi dùng bảng phụ để viết các bài tập chép, các bài tập chính tả cần luyện tập trong tiết học, khi lên lớp, tôi không phải viết trên bảng nhóm, giành thêm được thời gian gợi mở, hướng dẫn học sinh làm bài tập, uốn nắn những sai sót, giúp cho việc tiến hành giờ học thuận lợi hiệu quả. + Tôi dùng bảng phụ tổ chức cho các nhóm học sinh thi làm đúng, làm nhanh các bài tập trước lớp. Trong quá trình các nhóm thực hiện có thể bộc lộ những thiếu sót, đó là dịp thuận lợi để tôi phát hiện, nhận xét, uốn nắn kịp thời những sai sót đó. b. Bảng con : + Tôi cho học sinh sử dụng bảng con để luyện tập viết từ khó trước khi viết bài vào vở. Bên cạnh đó, học sinh dùng để điền âm, vần, dấu thanh ,viết từ chứa tiếng có vần đã cho trong các bài tập chính tả. c. Tranh ảnh, mẫu vật : + Hệ thống từ ngữ để học sinh luyện viết chính tả khá phong phú, đa dạng nhằm cung cấp, củng cố, mở rộng vốn từ cho học sinh. Để giúp các em hiểu và viết đúng một số từ ngữ đề cập đến những sự vật, sự việc, hiện tượng xa lạ với vốn sống, vốn hiểu biết, vốn từ ngữ của các em. Đặc biệt đối với những bài các em chưa học tập đọc, tôi đã sử dụng các loại tranh ảnh mẫu vật sau : Ví dụ 1 : Bài Trâu ơi ! Trong đoạn viết có từ "Cấy cày" học sinh hay viết sai là cái cầy, do các em chưa hiểu được nghĩa của từ. Để giúp các em hiểu được nghĩa của từ "Cấy cày" tôi sưu tầm tranh vẽ nghề nông, chúng tôi chỉ hình ảnh cô gái và giảng giải : Đây là hình ảnh cô gái đang cấy lúa trên ruộng. Tay trái cầm một nắm mạ chưa cấy, tay phải cầm một nắm mạ đang cấy xuống ruộng. Cô cấy lúa rất thẳng hàng (chỉ hàng mạ đang cấy). Sau đó tôi cho học sinh quan sát tiếp hình ảnh con trâu đang cày ruộng. Nhờ hình ảnh "cấy lúa", "cày ruộng" học sinh viết đúng từ "Cấy cày". Ví dụ 2 : Con chó nhà hàng xóm. Trong đoạn viết có từ "Cún Bông" chúng tôi cho học sinh xem mẫu vật con Cún Bông (đồ chơi của trẻ em được làm bằng bông) để các em quan sát, tạo được sự hứng thú trong học tập,khắc sâu vốn từ cho học sinh. Biện pháp 5 : Tự làm thêm một số đồ dùng dạy học trong môn Tiếng Việt : Ngoài những đồ dùng dạy học sẵn có, tôi còn tự làm thêm một số đồ dùng có chất lượng nhằm phục vụ giảng dạy môn Tiếng việt đạt hiệu quả cao hơn. + Thẻ từ : . Vật liệu : bảng con cắt đôi, nam châm nhỏ. . Cách sử dụng : Dùng để viết sẵn các từ khó cần luyện đọc cho học sinh trong các tiết tập đọc. Ngoài ra, dùng để hướng dẫn học sinh sắp xếp các từ ở mỗi nhóm thành câu thích hợp và dùng để chơi trò chơi gắn từ thích hợp với hình vẽ tương ứng. Ví dụ : Trong phân môn tập đọc, khi dạy bài : Sông Hương, tôi nghiên cứu chọn ra một số từ khó để rèn đọc cho học sinh yếu như : sắc độ, thảm cỏ, trăng sáng, dát vàng, đặc ân, ... tôi viết những từ đó vào thẻ từ. Khi dạy phần luyện đọc từ khó chúng tôi gắn thẻ từ lên bảng lớp để cả lớp cùng quan sát, gọi học sinh yếu lên đánh vần - đọc trơn từ cần rèn. Trong phân môn Luyện Từ và Câu : Nhằm giúp các em có kĩ năng tạo câu với từ cho sẵn, tôi ghi sẵn các từ vào thẻ từ và sắp xếp như sau : thật tươi Cô dạy tập viết Chúng em học bài Cô mĩm cười Các em dùng thước nối các cụm từ ở bên trái với cụm từ ở bên phải. Chú ý làm sao để các cụm từ có cùng chung nét nghĩa thì câu tạo thành mới có nghĩa. Hiệu quả sử dụng : Giảm được thời gian viết từ khó trong khi luyện đọc. Kích thích được sự hứng thú nhận thức trong học tập. Hợp lí hoá trong quá trình hoạt động dạy - học. + Thẻ A, B, C : Vật liệu : giấy trắng in chữ A, B, C dán vào ống hút. Mỗi em có ba thẻ A, B và C. Cách sử dụng : Dùng để làm các bài tập thực hành trắc nghiệm trong phân môn Tập đọc, ngoài ra còn sử dụng ở các môn Toán, Đạo Đức, Tự nhiên và Xã Hội. Các em sẽ chọn ý đúng và giơ lên theo quy định của giáo viên. VD : Thường bài tập trắc nghiêm có ba ý (a, b, c) nếu chọn ý a, các em giơ thẻ A, nếu chọn ý b, các em giơ thẻ B, chọn ý c, giơ thẻ C. . Hiệu quả sử dụng : Kích thích được sự hứng thú trong học tập, tích cực hoá hoạt động học tập của các em. E. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC : Sau khi nghiên cứu,thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học trong các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, Chính tả. Kết quả đạt được như sau : + Về phía giáo viên : Trong quá trình nghiên cứu bài dạy, tôi đã nghiên cứu kĩ phần chuẩn bị đồ dùng dạy học cho từng bài khai thác hết các khía cạnh tích cực của nó, tận dụng hết các chức năng để trình bày, giảng giải, khai thác kiến thức, đồng thời tôi hướng dẫn học sinh quan sát, nghiên cứu khám phá để truyền thụ tốt nhất nội dung bài học. Tôi đã sử dụng đồ dùng dạy học đúng vào thời điểm cần thiết để khai thác truyền thụ một cách hợp lý, giúp học sinh quan sát, tiếp nhận nội dung một cách thuận lợi. Mỗi bước lên lớp khi đồ dùng đã được sử dụng xong chúng tôi cất đi trước khi sử dụng đồ dùng dạy học khác. Tôi luôn xác định đúng vị trí trình bày ở một nơi hợp lý nhất trên lớp, phù hợp với góc nhìn, đảm bảo đủ ánh sáng để học sinh ngồi ở mọi vị trí trong lớp đều có thể quan sát dễ dàng. Mỗi đồ dùng dạy học chứa nhiều nội dung kiến thức khác nhau. Có những kiến thức giới hạn thống nhất với nội dung được trình bày trong sách giáo khoa, song cũng có những kiến thức bổ sung, mở rộng làm rõ thêm một số chi tiết, giúp cho học sinh hiểu một cách đầy đủ hơn. Vì vậy khi sử dụng tôi khai thác đúng mức độ, phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học, đúng đặc trưng phân môn, phù hợp với trình độ tiếp thu của học sinh. Qua các tiết dự giờ của ban giám hiệu nhà trường, của đồng nghiệp, tôi được nhà trường cùng đồng nghiệp đánh giá cao về việc sử dụng đồ dùng dạy học, sử dụng có hiệu quả, phát huy được tác dụng, đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục cao. Kết quả : Các em biết quan sát đồ dùng một cách có tổ chức, có kế hoạch, có suy nghĩ, biết tư duy một cách độc lập, linh hoạt, sáng tạo, biết ghi nhớ một cách hợp lí, khoa học, biết tưởng tượng một cách chính xác, đúng hướng. Trí tuệ các em được phát triển, đã hình thành ở các em thói quen độc lập suy nghĩ, nhìn nhận, phê phán, thói quen nhận thức vấn đề một cách có căn cứ khoa học. Trong giờ học Tiếng Việt các em rất hứng thú, hồ hởi khi được sử dụng đồ dùng dạy. Kết quả chất lượng môn Tiếng Việt của lớp như sau : LỚP TSHS Thời Điểm GIỎI KHÁ T BÌNH YẾU T BÌNH á SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 2B 33/20 GKI 11 33,3 15 45,4 05 12,5 02 6,1 31 93,9 GKII 14 42,4 13 39,4 05 12,5 01 3.0 32 97.0 Hội thi vở sạch chữ đẹp đạt giải nhất đồng đội. G. KẾT LUẬN : Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học. Trong quá trình dạy học, học sinh nhận thức nội dung bài học dưới sự tổ chức, dẫn dắt của giáo viên, có sự hỗ trợ của các đồ dùng dạy học. Đồ dùng dạy học đảm bảo cho học sinh lĩnh hội tốt nhất các biểu tượng, khái niệm, quy tắc, hình thành kĩ năng, kĩ xão. Đối với học sinh tiểu học, đồ dùng dạy học đặc biệt quan trọng vì nó giúp các em quan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan, giúp học sinh nhận thức sâu hơn nội dung bài học, hình thành tốt kĩ năng, kĩ xão. Như Lê Nin đã từng khẳng định con đường biện chứng của nhận thức là : "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan". Tác giả Lê Thị Bích Phương H. TÀI LIỆU THAM KHẢO : 1. Nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên ở các phân môn Tập đọc - Chính tả - Kể chuyện - Tập viết. Nhà xuất bản Giáo dục. 2. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên Giáo viên tiểu học Chu kỳ III 2003- 2007 (tập một). Nhà xuất bản Giáo dục. 3. Chuyên để Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng việt 2 của Nguyễn Minh Thuyết - Nhà xuất bản Giáo dục. 4. Chuyên đề : ''Đổi mới phương pháp dạy - học'' của bộ phận tiểu học (Phòng Giáo dục& Đào tạo Duy Xuyên).

Sử Dụng Hiệu Quả Đồ Dùng Dạy Học Tự Làm Vào Dạy Và Học Tiếng Anh Cấp Tiểu Học

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1. Tên sáng kiến: “ Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm vào dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học.”

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Anh cấp Tiểu học

3. Tác giả: Họ và tên: Bùi Thị Minh Thu Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 17/ 11/ 1977

Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Tiếng Anh

Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Ngọc Châu

Điện thoại: 0914282625

4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học Ngọc Châu

Đ/C: số 3 Trần Thánh Tông, TP Hải Dương

ĐT: 03203858951

5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Ngọc Châu

Đ/C: Số 3 Trần Thánh Tông, TP Hải Dương ĐT: 03203858951

6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Giáo viên và học sinh tích cực tham gia.

7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Học kì II năm học 2016-2017

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

Quá trình dạy học ở cấp Tiểu học nói chung và dạy Tiếng Anh ở cấp Tiểu học nói riêng, việc tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học.

Tuy nhiên các hoạt động tự làm đồ dùng dạy học và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm trong các trường tiểu học còn nhiều hạn chế. Qua quá trình giảng dạy, dự giờ thăm lớp, dự chuyên đề, qua trao đổi chuyên môn, tôi nhận thấy rằng có rất nhiều giáo viên không có thói quen tự làm đồ dùng dạy học hoặc sử dụng không hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm, thậm chí lên lớp còn dạy “chay”- dạy không có đồ dùng dạy học. Việc sử dụng đồ dùng dạy học tự làm của giáo viên Tiếng Anh cấp Tiểu học chưa thực sự có hiệu quả cao, chưa sáng tạo, đặc biệt là đa số giáo viên còn lúng túng khi tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, các hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, tẻ nhạt, không gây hứng thú cho học sinh. Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh còn rời rạc. Giáo viên chưa khai thác hiệu quả đồ dùng tự làm. Giáo viên chưa phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong quá trình dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

Xuất phát từ thực tế trên, trong quá trình giảng dạy, tôi không ngừng tìm tòi, nghiên cứu nắm bắt tâm sinh lý của học sinh để sáng tạo, áp dụng những phương pháp dạy học mới, luôn đổi mới hình thức dạy học kết hợp tự làm đồ dùng dạy học để phù hợp với từng nội dung bài học, cũng như nhu cầu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Chính từ những thực tế và lý luận ở trên, trong sáng kiến này tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến của mình về việc nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh Tiểu học thông qua sử dụng hiệu quả đồ dùng tự làm vào dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học. Sáng kiến của tôi có tên là: “ Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm vào dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học.”

2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

Sáng kiến này dễ dàng áp dụng cho tất cả các lớp học Tiếng Anh cấp Tiểu học.

3. Nội dung sáng kiến

Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến là tháo gỡ được những khó khăn của giáo viên trong việc làm cũng như sử dụng đồ dùng dạy học tự làm khi dạy Tiếng Anh bằng cách đưa ra những ví dụ cụ thể trong những tình huống cụ thể với phương pháp dễ áp dụng, phù hợp với mọi đối tượng học sinh tiểu học. Học sinh hứng thú học tập và hiểu bài nhanh, thuộc bài ngay trên lớp, tạo tâm lý vui vẻ, thoải mái cho học sinh khi học.

Khả năng áp dụng của sáng kiến rất cao bởi những giải pháp đưa ra trong sáng kiến rất gần gũi, đơn giản, dễ áp dụng. Giáo viên và học sinh có thể cùng thực hành trên lớp hàng ngày.

Hiệu quả giảng dạy cao, không tốn kém thời gian để chuẩn bị cũng như tài chính bởi có những đồ dùng giáo viên chỉ cần làm một lần nhưng tái sử dụng được nhiều lần.

4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

Học sinh hiểu bài nhanh, thuộc bài ngay tại lớp, hứng thú học tập, tự tin khi giao tiếp. Không khí lớp học vui vẻ, thân thiện. Giáo viên dễ dàng áp dụng, tiết kiệm thời gian và tài chính.

5. Đề xuất, kiến nghị

– Sở giáo dục và Đào tạo, Phòng giáo dục và Đào tạo tổ chức đều đặn các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh bậc tiểu học để giáo viên có cơ hội được học hỏi trao đổi kinh nghiệm dạy học tốt hơn; mở lớp tập huấn cho giáo viên Tiếng Anh với người nước ngoài để giúp giáo viên Tiếng Anh có môi trường giao tiếp và nâng cao trình độ chuyên môn hơn cũng như học hỏi thêm về phương pháp.

– Nhà trường bố trí phòng học Tiếng Anh rộng rãi hơn để các em học sinh có điều kiện thuận lợi về không gian thực hiện các hoạt động học tập trong lớp.

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1. Cơ sở lý luận

Quá trình giáo dục nói chung và hoạt động dạy học Tiếng Anh ở trường tiểu học nói riêng đều là những hoạt động đòi hỏi người giáo viên không chỉ có chuyên môn vững vàng mà còn phải biết tổ chức các hoạt động dạy học có tính khoa học, sáng tạo và mềm dẻo. Bởi lẽ, không có kiến thức vững vàng thì sẽ không đảm nhiệm được vai trò chủ đạo trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của học sinh. Còn nếu không có tính khoa học, sáng tạo, mềm dẻo thì sẽ không tổ chức, tiến hành được những tiết dạy hay, phù hợp với mọi đối tượng học sinh, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, học sinh không hứng thú học tập, từ đó không hình thành được ở học sinh thói quen tự học, tự nghiên cứu. Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, mỗi thầy cô giáo cần “sáng về đạo đức, sâu về chuyên môn, sắc về nghiệp vụ”. Để thực hiện tốt những điều này, mỗi giáo viên phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn và tích cực đổi mới phương pháp dạy học với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục một cách hiệu quả, thực chất.

Một trong những hoạt động để người giáo viên vừa bổ sung, nâng cao được chuyên môn, lại vừa đổi mới được phương pháp đó là việc thường xuyên học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu để đúc rút ra những sáng kiến hay, phương pháp tốt. Những sáng kiến hay, phương pháp tốt mà mỗi giáo viên đúc rút được cũng là một phần được thể hiện qua các sáng kiến kinh nghiệm từng năm học.

2. Cơ sở thực tiễn

Trong những năm qua, cùng với đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông, đồ dùng dạy học (ĐDDH) đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên việc mua sắm bổ sung, thay thế hàng năm các ĐDDH gặp một số khó khăn về nguồn cung cấp các thiết bị, các chi tiết lẻ, nguồn kinh phí mua sắm bổ sung và sửa chữa, phương pháp sửa chữa khắc phục các đồ dùng hư hỏng trong quá trình sử dụng… Trong điều kiện đó thì giải pháp tự làm, tự sửa chữa, tự cải tiến ĐDDH đã góp phần khắc phục kịp thời những đồ dùng còn thiếu, bổ sung các đồ dùng chưa có điều kiện mua sắm, thay thế hoặc cải tiến các đồ dùng hư hỏng, mất mát và phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng môn học, từng địa phương, từng cơ sở giáo dục.

Đồ dùng dạy học tự làm (ĐDDH TL) là loại ĐDDH do giáo viên chế tạo mới hoặc cải tiến từ một ĐDDH đã có hoặc qua sưu tầm tư liệu hiện vật mà có. ĐDDH TL có nguyên lý cấu tạo và cách sử dụng phù hợp với ý tưởng thực hiện bài dạy của giáo viên làm ra, do đó khi được sử dụng thường cho hiệu quả cao và thiết thực. Nhận thức được tầm quan trọng của ĐDDH TL, hiện nay nhiều tỉnh, thành phố đã phát triển phong trào tự làm ĐDDH, tạo thành một hoạt động sư phạm trong các trường học. Phong trào tự làm ĐDDH đã khơi dậy sự sáng tạo, lòng yêu nghề của đội ngũ giáo viên. Thông qua phong trào, một số lượng lớn các ĐDDH đã được ứng dụng trong quá trình dạy và học. Kết quả của phong trào này đã tạo ra được số lượng lớn các ĐDDH do đội ngũ giáo viên và học sinh tự làm góp phần vào quá trình đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học đồng thời mang lại niềm say mê, sáng tạo, lòng yêu nghề cho các thầy cô giáo, góp phần vào việc xây dựng môi trường sư phạm thân thiện, tích cực, sáng tạo, khuyến khích giáo viên tích cực sử dụng hiệu quả các ĐDDH được trang bị và tự làm nhiều hơn trong các nhà trường, thiết thực hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và cuộc vận động ” Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”, góp phần thực hiện phương châm giáo dục “Học đi đôi với hành”.

Tuy nhiên các hoạt động tự làm ĐDDH trong các trường tiểu học còn nhiều hạn chế, chưa thường xuyên, chưa đồng đều giữa các môn học và khối lớp và các nhà trường. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.Có thể do phong trào tự làm ĐDDH ở trường còn hạn chế, do tâm lí e ngại của các giáo viên vì họ đã có quá nhiều việc phải làm, hoặc cũng có thể do họ chưa có những sự hỗ trợ về tài chính, tư vấn…

Qua quá trình giảng dạy, dự giờ thăm lớp, dự chuyên đề, qua trao đổi chuyên môn, qua các lớp tập huấn chuyên môn, tôi nhận thấy rằng có rất nhiều giáo viên không có thói quen tự làm đồ dùng dạy học hoặc sử dụng không hiệu quả đồ dùng tự làm, thậm chí lên lớp còn dạy “chay”- dạy không có đồ dùng dạy học. Việc sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên Tiếng Anh cấp Tiểu học chưa thực sự có hiệu quả cao đặc biệt là đa số giáo viên còn lúng túng khi tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, các hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, tẻ nhạt, không gây hứng thú cho học sinh. Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh còn rời rạc. Giáo viên chưa thu hút học sinh vào bài học một cách tự nhiên. Năng lực giao tiếp bằng Tiếng Anh của học sinh chưa cao. Giáo viên chưa phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong quá trình dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giờ học trở nên tẻ nhạt, đơn điệu, không sinh động, kém hiệu quả. Học sinh khó thuộc bài ngay tại lớp.

Xuất phát từ thực tế trên, trong quá trình giảng dạy, tôi không ngừng tìm tòi, nghiên cứu nắm bắt tâm sinh lý của học sinh để sáng tạo, áp dụng những phương pháp dạy học mới, luôn đổi mới hình thức dạy học để phù hợp với nhu cầu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, tạo hứng thú học tập cho học sinh.Thực tế cho thấy rằng chỉ khi nào học sinh có hứng thú học tập thì hiệu quả dạy – học mới như mong muốn. Tôi thiết nghĩ, mỗi một giáo viên trên bục giảng phải tự rèn mình như những nghệ sĩ trên sân khấu để thu hút, lôi cuốn học sinh vào bài giảng như những nghệ sĩ thu hút khán giả vào tác phẩm nghệ thuật của mình. Mỗi giáo viên cần “Sáng về đạo đức, sâu về chuyên môn, sắc về nghiệp vụ” thì chất lượng giáo dục chắc chắn sẽ được nâng cao. Chính từ những thực tế và lý luận ở trên, trong sáng kiến này tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến của mình về việc nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh Tiểu học thông qua sử dụng hiệu quả đồ dùng tự làm vào dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học. Sáng kiến của tôi có tên là: “ Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm vào dạy và học Tiếng Anh cấp Tiểu học.”

3. Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu

Để tìm hiểu thực trạng việc dạy học Tiếng Anh cho học sinh tiểu học của giáo viên, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò với 10 giáo viên Tiếng Anh và 100 học sinh tại 10 trường tiểu học của tỉnh với những câu hỏi như sau:

3.1. Điều tra giáo viên

Thầy (cô) giáo hãy khoanh tròn vào câu trả lời

Câu 1: Thầy (cô) giáo có thường xuyên sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết dạy của mình không?

a. Chỉ khi hội giảng, có người kiểm tra, dự giờ.

b. Rất ít, vì nhà trường thiếu đồ dùng.

c. Thường xuyên sử dụng vì nhà trường có sẵn.

Câu 2: Thầy (cô) giáo có thường xuyên tự làm đồ dùng dạy học không?

a. Rất ít khi vì khả năng sáng tạo và khéo léo của bản thân kém.

b. Rất ít khi vì không có thời gian và tài chính.

c. Chỉ tự làm khi hội giảng, có người kiểm tra, dự giờ.

Câu 3: Những loại đồ dùng dạy học nào thầy (cô) giáo thường tự làm?

a. Thẻ từ, thẻ tranh.

b. Thẻ từ, thẻ tranh, tranh to/ posters.

c. Thẻ từ, thẻ tranh, tranh to/ posters, đồ chơi, con rối, mô hình…

Câu 4: Thầy (cô) giáo tự đánh giá về hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học tự làm của mình như thế nào?

a. Còn lúng túng.

b. Chủ động nhưng chưa khéo léo, chưa khoa học.

c. Thành thạo, khoa học và hiệu quả.

Câu 5: Thầy (cô) có muốn học tập nâng cao trình độ chuyên môn về sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm không?

a. Không.

b. Bình thường

c. Rất quan tâm vì nó thiết thực trong giảng dạy.

Kết quả thu được như sau:

Qua kết quả điều tra thực trạng thu được ở trên cho thấy 60% giáo viên rất ít sử dụng đồ dùng dạy học, nếu có dùng thì chỉ mang tính hình thức. Hầu hết, giáo viên chỉ làm đồ dùng hoặc sử dụng đồ dùng dạy học sẵn có khi hội giảng, khi có người kiểm tra, dự giờ. Do không tự làm hoặc không sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên nên khả năng sử dụng đồ dùng dạy học tự làm còn nhiều hạn chế, còn lúng túng dẫn đến khả năng tương tác giữa giáo viên và học sinh kém hiệu quả. Chính từ điều đó mà nhu cầu học tập đổi mới phương pháp dạy học nâng cao trình độ chuyên môn về sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học tự làm là hết sức cần thiết.

3. 2. Điều tra học sinh

Khoanh tròn vào đáp án em chọn.

Câu hỏi 1: Giáo viên có thường xuyên sử dụng các đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, băng, đài hay máy vi tính trong tiết học Tiếng Anh không?

a. rất ít b. thỉnh thoảng c. thường xuyên

Câu hỏi 2: Giáo viên có thường xuyên cho các em tự làm đồ dùng học tập như: Tranh, ảnh, đồ chơi, mô hình… để mang đến lớp học không?

a. rất ít b. thỉnh thoảng c. thường xuyên

Câu hỏi 3: Khi được giáo viên sử dụng các đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, đồ chơi, mô hình…trong tiết học Tiếng Anh em thấy khả năng tiếp thu bài của em như thế nào?

Khó hiểu b. bình thường c. tự tin, hứng thú, tiếp thu bài tốt.

Câu hỏi 4: Em thấy thế nào khi trong giờ Tiếng Anh em và các bạn sử dụng các đồ dùng học tập do tự mình chuẩn bị mang đến lớp như: Tranh, mô hình, đồ chơi, …?

a. bình thường b. lớp học vui vẻ c. hứng thú tương tác bằng tiếng anh hơn

Câu hỏi 5: Em có mong muốn giáo viên thường xuyên sử dụng các đồ dùng dạy học trong các tiết học tiếng Anh không?

không b. bình thường c. rất mong muốn

Kết quả thu được như sau:

Kết quả thăm dò ở trên cho thấy thực tế giáo viên Tiếng Anh rất ít sử dụng các đồ dùng dạy học do giáo viên tự làm hay đồ dùng sẵn có cũng như hướng dẫn học sinh tự làm đồ dùng học tập trong khi dạy học. Khi được giáo viên thường xuyên sử dụng đồ dùng dạy học vào giảng dạy, học sinh hứng thú học bài hơn, khả năng hiểu bài tốt hơn, tự tin giao tiếp hơn. Học sinh có nhu cầu cao được học tập bằng phương pháp dạy và học sử dụng đồ dùng dạy học tự làm của giáo viên và học sinh.

4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện

4.1. Tìm hiểu đặc thù của trẻ trong học tập

Khi hình thành một lớp Tiếng Anh, yếu tố quan trọng chúng ta cần quan tâm đó là lứa tuổi. Lứa tuổi tiểu học có những đặc thù sau:

4.1.1. Trẻ hiếu động (Children are physical)

Nhìn chung, ở lứa tuổi tiểu học, trẻ em rất hiếu động. Chúng thích hiểu biết cái mới, cái lạ thông qua những hành động do chính mình làm, từ đó rút ra những suy nghĩ về cái mới đó, đôi khi còn có cách giải thích riêng của mình về cái mới. Vì thế, giờ học Tiếng Anh phải đưa học sinh vào hoạt động giao tiếp thực, tức là học sinh được giao tiếp một cách có ấn tượng, nhằm tạo ra một phản xạ mới – phản xạ sử dụng ngôn ngữ mới trong tình huống cũ – tình huống đã gặp khi sử dụng tiếng mẹ đẻ. Để có được phản xạ mới này, chúng ta không chỉ bắt học sinh nhớ thuộc lòng, mà còn phải tạo điều kiện cho trẻ được tự mình xử lý các đơn vị ngôn ngữ trong giao tiếp thực.

4.1.2. Trẻ không tập trung được lâu (Children have short attention)

Chúng ta có thể thấy trong nhiều cuộc hội họp của người lớn, từng nhóm, từng nhóm người nói chuyện riêng, không quan tâm đến chủ toạ nói gì. Đó là thói quen xấu. Trẻ em cũng hay nói chuyện riêng trong lớp. Nhưng giữa người lớn và trẻ em khác nhau ở chỗ người lớn làm việc đó một cách có ý thức, còn trẻ em làm việc một cách rất tự nhiên. Trẻ không có khả năng tập trung tư tưởng trong một thời gian dài, kể cả trong tình huống hấp dẫn. Thời gian dài ở trẻ có khi chỉ là vài phút đồng hồ. Vì thế chúng ta thấy một tiết học của trẻ chỉ là 30 – 35 phút, trong khi đó một tiết học của người lớn có thể lên tới 60 – 90 phút. Trước tính cách này của trẻ, một tiết học Tiếng Anh cần được tổ chức sao cho quy trình học trên lớp phải đa dạng về hoạt động và luôn thay đổi hình thức hoạt động, dù là sinh động đi chăng nữa cũng không nên kéo dài. Nếu kéo dài, trẻ sẽ chán và không tập trung.

4.1.3. Trẻ thích chơi mà học (Play to learn)

Trẻ em rất thích chạy nhảy, vui chơi, ca hát. Không một trẻ nào lại thích ngồi yên một chỗ trong khi các bạn đang vui chơi. Các kiến thức ngôn ngữ được vận dụng vào các trò chơi, các bài hát, bài thơ vần tạo cho học sinh có cảm giác như đang chơi chứ không phải là đang học. Giờ học trở nên hết sức nhẹ nhàng và vui vẻ mà hiệu quả lại cao. Từ mới, mẫu câu các em sẽ nhớ hơn khi được đưa vào các trò chơi ngôn ngữ. Môn học Tiếng Anh trở thành môn học mà các em mong .

4.1.4. Trẻ thích được tuyên dương khích lệ và tiến bộ. (Motivation and progress)

Bất kể một học sinh nào từ em học giỏi đến em học chưa giỏi đều muốn được cô giáo khen ngợi trước lớp và đều có nhu cầu được thể hiện mình. Các em rất sợ khi bị cô giáo phê bình trước các bạn. Chính vì vậy mà khi dạy học giáo viên cần động viên, khích lệ học sinh đúng lúc và thường xuyên. Giáo viên cũng nên tạo điều kiện cho học sinh được thể hiện khả năng của mình một cách tự nhiên. Giáo viên cần tránh những câu nói không có tính chất động viên khích lệ, cần xử lý linh hoạt, tế nhị khi học sinh mắc lỗi. Giáo viên cần có suy nghĩ tích cực trong mọi tình huống trên lớp.

Поделитесь с Вашими друзьями:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sử Dụng Đồ Dùng Dạy Học Môn Khoa Học Lớp 4 trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!