Đề Xuất 12/2022 # Rèn Kĩ Năng Nói Trong Giờ Dạy Tiếng Việt” Cho Hs Lớp Hai. Thu Ba Doc / 2023 # Top 21 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 12/2022 # Rèn Kĩ Năng Nói Trong Giờ Dạy Tiếng Việt” Cho Hs Lớp Hai. Thu Ba Doc / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Rèn Kĩ Năng Nói Trong Giờ Dạy Tiếng Việt” Cho Hs Lớp Hai. Thu Ba Doc / 2023 mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN DẦU TIẾNG

GIÁO VIÊN : Nguyễn Thị Thu Ba

LỚP : HAI 2

NĂM HỌC : 2011 -2012

Phân môn Kể chuyện: rèn kĩ năng nói, nghe và đọc. Trong giờ kể chuyện, HS kể lại những câu chuyện phù hợp với chủ điểm mà các em đ ã học. Nghe Thầy, C ô hoặc bạn kể rồi kể lại c â u chuyện bằng lời của mình, trả lời c á c c â u hỏi hoặc ghi lại những chi tiết chính của chuyện.

Nhận biết được tầm quan trọng của việc đổi mới SGK lớp Hai và môn Tiếng Việt lớp Hai, là một trong những giáo viên đang giảng dạy với chương trình v à sách giáo khoa mới, t ôi vừa dạy vừa ngh iê n cứu để tìm ra những

Để đánh giá một con người, chúng ta cũng phải có sự thử thách qua giao tiếp hằng ngày với họ: “Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử l ời ” .

Mặt kh á c việc giao tiếp, ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành công về nhiều lĩnh vực: “Khéo bán, khéo mua cũng thua người khéo nói”.

Dạy Tiếng Việt không có nghĩa là chỉ dạy các em kĩ năng: đọc, viết, nghe mà c ò n dạy c á c em biết sử dụng những lời n ó i biểu cảm trong giao tiếp, đó là một mảng kiến thức vô cùng quan trọng.

rồi ghi vào mảnh giấy làm “đề tài” thi đọc trong nhóm.

học sinh tham gia dựng lại câu chuyện (lời dẫn trong ngoặc đơn nhằm gợi ý về thái độ, cử chỉ, hành động của nhân vật…)

Cảnh 1: (Bà và các cháu Xuân, Vân, Việt đang ngồi trị chuyện tr ê n ghế. Ô ng vừa đi xa về, từ ngoài cửa đi vào trên tay cầm 4 quả đào: 1 quả to và 3 quả nhỏ).

Cảnh 2: (Khung cảnh trong nhà vào buổi chiều: 1 mâm cơm bày sẵn trên chiếc bàn ăn có trải khăn, cả nhà ngồi trên 5 chiếc ghế quây quanh bàn) Ông hỏi: Thế nào, các cháu thấy đào có ngon không ?

Xuân (nói với ông): Đào có vị rất ngon và mùi thật là thơm, ông ạ. Cháu đ ã đem hạt trồng vào một cái vị. Chẳng bao l â u nữa, n ó sẽ mọc th à nh một c â y đào to đấy, ông nhỉ ?

Vân (nói với ông, vẻ tiếc rẻ):

Ông (xoa đầu Vân nhẹ nhàng, cười độ lượng):

Rèn Luyện Kĩ Năng Nói Trong Giờ Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 2 / 2023

PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN DẦU TIẾNG Trường Tiểu Học Minh Hòa GIÁO VIÊN : Nguyễn Thị Thu Ba LỚP : HAI2 NĂM HỌC : 2011 -2012 Lời nói đầu Không như bộ sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học cải cách giáo dục cũ, mà bộ sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học hiện hành nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho HS thông qua các phân môn như: Phân môn Tập đọc: thì rèn cho các em kĩ năng đọc ( đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm ), nghe và nói. Bên cạnh đó, môn Tập đọc còn cung cấp cho cá em những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học và góp phần rèn luyện nhân cách cho từng cá nhân học sinh như : Phân môn Luyện từ và câu: cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết). Phân môn Kể chuyện: rèn kĩ năng nói, nghe và đọc. Trong giờ kể chuyện, HS kể lại những câu chuyện phù hợp với chủ điểm mà các em đã học. Nghe Thầy, Cô hoặc bạn kể rồi kể lại câu chuyện bằng lời của mình, trả lời các câu hỏi hoặc ghi lại những chi tiết chính của chuyện. Phân môn Tập làm văn: rèn cả bốn kĩ năng: nghe, nói, viết và đọc. Trong giờ Tập làm văn, học sinh được cung cấp kiến thức về cách giao tiếp và làm các loại bài tập (nói, viết) xây dựng các loại văn bản và các bộ phận cấu tạo thành văn bản. Nhận biết được tầm quan trọng của việc đổi mới SGK lớp Hai và môn Tiếng Việt lớp Hai, là một trong những giáo viên đang giảng dạy với chương trình và sách giáo khoa mới, tôi vừa dạy vừa nghiên cứu để tìm ra những sángng kiến nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn vàmong được góp sức cho công tác Giáo dục để ngày càng phát triển hơn. A.ĐẶT VẤN ĐỀ: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Không biết từ bao giờ, ngôn ngữ nói có tác dụng sơ khai là trao đổi thông tin và đóng vai trò biểu hiện tình cảm, trạng thái tâm lí và là một yếu tố quan trọng để biểu lộ văn hóa, tính cách con người. Việc giáo dục lời nói trong giao tiếp từ xưa đã được Ông cha ta rất coi trọng: "Học ăn, học nói , học gói, học mở" Để đánh giá một con người, chúng ta cũng phải có sự thử thách qua giao tiếp hằng ngày với họ: "Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời ". Mặt khác việc giao tiếp, ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành công về nhiều lĩnh vực: "Khéo bán, khéo mua cũng thua người khéo nói". Với trẻ em là lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em còn rất nhỏ, chúng ta đã rất chú trọng đến việc giáo dục ở nhà trường với phương châm: "Tiên học lễ, hậu học văn". Dạy Tiếng Việt không có nghĩa là chỉ dạy các em kĩ năng: đọc, viết, nghe mà còn dạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm trong giao tiếp, đó là một mảng kiến thức vô cùng quan trọng. Ý thức được vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong giao tiếp, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu những kinh nghiệm giảng dạy môn Tiếng Việt qua việc "Rèn kĩ năng nói trong giờ dạy Tiếng Việt" cho HS lớp Hai. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CƯÚ : + Để tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ: trước hết mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tiếp đó là rèn những kĩ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảm trong giao tiếp, trong các giờ luyện nói của môn Tiếng Việt trong chương trình SGK lớp Hai. + Nghiên cứu thực trạng trẻ lớp Hai hiện nay có những kiến thức và ý thức ra sao trong giao tiếp hằng ngày, cũng như sự bày tỏ quan điểm nhận thức của bản thân trước những vấn đề mà trẻ phải tự bộc lộ qua những lời nói, lời phát biểu, trả lời câu hỏi theo nội dung bài học và sự giao tiếp với mọi người xung quanh ở trường, ở lớp. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Phạm vi nghiên cứu: Để nắm bắt được kết quả trong quá trình nghiên cứu dạy phân môn tập đọc lớp 2 qua 2 khâu luyện đọc cho học sinh và hướng dẫn cho học sinh cảm thụ văn học. Tôi đã thực hiện nghiên cứu ở 2 lớp 2 tôi đã dạy trong 3 năm gần đây IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : Ngoài việc học hỏi những kinh nghiệm của đồng nghiệp tôi còn sử dụng những phương pháp sau: -Quan sát -Phân tích tổng hợp -Thực hành luyện tập B.GIAÛI QUYEÁT VAÁN ĐỀ I. BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH 1. Phương pháp quan sát : - Đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua những lời phát biểu trong giờ luyện nói của mỗi tiết học, qua lời nói với mọi người xung quanh trong mọi nơi mọi lúc, qua các bài tập thực hành trong vở bài tập Tiếng Việt in. - Biện pháp thực hiện: Ngoài những sổ sách của nhà trường qui định, Tôi còn có thêm một quyển sổ ghi chép những điều quan sát, nhận xét cho từng học sinh trong lớp. Đó là cuốn sổ "Theo dõi đánh giá hành vi học sinh". Trong cuốn sổ này, tôi ghi chép những hành vi, lời nói giao tiếp, những thói quen tốt và cả những điểm còn khiếm khuyết của học sinh để từ đó có cái nhìn khái quát về việc sử dụng vốn ngôn ngữ biểu cảm của học sinh. Từ đó tôi dễ dàng phân loại khả năng giao tiếp của mỗi học sinh trong lớp, qua đó lập kế hoạch bồi dưỡng nâng cao đối với học sinh giỏi; và luyện kĩ năng nói sao cho đạt đến trình độ chuẩn đối với học sinh khá và học sinh trung bình. Tôi luôn quan sát, phản ảnh khá trung thực tình trạng của học sinh trong lớp mình. Sau khi phân loại học sinh tôi chọn lọc những câu hỏi, câu gợi mở sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, để các em phát huy hết khả năng giao tiếp của bản thân trong phần luyện nói của các tiết học trong môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác trong chương trình. 2. Phương pháp phân tích - Tổng hợp : - Qua những ghi chép cá nhân của tôi và những số liệu thống kê, Tôi xử lí những thông tin ấy bằng cách phân tích - tổng hợp những mẫu lời nói thu thập được từ phía học sinh. Từ đó có thể đánh giá sát thực hơn về tình trạng học sinh. - Biện pháp thực hiện: Tôi tiến hành phân nhóm đối tượng học sinh theo các nhóm sau: ♦ Nhóm 1: là nhóm học sinh có lời nói lưu loát, mạch lạc, biết thể hiện lời nói biểu cảm trong giao tiếp. Đây chính là những nhóm trưởng, những người dẫn chương trình trong các giờ luyện nói trên lớp, những nhãn vật nòng cốt trong các tiểu phẩm của các tiết Tiếng Việt mà học sinh tham gia rèn luyện kĩ năng nói trên lớp. ♦ Nhóm 2: Nhóm học sinh có lời nói tương đối trôi chảy, rõ ràng tuy nhiên chưa thể hiện được lời nói biểu cảm trong giao tiếp một cách rõ nét. ♦ Nhóm 3: Nhóm học sinh ngại giao tiếp, khả năng giao tiếp kém, hầu như không biết sử dụng lời nói biểu cảm trong giao tiếp. Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinh trong lớp, Tôi tiến hành sắp xếp chỗ ngồi của học sinh sao cho phân bố đều khắp với ba đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm. Sự tương trợ lẫn nhau trong quá trình học tập của học sinh l việc làm hết sức bổ ích và mang tính khả quan. Như ta thương nói : "Học thày không tày học bạn". Sự phấn đấu - khích lệ trong quá trình học tập, noi thầy, đua bạn sẽ giúp trẻ mạnh dạn, năng động hơn rất nhiều trong quá trình rèn "Nói". Và sự cổ vũ động viên của các bạn trong nhóm, tổ sẽ giúp trẻ tự tin hơn trước lời phát biểu của mình. 3.Phương pháp thực hành - luyện tập : - Với phương pháp này, học sinh thường xuyên được thực hành luyện tập "Nói" trong tất cả các tiết học Tiếng Việt. Chính vì vậy khả năng giao tiếp của các em càng ngày càng được hoàn thiện hơn. Việc "Nói" sao cho trôi chảy, mạch lạc và lời văn thể hiện biểu cảm rõ ràng, từ đó tôi có thể đánh giá một cách chính xác khả năng học tập của học sinh - Biện pháp thực hiện: Tôi hướng dẫn các bài tập thực hành rèn luyện kĩ năng nói của học sinh ở lớp Hai : a. Loại bài tập luyện phát âm theo chuẩn: Ở phần này, tôi ch ý đối tượng học sinh phát âm chưa chuẩn các từ khó, tiếng khó cần rèn đọc trong phần luyện đọc ở tiết Tập đọc. Lập danh sách những học sinh phát âm chưa chuẩn, để rèn cho các em. Học sinh phải phát âm đúng - chính xác, từ đó các em mới bình tĩnh tự tin phát biểu hay đưa ra những ý kiến ring của bản thân trong giờ luyện nói. + Cách tiến hành: Tôi lựa chọn các loại âm, vần địa phương thường phát âm sai chuẩn trong bài Tập đọc để HS luyện phát âm thật đúng và chính xác. Điều quan trọng ở đây chính là bản thân giáo viên phải là người phát âm chuẩn và chính xác. Đa số học sinh trong lớp Hai do tôi làm chủ nhiệm các em thường phát âm sai l/n, r/d, tr/ch, an/oan, uyên/iên Do đó trong phần yêu cầu luyện đọc các từ khó ở các bài tập đọc tôi luôn quan tâm lựa chọn những từ ngữ có âm đầu l/n, r/d, tr/ch, th/h và vần an/oan, uyên/iên Bên cạnh đó, tùy theo nội dung của bài học, Tôi đưa ra những trị chơi giúp học sinh vừa học vừa vui chơi thoải mái. VD : - Thi tìm và đọc nhanh đúng câu có âm đầu, vần dễ lẫn; câu cần thể hiện lời nói biểu cảm trong bài Tập đọc vừa học. - Mỗi em có thể tự nghĩ ra hoặc sưu tầm một số câu thơ, câu văn có những cặp âm đầu, vần khó đọc - viết, thường lẫn lộn theo yêu cầu của giáo viên rồi ghi vào mảnh giấy làm "đề tài" thi đọc trong nhóm. b. Loại bài tập tình huống: Để giờ luyện nói đạt kết quả tốt, tôi dành nhiều thời gian nghiên cứu nội dung của bài luyện nói để đưa ra những câu hỏi dẫn dắt sao cho phù hợp với nội dung bài cũng như phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Với từng nội dung của bài luyện nói, giáo viên phải tìm tòi, sáng tạo và đưa ra những tiểu phẩm phù hợp với nội dung bài để học sinh tập sắm vai và thể hiện ngôn ngữ của bản thân thật tự nhiên, trong sáng VD: Trò chơi sắm vai với môn Tập làm văn: "Chọn lời đúng" + Bạn gái xách 1 vật nặng, một bạn trai tới xách giúp. + Bạn trai chơi chảy đuổi bị vấp ngã, được một bạn khác đỡ dậy. + Trong giờ học vẽ, bạn gái cho bạn trai mượn bút chì. + Trên đường đi học về, bạn trai đưa cho bạn gái chai nước uống. - Đồ dùng sắm vai: 1 túi xách to đựng một số vật, 1 chiếc bút chì màu, 1 chai nước uống. - HS đại diện cho từng nhóm lần lượt lên chơi trò đóng vai ở mỗi tình huống đã cho trong khoảng 1 phút. ° Sau khi đại diện cả 4 nhóm đã chơi xong về một tình huống, cả lớp cùng bình chọn lời nói đúng, hay. Nếu một vai nói đúng 1 câu sẽ được 1 điểm, nói đúng 2 câu sẽ được 2 điểm. Tổng số điểm của hai vai là số điểm của mỗi nhóm trong từng tình huống chơi. ° Sau mỗi tình huống, giáo viên ghi điểm cho từng nhóm lên bảng lớp. Khi các nhóm đã chơi đóng vai ở tất cả các tình huống thì giáo viên cộng điểm và công bố nhóm có điểm cao nhất để khen thưởng. c. Loại các bài tập Kể chuyện :(kể chuyện đã nghe, đã đọc, kể chuyện về bản thân và những người xung quanh) Loại bài tập này được áp dụng ở phân môn Kể chuyện. Giáo viên cần ch ý hướng dẫn học sinh sử dụng tư thế, giọng kể thích hợp, biết sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ hỗ trợ, đặc biệt nam vững câu chuyện định kể. Giáo viên lựa chọn bài tập ở tiết Kể chuyện có yêu cầu phân vai dựng lại câu chuyện (trong sáchTiếng Việt lớp Hai), có thể dựa vào văn bản chuyện kể ở sách giáo khoa, sao lại thành "Màn kịch ngắn" để học sinh tập diễn xuất được dễ dàng và thuận lợi. Chuẩn bị một số đạo cụ phục vụ cho việc bài trí khung cảnh và diễn xuất : cảnh 1(1 chiếc ghế dài ); cảnh 2 (1 chiếc bàn có trải khăn và 5 chiếc ghế, 1 mâm cơm có vài chiếc bát đĩa có thức ăn, 4 quả đào bằng nhựa: 1 qua to và 3 quả nhỏ; quần áo và cây gậy cho học sinh đóng vai người ông và bà, có thể hóa trang thêm với râu, tóc). Cảnh 1: (Bà và các cháu Xuân, Vân, Việt đang ngồi trị chuyện trên ghế. Ông vừa đi xa về, từ ngoài cửa đi vào trên tay cầm 4 quả đào: 1 quả to và 3 quả nhỏ). Ông (đưa quả đào to cho bà, 3 quả nhỏ chia cho 3 cháu), nói : - Quả to này xin phần bà, 3 quả nhỏ chia cho 3 cháu. Cảnh 2: (Khung cảnh trong nhà vào buổi chiều: 1 mâm cơm bày sẵn trên chiếc bàn ăn có trải khăn, cả nhà ngồi trên 5 chiếc ghế quây quanh bàn) Ông hỏi: Thế nào, các cháu thấy đào có ngon không ? Xuân (nói với ông): Đào có vị rất ngon và mùi thật là thơm, ông ạ. Cháu đã đem hạt trồng vào một cái vị. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ mọc thành một cây đào to đấy, ông nhỉ ? Ông (mỉm cười, gật đầu, vẻ hài lòng): - Ừ, mai sau cháu sẽ làm vườn giỏi đấy ! Vân (nói với ông, vẻ tiếc rẻ): - Đào ngon quá, cháu ăn hết mà vẫn thèm. Còn hạt thì cháu vứt đi rồi ông ạ ! Ông (xoa đầu Vân nhẹ nhàng, cười độ lượng): Ôi, cháu của ông còn thơ dại quá ! (Lúc này, Việt chỉ chăm chú vào chiếc khăn trải bàn, không nói gì.) Ông (nhìn Việt vẻ ngạc nhiên) hỏi : Còn Việt, sao cháu chẳng nói gì thế ? Việt (hơi bẽn lẽn nhưng giọng tỏ ra rất vui )nói : Cháu đấy à ? Cháu mang đào cho bạn Sơn. Bạn ấy bị ốm. Nhưng bạn ấy lại chẳng muốn nhận quả đào cháu tặng. Cháu lén đặt quả đào trên giường bạn ấy rồi trốn về, ông ạ ! Ông (thốt lên vẻ phấn khởi, xoa đầu Việt một cách âu yếm) nói : - Ôi chao, cháu yêu quý của ông, cháu là người có tấm lòng thật nhân hậu. Ông rất hài lòng về việc làm của cháu đấy ! +Cách tiến hành : 1. GV cho học sinh nhận vai, học thuộc lời thoại, nắm vững yêu cầu thể hiện tình cảm, thi độ (qua ánh mắt, cử chỉ, động tác, giọng nói ) của nhân vật trong câu chuyện. 2. GV hướng dẫn các nhân vật tập đối thoại sao cho thuộc lời và phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, tự nhiên. 3. GV hướng dẫn cách diễn xuất cho từng nhân vật theo "kịch bản" đã chuẩn bị, trình diễn thử với những đạo cụ và bài trí khung cảnh nêu trong kịch bản. 4. HS trình diễn "màn kịch ngắn" trước lớp; giáo viên cho cả lớp nhận xét, bình chọn những HS diễn xuất giỏi để biểu dương, khen thưởng. II. KẾT QUẢ Qua một số phương pháp luyện nói cho HS đã nêu ở trên, Tôi đã thu được những kết quả chủ yếu trong dạy học như sau: - Đa số HS trong lớp có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt như : các em nhận thức được cần phải lễ phép với người lớn, phải xưng hô đúng cách, biết nói lời cảm ơn hay xin lỗi đúng chỗ, đúng nơi, đúng lúc. - Khi giao tiếp với thầy cô giáo, hầu hết HS đều biết sử dụng lời nói biểu cảm để bày tỏ sự lễ phép của mình. - Trong tất cả các giờ học trên lớp, HS đã biết trả lời câc câu hỏi của giáo viên với nội dung đầy đủ ý nghĩa, biết cách trả lời câu hỏi một cách rõ ràng và trả lời thành câu - Việc giao tiếp với bạn bè trong lớp cởi mở hơn, tự tin hơn rất nhiều. - Căn cứ vào kết quả học tập của học sinh, Tôi có kết quả xếp loại khả năng nói và giao tiếp của học sinh lớp Tôi (năm học: 2010- 2011) như sau: Khả năng Đầu năm Cuối năm Nói tốt 08 HS 16HS Tạm được 10HS 12 HS Chưa được 12 HS 02 HS PHẦN III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Trong quá trình dạy và áp dụng những kinh nghiệm trên nhằm góp phần hình thành nên những kĩ năng cho học sinh ở lớp 2, tôi cũng đã đọc kỹ và tìm hiểu nội dung chương trình môn học Tiếng Việt của khối lớp. Điều này rất có ích để tôi rèn kĩ năng nói tốt hơn cho học sinh. Bên cạnh đó tôi cũng rút ra được một vài kinh nghiệm trong việc dạy học, tổ chức các hoạt động trong việc hình thành những thói quen nói lưu loát nói cho học sinh tiểu học. - Người giáo viên phải thực sự có lòng yêu nghề, mến trẻ, kiên trì, nhẫn nại, nhiệt tình trong công tác, không ngại khó ngại khổ. - Tinh giản các lý thuyết rườm rà, tăng cường thực hành sắm vai, xử lý các tình huống. - Kết hợp tốt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học làm cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, tự nhiên đạt hiệu quả cao. - Liên hệ thực tế, thực hành vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày và luyện tập lâu dài để trở thành những thói quen tích cực và bền vững. - Ngoài ra giáo viên phải luôn có ý thức rèn luyện tay nghề, bồi dưỡng khả năng nghiệp vụ chuyên môn, không ngừng học hỏi để vươn lên, phải tích cực sáng tạo, tìm tòi suy nghĩ thiết kế nên một giờ học có nhiều hoạt động, nội dung phong phú, phát huy tính tích cực, khắc sâu tri thức cho học sinh. IV. KẾT LUẬN : " Mục tiêu giáo dục bậc Tiểu học" có đưa phần mục tiêu rèn luyện nhân cách học sinh lên hàng đầu. Vậy trong mục tiêu, ngoài việc dạy học sinh nghe, nói, đọc, viết, biết tính toán, có kiến thức cơ bản về tự nhiên và xã hội, mà còn chú trọng rèn nhân cách con người là chính. Nhưng lòng hiếu thảo, sự kính trọng ông bà, cha mẹ, thầy cô và người lớn tuổi phải được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, từ lời nói, thái độ, cử chỉ và việc làm. Điều này khẳng định vai trò to lớn của những lời nói biểu cảm của học sinh qua quá trình giao tiếp với mọi người xung quanh. Vì vậy việc rèn kĩ năng "Nói" cho học sinh trong giờ Tiếng Việt là một vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết. Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có vai trò rất quan trọng trong việc giao dục tồn diện cho học sinh Tiểu học. Nhu cầu học tập của học sinh ngày càng cao, giáo viên phải không ngừng học hỏi, nghiên cứu tài liệu, nhằm bổ sung kiến thức cho bản thân để đáp ứng nhu cầu đó. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần phối hợp linh hoạt các phương pháp và có các hình thức dạy học tạo không khí hào hứng, vui tươi, phấn khởi để học sinh tiếp thu bài học một cách chủ động với hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, sự quan tâm của cha mẹ học sinh đối với việc học tập của con em mình sẽ chính là động lực mạnh mẽ nhất giúp học sinh thực sự trở thành những con ngoan, trò giỏi và là những công dân văn minh, lịch sự, có ích cho gia đình, nh trường và xã hội. Những điều Tôi vừa trình bày ở trên rất có giá trị và hiệu quả đối với công việc giảng dạy của Tôi. Nhưng nó có hữu ích hay không còn nhờ sự góp ý và đánh giá của các quý đồng nghiệp. Minh Hòa, ngày 31 tháng 01 năm 2012 Người viết Nguyễn Thị Thu Ba PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH HÒA PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HUYỆN DẦU TIẾNG PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG MỤC LỤC TRANG - BÌA 1 - LỜI NÓI ĐẦU 2 - ĐẶT VẤN ĐỀ 4 - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 6 * Biện pháp tiến hành 6 * Kết quả 13 * Bài học kinh nghiệm 14 * Kết luận 16 * Nhận xét đánh giá của Hội đồng khoa học các cấp 18

Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nói Trong Giờ Dạy Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 2 / 2023

– Cũng như bộ sách giáo khoa học cải cách giáo dục cũ, bộ sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học mới tổ chức rèn luyện kỹ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh thông qua các phân môn Tập đọc, Từ ngữ – Ngữ pháp, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện và Tập làm văn .

– Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kỹ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói. Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật,. ) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.

– Phân môn Từ ngữ – Ngữ pháp, được gọi bằng tên mới là Luyện từ và câu, cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu ( nói, viết, ) kỹ năng đọc cho học sinh .

– Phân môn Chính tả rèn các kĩ năng viết, nghe và đọc. Trong giờ Chính tả, nhiệm vụ của học sinh là viết một đoạn văn ( nhìn – viết, nghe- viết, nhớ – viết) và làm bài tập chính tả, qua đó rèn luyện các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ. Các bài chính tả nhiều khi cũng cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống.

ua cũng thua người khéo nói" - Với trẻ em, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em còn rất nhỏ, chúng ta đã rất chú trọng: "Trẻ lên ba, cả nhà học nói" - Dạy Tiếng việt không có nghĩa là chỉ dạy các em kỹ năng đọc, viết, nghe mà dạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm trong giao tiếp là một mảng vô cùng quan trọng. Ta thử tưởng tượng một người đọc thông, viết thạo tất cả các loại văn bản, song khi giao tiếp lại để ấn tượng xấu, không gây được mối thiện cảm đối với mọi người thì con người đó có khả năng sống và làm việc có hiệu quả không? Ý thức được vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong giao tiếp, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu kinh nghiệm giảng dạy môn Tiếng việt: "Rèn kĩ năng nói trong giờ dạy Tiếng việt cho học sinh lớp 2". II. Mục đích nghiên cứu: 1. Biện pháp: Tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ: Trước hết mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tiếp đó là rèn những kỹ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảm trong giao tiếp, trong các giờ luyện nói của các tiết Tiếng việt trong chương trình sách giáo khoa lớp 2. 2. Thực trạng: Nghiên cứu thực trạng trẻ lớp 2 hiện nay có kiến thức, ý thức ra sao trong giao tiếp hàng ngày cũng như sự bày tỏ quan điểm nhận thức của bản thân, trước những vấn đề mà trẻ phải tự bộc lộ bản thân qua những lời nói, lời phát biểu trả lời theo nội dung bài học và sự giao tiếp với mọi người xung quanh ở trường, ở lớp. 3. Giải pháp: Đề xuất một số giải pháp, phương nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp 2 theo hướng lấy học sinh làm trung tâm. III. Phương pháp nghiên cứu: Ngoài việc học hỏi đồng nghiệp tôi còn sử dụng những phương pháp sau: - Phương pháp quan sát. - Phương pháp phân tích - tổng hợp. - Phương pháp thực hành luyện tập. IV. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 21 - Trường Tiểu học Minh Hòa - Dầu Tiếng - Bình Dương. NỘI DUNG Chương I: Những cơ sở lý luận Suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học: Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học - một yếu tố rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động dạy học, giáo dục ở tiểu học. Để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học đạt hiệu quả chúng ta cần lưu ý tiến hành đổi mới một cách đồng bộ các vấn đề sau: Công tác quản lí: - Quán triệt chủ trương của ngành về đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý các cấp và giáo viên đứng lớp: "Tổ chức các giờ học, các hoạt động giáo dục đảm bảo nhẹ nhàng - tự nhiên - hiệu quả và chất lượng". - Tăng cường hoạt động kiểm tra chuyên môn, dự giờ rút kinh nghiệm và tổ chức cho giáo viên giao lưu trao đổi và học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài trường. - Tổ chức các cuộc thi giáo viên dạy giỏi các cấp về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá đúng chất lượng dạy của giáo viên. - Đổi mới cách đánh giá xếp loại học sinh. Đội ngũ giáo viên: Cần từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên: trang bị giáo viên những kiến thức về đổi mới phương pháp dạy học cụ thể qua các chuyên đề, các loại bài học, các hình thức tổ chức dạy học. Đổi mới sinh hoạt chuyên môn hàng tuần ở từng khối lớp, ở tổ chuyên môn... Cơ sở vật chất: Trang bị đầy đủ sách khoa, đồ dùng học tập cho cho học sinh, tăng cường sách hướng dẫn giảng dạy, thiết bị dạy học tối thiểu cho giáo viên. Trở về với mỗi giáo viên, hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đang thu hút và tác động đến từng cá nhân. Mỗi tiết dạy để đảm bảo sự thành công, việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học đang được quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên, cần lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh. Chương trình sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2: Sách được xây dựng theo 2 trục là chủ điểm và kĩ năng, trong đó chủ điểm được lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kĩ năng được lấy làm khung cho từng tuần, từng đơn vị học. Sách bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần). Chương trình Tiếng Việt lớp 2 gồm 35 tuần lễ. Mỗi tuần học 9 tiết, học kỳ I gồm 18 tuần (162 tiết), học kỳ II gồm 17 tuần (153 tiết). Được chia làm hai tập: Sách Tiếng Việt lớp 2 tập 1, sách Tiếng Việt lớp 2 tập 2. Chương II: Một số giải pháp Phương pháp 1: Phương pháp quan sát: - Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục. Nhằm quan sát giờ dạy của giáo viên và học tập của học sinh trên lớp. Đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua những lời phát biểu của học sinh trong giờ luyện nói của mỗi tiết học, qua lời nói của học sinh với mọi người xung quanh mọi nơi, mọi lúc qua các bài tập thực hành trong vở bài tập Tiếng Việt in. Biện pháp thực hiện: - Ngoài những sổ sách do nhà trường quy định, giáo viên có thêm một quyển sổ ghi chép những điều quan sát, nhận xét từng học sinh trong lớp. Đó là cuốn sổ "Theo dõi đánh giá hành vi học sinh". Trong cuốn sổ này, giáo viên ghi chép những hành vi, lời nói giao tiếp, những thói quen tốt và cả những điểm còn khiếm khuyết của học sinh, để từ đó có cái nhìn khái quát về việc sử dụng vốn ngôn ngữ biểu cảm của học sinh. Từ đó, giáo viên dễ dàng phân loại khả năng giao tiếp của từng học sinh trong lớp, qua đó lập kế hoạch bồi dưỡng nâng cao cho học sinh giỏi và học sinh xuất sắc, luyện kỹ năng nói sao cho đạt trình độ chuẩn cho học sinh khá và học sinh trung bình. Quan sát phản ánh khá trung thực tình trạng của học sinh. - Ưu điểm của phương pháp này là: Sau khi phân loại học sinh, giáo viên chọn lọc những câu hỏi, câu gợi mở sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh để các em phát huy hết khả năng giao tiếp của bản thân trong phần luyện nói của tiết học môn tập đọc và các môn khác trong chương trình. Phương pháp 2: Phương pháp phân tích - tổng hợp - Qua những ghi chép cá nhân của giáo viên và những số liệu thống kê, giáo viên xử lý những thông tin ấy bằng cách phân tích, tổng hợp những mẫu lời nói thu thập được từ phía học sinh. Từ đó có thể có sự đánh giá sát thực hơn về tình trạng học sinh. Biện pháp thực hiện: - Giáo viên tiến hành phân nhóm đối tượng học sinh theo các nhóm sau: a. Nhóm học sinh có lời nói lưu loát, mạch lạc, biết thể hiện lời nói biểu cảm trong giao tiếp. Đây chính là những nhóm trưởng, những người dẫn chương trình trong các giờ luyện nói trên lớp, những nhân vật nòng cốt trong các tiểu phẩm của các tiết Tiếng Việt mà học sinh tham gia rèn luyện kỹ năng nói trên lớp. b. Nhóm học sinh có lời nói tương đối trôi chảy, rõ ràng tuy nhiên chưa thể hiện được lời nói biểu cảm trong giao tiếp một cách rõ nét. c. Nhóm học sinh ngại giao tiếp, khả năng giao tiếp kém, hầu như không biết sử dụng lời nói biểu cảm trong giao tiếp. Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinh trong lớp, giáo viên tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bố đều khắp 3 đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm. Ưu điểm của biện pháp này là: Sự tương trợ lẫn nhau trong quá trình học tập của học sinh là việc làm hết sức bổ ích và mang tính khả quan. Như ta từng nói: "Học thầy không tày học bạn'. Sự phấn khích trong qua trình học tập, đua thầy, đua bạn sẽ giúp trẻ mạnh dạn năng động hơn rất nhiều trong qua trình rèn nói. Sự cổ vũ động viên của các bạn trong nhóm, trong tổ sẽ giúp trẻ tự tin hơn trước lời phát biểu của mình. Qua phân tích tổng hợp khả năng giáo tiếp của học sinh, tôi thống kê chất lượng học sinh đầu năm như sau: Bảng thống kê khả năng nói - giao tiếp của học sinh lớp 21 đầu năm học cụ thể như sau: Khả năng Số học sinh Tỷ lệ % Nói tốt 10 HS 26,3 % Tạm được 20 HS 52,6 % Chưa được 08 HS 21,1 % Phương pháp 3: Phương pháp thực hành luyện tập: - Với phương pháp này, học sinh thường xuyên được thực hành luyện tập "nói" trong tất cả các tiết học Tiếng Việt. Chính vì vậy, khả năng giao tiếp của các em càng ngày càng được hoàn thiện. Việc "nói" sao cho trôi chảy, mạch lạc, lời văn thể hiện biểu cảm rõ ràng, từ đó giáo viên đánh giá một cách chính xác khả năng học tập của học sinh. Biện pháp thực hiện: Các bài thực hành rèn luyện kĩ năng nói ở lớp 2: Loại bài tập luyện phát âm theo chuẩn: Ở phần này, giáo viên chú ý đối tượng học sinh phát âm chưa chuẩn các từ tiếng khó cần rèn đọc trong phần luyện đọc ở tiết 1. Lập danh sách những học sinh phát âm chưa chuẩn, để rèn cho các em trước hết phải phát âm đúng chính xác, từ đó các em mới bình tĩnh, tự tin phát biểu hay đưa ra những ý kiến riêng của bản thân và lời nói trong giờ luyện nói mới có thể tự nhiên, trong sáng. Cách tiến hành: Giáo viên lựa chọn các loại âm, vần địa phương thường phát âm sai chuẩn trong từng bài tập đọc để học sinh luyện phát âm thật đúng và chính xác. Điều quan trọng ở đây chính là bản thân giáo viên phải là người phát âm chuẩn và chính xác. Đa số học sinh trong lớp 21 do tôi làm chủ nhiệm các em thường phát âm sai ch/tr, phát âm sai dấu hỏi, dấu ngã. Do đó, trong phần yêu cầu luyện đọc từ khó ở tất cả các bài học vần và tập đọc, tôi luôn quan tâm lựa chọn những từ ngữ có âm đầu ch/tr và từ ngữ có chứa dấu hỏi, ngã. Bên cạnh đó, tuỳ theo nội dung của bài học, tôi đưa ra những trò chơi giúp hoạt động vừa học vừa vui chơi cho thoải mái. Ví dụ : Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi Thi đọc nhanh và đúng Câu có âm đầu, vần, thanh dễ lẫn Chuẩn bị: Mỗi em có thể tự nghĩ ra hoặc sưu tầm một số câu thơ, câu văn có những cặp âm đầu, vần, thanh dễ đọc - viết lẫn lộn (do đặc điểm của cách phát âm ở địa phương) rồi ghi vào mảnh giấy làm "đề bài" thi đọc trong nhóm. Cách tiến hành: - Đưa ra từng "đề bài" để lần lượt từng người đọc to trước các bạn. Nhóm cử ra một người theo dõi và đánh giá, hoặc cả nhóm cùng nghe và thống nhất đánh giá kết quả đọc của bạn theo tiêu chuẩn: đọc nhanh, phát âm đúng (có thể cho điểm theo thang điểm 10 hoặc xếp theo 3 loại A - B - C). - Khi đọc xong tất cả "đề bài", tính tổng số diểm của từng người (hoặc thống kê từng loại A - B - C) để chọn ra các bạn đạt giải nhất, nhì, ba. Cả nhóm có thể bình chọn để tuyên dương bạn nào sưu tầm (hoặc tự nghĩ ra) được nhiều câu hay, có nhiều tiếng mang cặp âm đầu, vần, thanh dễ lẫn lộn. Gợi ý: Đọc phân biệt các tiếng có âm đầu dễ lẫn Phân biệt ch/tr: Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che Quê hương là đêm trăng tỏ Hoa cau rụng trắng ngoài hè. Phân biệt s/x: Anh bộ đội xúng xính trong bộ quần áo mới, vai súng nom thật oai vệ. Đọc phân biệt các tiếng có thanh dễ lẫn (Thanh hỏi/ thanh ngã) Tôi đi qua ngõ thấy nhà bạn cửa còn bỏ ngỏ. Cây đã đổ, những chú chim chẳng còn nơi đến đỗ. Lỡ khi bên lở bên bồi. + Còn đâu bến cũ tiễn người sông xưa Nhìn lên bầu trời đầy sao sáng, anh bộ đội biên phòng lại xôn xao nhớ đến những người thân ở quê. Loại bài tập tình huống: - Đây là loại bài tập để luyện tập các nghi thức lời nói và phát triển ngôn ngữ nói. Chương trình sách giáo khoa mới đặc biệt đã tạo điều kiện cho học sinh lớp 2 được thực hành rất nhiều loại bài tập này. Trong các phần luyện nói ở các bài học tập Với loại bài tập này hình thức tổ chức lớp hócẽ thay đổi, không còn tính chất "cổ điển". Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới chú trọng đến loại bài tập tình huống để học các nghi thức lời nói và phát triển khẩu ngữ. Cách tiến hành: Trước hết để giờ luyện nói đạt kết quả tốt, giáo viên cần dành thời gian nghiên cứu nội dung của bài luyện nói để đưa ra những câu hỏi dẫn dắt sao cho phù hợp với nội dung bài cũng như phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Với từng nội dung của bài luyện nói, giáo viên phải tìm tòi, sáng tạo đưa ra những tiểu phẩm ngắn gọn phù hợp với nội dung bài để học sinh tập sắm vai thể hiện ngôn ngữ cảu bản thân thật tự nhiên, trong sáng... Ví dụ: Trò chơi về Tập làm văn Chọn lời cho đúng Chuẩn bị: - 04 tranh ảnh (hoặc hình vẽ) minh hoạ 4 tình huống khác nhau có xuất hiện lời cảm ơn và lời đáp lại lời cảm ơn: Bạn gái xách một vật nặng, một bạn trai tới để xách giúp. Bạn trai chơi chạy đuổi bị vấp ngã, được một bạn khác đỡ dậy. Trong giờ học vẽ, bạn gái cho bạn trai mượn chiếc bút chì. Trên đường đi học về, bạn trai đưa cho bạn gái chai nước uống. - Một túi xách to đựng một số đồ vật, một chiếc bút chì màu, một chai nước uống. - Giáo viên làm trọng tài, cử hai học sinh trong lớp giúp việc cho trọng tài. - Chia lớp thành 4 nhóm (mỗi nhóm ít nhất 8 học sinh); phân công 2 học sinh tham gia 1 tình huống của trò chơi. Cách tiến hành: Nêu cách chơi và tính điểm: Mỗi nhóm cử hai học sinh tham gia trò chơi ở tình huống thứ nhất. Học sinh tham gia trò chơi bước lên trước bảng lớp để các học sinh khác tiện theo dõi. Học sinh đại diện cho từng nhóm lần lượt lên chơi trò đóng vai ở mỗi tình huống đã cho trong khoảng 1 phút. Sau khi đại diện cả 4 nhóm đã chơi xong về một tình huống, trọng tài yêu cầu hai học sinh giúp việc đọc to lời của hai vai trong từng nhóm để cả lớp cùng nghe lại và bình chọn lời nói đúng. Nếu một vai nói đúng một câu sẽ được một điểm, nói đúng hai câu sẽ được 2 điểm. Tổng số điểm của hai vai là số điểm của mỗi nhóm trong từng tình huống chơi. Học sinh tiếp tục chơi ở các tình huống khác theo gợi ý nói trên. Thực hành chơi: - 4 nhóm học sinh chơi đóng vai lần lượt từ tình huống thứ nhất đến tình huống thứ tư theo cách đã hướng dẫn. Khi 2 học sinh trong nhóm chơi xong ở tình huống thứ nhất thì nhóm cử tiếp 2 học sinh khác chơi ở tình huống tiếp theo. Tiếp tục cử người chơi như vậy ở 4 tình huống. - 2 học sinh giúp việc trọng tài ghi lại câu nói của 2 bạn tham gia chơi ở từng tình huống, mỗi học sinh giúp việc cho trọng tài chỉ chuyên ghi lại lời nói của một vai (vai cảm ơn hoặc vai đáp lại lời cảm ơn). - Sau mỗi tình huống, trọng tài ghi điểm cho từng nhóm lên bảng lớp. Khi các nhóm đã chơi đóng vai ở tất cả các tình huống thì trọng tài cộng điểm và công bố nhóm có điểm cao nhất để khen thưởng. Loại bài tập luyện kỹ năng hội thoại: - Đây là loại bài tập học sinh tham gia trò chuyện với nhau, trả lời phỏng vấn, cùng nhau tranh luận về một đề tài theo nội dung bài học của mình, một câu có nội dung đề nghị bạn trả lời đúng đồ dùng cho mình. Ví dụ: Đóng vai chúc mừng nhau (Đáp lời chia vui) Chuẩn bị: - 3 hình vẽ (hoặc tranh ảnh) minh họa 3 tình huống khác nhau có xuất hiện lời chúc mừng và lời đáp lại lời chúc mừng: Bạn gái đội mũ, trên mũ có dòng chữ Giải nhất viết chữ đẹp; một bạn tặng hoa chức mừng bạn đoạt giải. Bạn trai tay ôm quả bóng, đầu đội mũ, trên mũ có dòng chữ Đội vô địch; một bạn đang bắt tay chúc mừng bạn đại diện cho đội vô địch. Bạn trai đang đứng trên sân khấu để nhận giải thưởng. Sau lưng bạn trai là tiêu đề cuộc thi: "Thi kể chuyện hay". Một bạn mang hoa lên tặng bạn trai được giải và nói lời chúc mừng. - 5 chiếc mũ làm bằng dải bìa quây tròn, trên có dòng chữ Giải nhất viết chữ đẹp. - 5 quả bóng có dán băng giấy trên băng giấy có ghi Đội vô địch. - 5 chiếc mũ làm bằng dải bìa quây tròn, trên có điểm 10 và dòng chữ thi kể chuyện hay. - Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm ít nhất 6 học sinh, sao cho cứ 2 em đóng vai để thực hiện 1 tình huống được minh hoạ trong tranh. - Giáo viên làm trọng tài, 2 học sinh giúp trọng tài làm việc. Cách tiến hành: 1. Nêu cách chơi và tính điểm: - Mỗi nhóm cử hai học sinh tham gia trò chơi ở tình huống thứ nhất. Học sinh tham gia trò chơi bước lên trước bảng lớp để các học sinh khác tiện theo dõi. - Học sinh đại diện cho từng nhóm lần lượt lên chơi trò đóng vai ở mỗi tình huống đã cho trong khoảng 1 phút. Ví dụ: 2 học sinh đại diện cho nhóm 4 tham gia chơi. Một học sinh đóng vai bạn gái đoạt giải nhất trong kỳ thi Viết chữ đẹp của trường. Một học sinh đóng vai bạn gái lên chúc mừng bạn được giải và nói: "Chức mừng bạn!" rồi xiết chặt tay bạn. Bạn được giải đáp: "Cảm ơn các bạn!". 2. Thực hành chơi: - 3 nhóm học sinh chơi đóng vai lần lượt từ tình huống đầu đến tình huống cuối theo cách đã hướng dẫn. Khi 2 học sinh trong nhóm chơi xong ở tình huống đầu thì nhóm lại cử hai học sinh khác chơi ở tình huống tiếp theo. Tiếp tục cử người chơi như vậy ở 3 tình huống. - 2 học sinh giúp việc trọng tài ghi lại câu nói của hai bạn tham gia trò chơi ở từng tình huống, mỗi học sinh giúp việc trọng tài chỉ chuyên ghi lại lời nói của một vai (vai chức mừng hoặc vai đáp lời chúc mừng). - Sau mỗi tình huống, trọng tài ghi điểm cho từng nhóm lên bảng lớp. Khi các nhóm đã chơi đóng vai ở tất cả các tình huống thì trọng tài cộng điểm và công bố nhóm có diểm cao nhất để khen thưởng. Loại bài tập kể chuyện: (Kể chuyện đã nghe, đã đọc, kể chuyện về bản thân và những người xung quanh...) Loại bài tập này được áp dụng ở phân môn kể chuyện. Cần chú ý hướng dẫn học sinh có tư thế, có giọng kể thích hợp, biết sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ hỗ trợ, đặc biệt nắm vững câu chuyện định kể. Ví dụ: Phân vai dựng chuyện Chuẩn bị: Giáo viên lựa chọn bài tập ở tiết kể chuyện có yêu cầu phân vai dựng lại câu chuyện (Trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2); có thể dựa vào văn bản truyện kể ở sách giáo khoa, soạn thành "Màn kịch ngắn" để học sinh tập diễn xuất được dễ dàng và thuận lợi. Những quả đào Nhân vật: - Ông - Bà - Cậu bé Xuân - Cô bé Vân - Cậu bé Việt Cảnh 1: (Bà và các cháu Xuân, Vân, Việt đang ngồi trò chuyện trên băng ghế. Ông vừa đi xa về, từ ngoài cửa đi vào, trên tay cầm 4 quả đào: một quả to, 3 quả nhỏ) Ông (đưa quả đào to cho bà, 3 quả nhỏ chia cho 3 cháu): - Quả to này xin phần bà. Ba qua nhỏ chia cho 3 cháu. Cảnh 2: (Khung cảnh trong nhà vào buổi chiều. Một mâm cơm bày sẵn trên chiếc bàn có khăn trải, cả nhà ngồi trên 5 chiếc ghế quây quanh bàn) Ông (hỏi các cháu): - Thế nào, các cháu thấy đào có ngon không ? Xuân: - Đào có vị rất ngon và mùi thật là thơm, ông ạ! Cháu đã đem trồng vào một cái chậu. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ mọc thành một cây đào to đấy, ông nhỉ? Ông (mỉm cười, gật đầu, vẻ hài lòng): - Ừ, mai sau cháu sẽ làm vườn giỏi đấy! Vân (nói với ông, vẻ tiếc rẻ): - Đào ngon quá, cháu ăn hết mà vẫn thèm. Còn hạt thì cháu vứt đi rồi ông ạ! Ông (xoa đầu Vân nhẹ nhàng, cười độ lượng): - Ôi, cháu của ông còn thơ dại quá! ( Lúc này, Việt chỉ chăm chú vào chiếc khăn trải bàn, không nói gì) Ông (nhìn Việt vẻ ngạc nhiên, hỏi): - Còn Việt, sao cháu chẳng thấy gì thế? Việt (hơi bẽn lẽn nhưng giọng nói tỏ ra rất vui): - Cháu ấy ạ? Cháu mang đào cho bạn Sơn. Bạn ấy bị ốm. Nhưng bạn ấy lại chẳng muốn nhận quả đào cháu tặng. Cháu lén đặt quả đào trên giường bạn ấy rồi trốn về, ông ạ! Ông (thốt lên phấn khởi, xoa đầu Việt một cách âu yếm): - Ôi chao, cháu yêu quý của ông, cháu là người có tấm lòng thật là nhân hậu. Ông rất hài lòng về việc làm của cháu đấy! - Một số đồ vật phục vụ cho việc bài trí khung cảnh và diễn xuất: 1 chiếc ghế dài (cảnh 1); 1 chiếc bàn tròn (hoặc chữ nhật) và 5 chiếc ghế đơn (ghế đẩu hoặc ghế tựa); 1 mâm cơm có vài chiếc bát, đĩa có thức ăn tượng trưng; 4 quả đào thật hoặc quả giả bằng nhựa (một quả to, 3 quả nhỏ). - Quần áo cho học sinh đóng vai người ông, vai người bà (có thể hoá trang về râu, tóc cho phù hợp); trang phục thích hợp với tính cách từng nhân vật: Vân (ngây thơ hồn nhiên), Việt (hiền từ nhân hậu), Xuân (cẩn thận, chu đáo). Cách tiến hành: Giáo viên cho học sinh nhận vai, học thuộc lời thoại, nắm vững yêu cầu thể hiện tình cảm, thái độ (qua ánh mặt , cử chỉ, động tác, giọng nói...) của nhân vật trong câu chuyện . Giáo viên hướng dẫn các nhân vật tập đối thoại sao cho thuộc lời, phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, tự nhiên (chưa cần diễn xuất cụ thể). Giáo viên hướng dẫn cách diễn xuất cho từng nhân vật theo "kịch bản" đã chuẩn bị (tương tự như "đạo diễn" dựng kịch nói hay hoạt cảnh); trình diễn thử với đạo cụ và bài trí khung cảnh nêu trong "kịch bản". Học sinh trình diễn "màn kịch ngắn" trước lớp; Giáo viên cho cả lớp nhận xét, bình chọn những học sinh diễn xuất giỏi để biểu dương, khen thưởng. Chương III: Kết quả Qua một số phương pháp luyện nói cho học sinh đã nêu ở trên, tôi đã thu được những kết quả chủ yếu trong dạy học như sau: Đa số học sinh trong lớp có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt như: các em nhận thức được cần phải lễ phép với người trên, phải xưng hô đúng cách, phải biết nói lời cảm ơn hay xin lỗi đúng chỗ, đúng nơi, đúng lúc.Khi giao tiếp với thầy cô giáo trong trường theo đúng nghi thức, hầu hết học sinh đều biết sử dụng lời nói biểu cảm để bày tỏ sự lễ phép của mình. Trong tất cả các giờ học trên lớp, học sinh đã biết trả lời các câu hỏi của giáo viên với nội dung đầy đủ ý nghĩa, biết cách trả lời câu hỏi một cách rõ ràng, trả lời cả câu... Việc giao tiếp với bạn bè trong lớp cởi mở, tự tin hơn rất nhiều. Bảng thống kê khả năng nói - giao tiếp của học sinh lớp 21 cuối năm học cụ thể như sau: Khả năng Số học sinh Tỷ lệ % Nói tốt 18 HS 4

Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 1 Công Nghệ Giáo Dục / 2023

Để thực hiện tốt môn Tiếng Việt lớp 1- Công nghệ giáo dục, người giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học của chương trình Tiếng Việt công nghệ giáo dục lớp 1 cũng như mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp dạy học phần âm của từng bài dạy. Đặc biệt, phải thực hiện đúng theo quy trình của thiết kế Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục.

Để học sinh nắm chắc bài học về phần âm là vô cùng quan trọng, nên bước đầu giáo viên cần cung cấp cho học sinh các kĩ năng: Làm quen với môi trường học tập, với thầy cô, bạn bè, biết sử dụng các đồ dùng học tập, biết nhận nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh nhẹn…

Về kiến thức, các em phải nắm chắc: Tiếng gồm 2 phần (phần âm đầu và phần vần); biết đánh vần theo cơ chế 2 bước, dùng thao tác và đọc theo 4 mức độ; biết vẽ mô hình 2 phần của tiếng, đưa tiếng vào mô hình; biết phân biệt nguyên âm và phụ âm; biết tạo ra các tiếng mới bằng cách thay phụ âm đầu hoặc các dấu thanh trong tiếng việt; biết nghe đọc và viết đúng, đẹp các tiếng đã học.

Trước giờ lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kỹ sách học sinh, giáo viên và tìm hiểu nội dung bài đọc trong chương trình lớp 1 học…

Giáo viên nắm vững chất lượng học tập của học sinh, từ đó có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.

Khi học xong tiết Tiếng Việt hình thành kiến thức các em phải nắm vững được các kiến thức trong bài học, giáo viên điều tra xem bao nhiêu học sinh trong lớp có thể làm được bài, từ đó có hướng luyện cho các học sinh còn hổng kiến thức.

Trong giờ học Tiếng Việt, để giờ học bớt căng thẳng, giáo viên cần tổ chức thêm một số trò chơi giữa tiết và cuối tiết.

Với những lỗi phát âm cơ bản, trước hết, giáo viên phải phát âm chuẩn, sau đó, vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức sửa lỗi phát âm.

Giáo viên có thể sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu: Giáo viên phát âm chuẩn, rõ ràng, thật chậm từ 2 – 3 lần, sau đó cho học sinh phát âm sai phát âm lại. Phương pháp quan sát và phân tích cách phát âm:

Phương pháp luyện tập tổng hợp: Phân tích các thành phần và âm vị mắc lỗi để học sinh nhận diện (đối với các âm ghép như: th, nh, ch, kh, ph, gh, ng,tr)

Đưa vào trong ngữ cảnh để khu biệt nét nghĩa cho học sinh có ý thức phân biệt âm đúng âm sai (đối với các âm dễ lẫn lộn như l-n, s-x, tr-ch, r-g, gi-d-v)

Phương pháp tổ chức trò chơi học tập: Giáo viên thay đổi các trò chơi hấp dẫn để thu hút sự chú ý học sinh giúp các em tiếp thu bài tốt hơn.

Để dạy tốt môn Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục phần âm có hiệu quả cao, giáo viên cần làm tốt các quy trình 4 việc và vận dụng phù hợp các hình thức tổ chức dạy học trong từng tiết học một cách hiệu quả nhất.

Đồng thời, sử dụng một số phương pháp dạy học như: Phương pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp hỏi đáp, phương pháp trực quan… kết hợp với nhiều hình thức dạy học như: Học theo lớp, nhóm; cá nhân,…

Giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hành và rèn luyện kỹ năng đọc, viết; lưu ý trang bị cho học sinh kiến thức từ thấp đến cao.

Để làm được điều này, người giáo viên chỉ nhiệt tình giảng dạy là không đủ mà còn phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; phải biết kích thích lòng say mê học tập của các em, đồng thời lưu ý đến điều kiện thực tế ở mỗi lớp, mỗi trường.

Rèn Kỹ Năng Học Tốt Tiếng Việt Lớp 1 / 2023

Giáo viên còn gặp khó khăn với phương pháp mới

Nhiều năm giảng dạy ở Trường tiểu học số 2 thị trấn Mường Tè, cô giáo Bùi Thị Là cho biết, nhìn chung giáo viên đều rất coi trọng giờ dạy học Tiếng Vệt – Công nghệ giáo dục lớp 1.

Tuy nhiên, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn với phương pháp mới, nhận thức của học sinh không đồng đều. Một số học sinh chưa biết hết nghĩa của một số tiếng phổ thông, một số em tiếp thu chậm, nghe viết kém, viết hay nhầm lẫn.

Với một số nội dung cụ thể như nghe đọc câu phát hiện tiếng giống nhau khác nhau để vẽ mô hình tô cùng màu, học sinh khó tìm và tìm còn chậm. Cách đọc âm /q, gi/ có sự khác nhau so với dạy nhận biết chữ ở mầm non.

Khi đọc những âm, vần như: r/d/gi; uau, uêu, uyu, oao, oeo, uym, uyp,… học sinh còn gặp khó khăn, đọc thường bị vấp, phát âm hay nhầm…

Cô Bùi Thị Là cũng cho biết, học sinh lớp một thường phát âm sai các âm cơ bản như: t, th, kh, p, ph, qu; âm th (thờ) phát âm sai là (hờ), gi (giờ) phát âm sai là (di ); kh (khờ) phát âm sai là (đờ ); t (tờ) phát âm sai là (cờ); p (pờ) phát âm sai là (bờ), ph (phờ) phát âm sai là (hờ)…; phát âm lẫn lộn giữa các âm: l – n, ch- tr, s – x, r – g, v- b,t – c…

“Qua nhiều năm dạy học lớp 1, tôi nhận thấy các em chưa để ý đến việc đọc của mình như thế nào. Khi phát âm, học sinh còn hay ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện . Học sinh tiểu học nói chung và lớp 1 nói riêng, phần lớn chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên” – cô Bùi Thị Là cho hay.

Để có giờ Tiếng Việt – Công nghệ giáo dục lớp 1 đạt kết quả tốt người giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểm yêu cầu, bản chất kỹ năng cơ chế mục đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc. Trên cơ sở đó sử dụng phương pháp cho phù hợp.

Cô giáo Bùi Thị Là

Biện pháp rèn kỹ năng học tốt môn Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục

Để thực hiện tốt môn Tiếng Việt lớp 1- Công nghệ giáo dục, cô Hoàng Thị Minh Lan cho rằng, người giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học của chương trình Tiếng Việt công nghệ giáo dục lớp 1 cũng như mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp dạy học phần âm của từng bài dạy. Đặc biệt, phải thực hiện đúng theo quy trình của thiết kế Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục.

Để học sinh nắm chắc ác bài học về phần âm là vô cùng quan trọng, nên bước đầu giáo viên cần cung cấp cho học sinh các kĩ năng: Làm quen với môi trường học tập, với thầy cô, bạn bè, biết sử dụng các đồ dùng học tập, biết nhận nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh nhẹn…

Về kiến thức, các em phải nắm chắc: Tiếng gồm 2 phần (phần âm đầu và phần vần); biết đánh vần theo cơ chế 2 bước, dùng thao tác và đọc theo 4 mức độ; biết vẽ mô hình 2 phần của tiếng, đưa tiếng vào mô hình; biết phân biệt nguyên âm và phụ âm; biết tạo ra các tiếng mới bằng cách thay phụ âm đầu hoặc các dấu thanh trong tiếng việt; biết nghe đọc và viết đúng, đẹp các tiếng đã học.

Trước giờ lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kỹ sách học sinh, giáo viên và tìm hiểu nội dung bài đọc trong chương trình lớp 1 học…

Giáo viên nắm vững chất lượng học tập của học sinh, từ đó có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.

Khi học xong tiết Tiếng Việt hình thành kiến thức các em phải nắm vững được các kiến thức trong bài học, giáo viên điều tra xem bao nhiêu học sinh trong lớp có thể làm được bài, từ đó có hướng luyện cho các học sinh còn hổng kiến thức.

Trong giờ học Tiếng Việt, để giờ học bớt căng thẳng, giáo viên cần tổ chức thêm một số trò chơi giữa tiết và cuối tiết.

Với những lỗi phát âm cơ bản, trước hết, giáo viên phải phát âm chuẩn, sau đó, vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức sửa lỗi phát âm.

Giáo viên có thể sử dụng phương pháp luyện tập theo mẫu: Giáo viên phát âm chuẩn, rõ ràng, thật chậm từ 2 – 3 lần, sau đó cho học sinh phát âm sai phát âm lại. Phương pháp quan sát và phân tích cách phát âm:

Phương pháp luyện tập tổng hợp: Phân tích các thành phần và âm vị mắc lỗi để học sinh nhận diện (đối với các âm ghép như: th, nh, ch, kh, ph, gh, ng,tr)

Đưa vào trong ngữ cảnh để khu biệt nét nghĩa cho học sinh có ý thức phân biệt âm đúng âm sai (đối với các âm dễ lẫn lộn như l-n, s-x, tr-ch, r-g, gi-d-v)

Phương pháp tổ chức trò chơi học tập: Giáo viên thay đổi các trò chơi hấp dẫn để thu hút sự chú ý học sinh giúp các em tiếp thu bài tốt hơn.

Để dạy tốt môn Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục phần âm có hiệu quả cao, theo cô Hoàng Thị Minh Lan, giáo viên cần làm tốt các quy trình 4 việc và vận dụng phù hợp các hình thức tổ chức dạy học trong từng tiết học một cách hiệu quả nhất.

Đồng thời, sử dụng một số phương pháp dạy học như: Phương pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp hỏi đáp, phương pháp trực quan… kết hợp với nhiều hình thức dạy học như: Học theo lớp, nhóm; cá nhân,…

Giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hành và rèn luyện kỹ năng đọc, viết; lưu ý trang bị cho học sinh kiến thức từ thấp đến cao.

Để làm được điều này, người giáo viên chỉ nhiệt tình giảng dạy là không đủ mà còn phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; phải biết kích thích lòng say mê học tập của các em, đồng thời lưu ý đến điều kiện thực tế ở mỗi lớp, mỗi trường.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Rèn Kĩ Năng Nói Trong Giờ Dạy Tiếng Việt” Cho Hs Lớp Hai. Thu Ba Doc / 2023 trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!