Đề Xuất 2/2023 # Ngữ Pháp :: Chúng Ta Cùng Học Tiếng Thụy Điển # Top 7 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 2/2023 # Ngữ Pháp :: Chúng Ta Cùng Học Tiếng Thụy Điển # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ngữ Pháp :: Chúng Ta Cùng Học Tiếng Thụy Điển mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

D. Substantiv: Danh từ

Trong tiếng Thụy Điển có 2 loại danh từ:


+ Danh từ En


En banan – quả chuối
En stol – cái ghế 
En hund – con chó
+ Danh từ Ett
Ett äpple – quả táo
Ett bord – cái bàn
Ett kök – phòng bếp( Những danh từ chỉ người hay động vật thường sẽ là danh từ en, nhưng cũng có một số ngoại lệ như Ett barn – đứa trẻ, Ett djur – động vật, Ett lejon – sư tử …)

Danh từ trong tiếng Thụy Điển có 2 dạng:

Dạng không xác định và dạng xác định:

+ Dạng không xác định:
 En dag – một ngày
^Ett år – một năm


+ Dạng xác định:
Dagen ( danh từ en + en)
Året ( danh từ ett + et)
( Có nhiều trường hợp không nằm trong quy tắc này)
Danh từ không xác định được dùng khi người ta cho rằng người nghe chưa được biết rõ về người hay vật mà người ta ám chỉ, còn danh từ xác định được dùng khi người ta cho rằng người nghe biết rõ về hình dáng, lai lịch … của người hay vật mà người ta ám chỉ.Vd: Jag har en hund.
 Hundens färg är svart.

Dạng số nhiều của danh từ.Trong tiếng thụy điển có 5 đuôi số nhiều dùng cho danh từ ( or, ar, er, n và không có đuôi)
Bạn sẽ phải học thuộc chúng. Nhưng cũng có một số quy luật cho các danh từ.+Danh từ en thường có đuôi số nhiều là ar, or hoặc er.
1) Danh từ En tận cùng bằng A thì có đuôi số nhiều là or. ( bỏ a Danh từ En có trọng âm ở nguyên âm cuối thì đuôi số nhiều là Danh từ Ett tận cùng bằng nguyên âm thì có đuôi số nhiều là N.
Frimärke + đuôi số nhiều.
( Có nhiều danh từ En không thể áp dụng theo 5 quy tắc trên khi danh từ đó kết thúc bằng phụ âm chúng sẽ có đuôi số nhiều là er hoặc ar)
Vd: En bil ( bilar ) – xe hơi
En buss ( bussar ) – xe buss
En dag ( dagar ) – ngày
En helg ( helger) – ngày cuối tuần.

+ Dạng xác định ở số nhiều.( khi dịch sang tiếng việt dạng xác định thường dịch là Này, Kia, Đó, Ấy …)
1) Dạng thứ nhất là Na dùng cho danh từ có đuôi số nhiều không xác định tận cùng là R( or, ar, er)
* dạng không xác định klockorna
2) 2 dạng tiếp theo dùng cho danh từ ett.
– Danh từ ett có đuôi số nhiều là N, thì có dạng xác định tận cùng bằng a.
* dạng không

Ngữ Pháp Trong Tiếng Tiếng Thụy Điển

Ông đã cho ra đời sách ngữ pháp cũng như từ điển tiếng Swahili đầu tiên.

Han utarbetade den första grammatikboken på swahili samt en ordbok.

jw2019

Thứ nhì, ngữ pháp tiếng Copt tương đối giống ngữ pháp tiếng Anh về một điểm quan trọng.

För det andra liknar den koptiska grammatiken engelskans (och svenskans) grammatik på en viktig punkt.

jw2019

Nhưng thật ra “ngữ pháp” có hai loại.

Egentligen finns det två sorters grammatik.

ted2019

Vì thế, chúng tôi chú ý đến các quy tắc ngữ pháp cụ thể như chia động từ.

Vi studerade en speciell grammatisk regel, imperfektböjning.

ted2019

Có sự thiếu sót về mặt ngữ pháp ở một vài chỗ.

Det saknas någon slags struktur.

QED

(Tiếng cười) Tôi không quan tâm quá nhiều đến ngữ pháp – đừng nói với ai nha!

(Skratt) Jag bryr mig egentligen inte så mycket om grammatik… Säg inte det till nån.

ted2019

Phân tích ngữ pháp tài liệu KDE

Tolkar KDE: s dokumentation

KDE40.1

Lỗi nghiêm trọng khi phân tích ngữ pháp Đoạn XML

Allvarligt fel när XML-stycke tolkades

KDE40.1

Năm 1492 ông xuất bản quyển Gramática castellana (Ngữ pháp tiếng Castile) đầu tiên.

År 1492 publicerade han den första Gramática castellana (Grammatik över det kastilianska språket).

jw2019

Sai ngữ pháp rồi.- Laboulaye!

Det är syriska

opensubtitles2

Nó được gọi là ngữ pháp, tonta.

Det kallas grammatik, tonta.

OpenSubtitles2018.v3

Họ không có tự điển cũng không có sách ngữ pháp.

De hade ingen ordbok och inte heller någon grammatikbok att gå efter.

jw2019

Vào năm 1999, tôi và Jenny cũng viết một cuốn ngữ pháp tiếng Tuvalu.

Två år tidigare hade Jenny och jag också gett ut en bok om tuvaluansk grammatik.

jw2019

Một tác giả nói: “Nott đã xác định ngữ pháp cổ điển tiếng Tahiti.

En författare sade: ”Nott fastställde tahitiskans klassiska grammatik.

jw2019

Ngôn ngữ có mẫu hình ngữ pháp.

(2 Timoteus 1:13) Ett språk har ett mönster av ord.

jw2019

◆ phân tích “ngữ pháp”.

◆ studera ”grammatiken”.

jw2019

Trục trặc khi phân tích ngữ pháp

Tolkproblem

KDE40.1

Hãy dùng từ ngữ đúng với các quy tắc ngữ pháp.

Använda ord i överensstämmelse med de grammatiska reglerna.

jw2019

“Nhiều người không biết bảng chữ cái hay bảng cửu chương, ” thì không thể viết đúng ngữ pháp–”

“Mången kan inte alfabetet eller multiplikationstabellen, kan inte skriva grammatiskt …”

ted2019

Hãy giữ cho thông điệp được trang trọng bằng cách nói rõ ràng và đúng ngữ pháp.

Framför budskapet på ett värdigt sätt genom att tala tydligt och använda korrekt grammatik.

jw2019

* Ngôn Ngữ: Pháp, Malagasy

* Språk: Franska, malagassiska

LDS

Nhờ một người kiểm tra ngữ pháp và cách phát âm.

Be någon hjälpa mig med grammatik och uttal.

jw2019

Chomsky đã sử dụng ngữ pháp phi ngữ cảnh được bổ sung thêm nhiều biến đổi.

Chomsky använde en kontextfri grammatik förstärkt med transformationer.

WikiMatrix

” Nhiều người không biết bảng chữ cái hay bảng cửu chương, ” thì không thể viết đúng ngữ pháp — ”

” Mången kan inte alfabetet eller multiplikationstabellen, kan inte skriva grammatiskt… “

QED

Ngôn ngữ không chỉ là một tập hợp từ vựng hoặc thiết lập các quy tắc ngữ pháp.

Språk är inte bara ett vokabulär eller en uppsättning grammatiska regler

QED

Chúng Ta Học Tiếng Nga (41

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Hôm nay chúng ta sẽ kết thúc việc ôn tập các cách của tiếng Nga. Chúng ta đã ghi nhớ sự biến đổi của danh từ, tính từ và đại từ trong nguyên cách-cách 1, sinh cách-cách 2, tặng cách-cách 3 và đối cách-cách 4. Chủ đề bài học hôm nay là ôn lại tạo cách-cách 5 và giới cách-cách 6. Mời các bạn trở lại với câu chuyện kể ngắn và ta sẽ tìm thấy hai cách 5 và 6 trong đó.

ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН. ОН ПРИЕХАЛ ИЗ ПЕТЕРБУРГА. ЕМУ 25 ЛЕТ. АНТОН – СТУДЕНТ. ОН УЧИТСЯ В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. АНТОН БУДЕТ ИСТОРИКОМ. У АНТОНА НЕТ КВАРТИРЫ В МОСКВЕ. ОН ЖИВЕТ В ОБЩЕЖИТИИ. В СУББОТУ У АНТОНА БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ О РОССИЙСКИХ АКТЕРАХ. ВЕЧЕРОМ МЫ ХОДИЛИ В КАФЕ С ДРУЗЬЯМИ. ТАМ МЫ ПИЛИ КОФЕ С ТОРТОМ И ЕЛИ МОРОЖЕНОЕ С ШОКОЛАДОМ. В СЕНТЯБРЕ МЫ ПОЕДЕМ С АНТОНОМ В ПЕТЕРБУРГ НА МАШИНЕ. Я ЛЮБЛЮ МОЕГО ДРУГА.

Đây là Anton bạn trai của tôi. Anh ấy đến từ Peterburg. Anh ấy 25 tuổi. Anton là sinh viên. Anh ấy học ở Đại học Tổng hợp Matxcơva. Anton sẽ là nhà sử học. Anton không có căn hộ ở Matxcơva. Anh ấy sống trong ký túc xá. Gần ký túc xá có rạp chiếu phim và Anton thường đến đó xem những bộ phim mới. Hôm thứ Bảy là ngày sinh nhật của Anton. Tôi đã tặng Anton một cuốn sách thú vị về các diễn viên Nga. Buổi chiều chúng tôi cùng bạn bè tới quán cà-phê. Ở đó chúng tôi uống cà-phê với bánh ga-tô và ăn kem sô-cô-la. Tháng Chín chúng tôi sẽ cùng Anton đi Peterburg bằng ô tô. Tôi yêu quí người bạn của tôi.

Nào, trước hết là tạo cách-cách 5. Cách 5 trả lời cho câu hỏi кем? чем? с кем? с чем?

Будет кем? – Sẽ thành ai?

Trong câu này, danh từ ИСТОРИК đứng ở cách 5.

Tạo cách-cách 5 còn được gọi là Công cụ cách, vì cần dùng cách 5 để chỉ các vật, dụng cụ mà chúng ta dùng cho hành động nào đó.

РУССКИЕ ЕДЯТ РИС НОЖОМ И ВИЛКОЙ, А ВЬЕТНАМЦЫ – ПАЛОЧКАМИ.

Người Nga ăn cơm bằng dao và dĩa, còn người Việt ăn (cơm) bằng đũa.

НОЖОМ, ВИЛКОЙ, ПАЛОЧКАМИ.

Trong câu này các danh từ НОЖ, ВИЛКА và ПАЛОЧКИ đã được biến đổi sang cách 5.

Một thí dụ từ câu chuyện của chúng ta:

МЫ ХОДИЛИ В КАФЕ С ДРУЗЬЯМИ.

Ходили с кем? Đi với ai?

Danh từ số nhiều ДРУЗЬЯ đã biến đổi sang cách 5.

Tạo cách-cách 5 thường được dùng đến khi chúng ta nói về đồ ăn.

МЫ ПИЛИ КОФЕ С ТОРТОМ И ЕЛИ МОРОЖЕНОЕ С ШОКОЛАДОМ.

Пили кофе с чем? Uống cà-phê với gì?

Các danh từ ТОРТ và ШОКОЛАД đứng ở cách 5.

Đuôi của danh từ trong cách 5, với danh từ giống đực và giống trung thì kết thúc bằng -ОМ,-ЕМ, còn danh từ giống cái cách 5 kết thúc với -ОЙ, -ЕЙ, đuôi của danh từ số nhiều là – АМИ, -ЯМИ.

Giới cách-cách 6 trả lời cho câu hỏi о ком? о чем? на ком? на чем? где? когда? Trong cách 6các danh từ luôn luôn có giới từ đi kèm (vì thế gọi là giới cách).

Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ О РОССИЙСКИХ АКТЕРАХ.

Книгу о ком? Sách (nói) về ai?

Đuôi của từ trong câu cách 6 rất dễ nhớ. Số ít bất kỳ giống nào sang cách 6 đều sẽ có tận cùng là -Е hoặc -И, còn trong số nhiều thì tận cùng là -АХ hoặc là -ЯХ.

Xin các bạn lưu ý: nếu sau giới từ О có vần hữu thanh, thì giới từ sẽ thành ОБ.

АНТОН УЧИТСЯ В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. У НЕГО НЕТ КВАРТИРЫ В МОСКВЕ. АНТОН ЖИВЕТ В ОБЩЕЖИТИИ.

Где учится Антон? Anton học ở đâu?

В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ.

Где живет Антон? Anton sống ở đâu?

Các danh từ УНИВЕРСИТЕТ, МОСКВА, ОБЩЕЖИТИЕ và tính từ МОСКОВСКИЙ đứng ở cách 6.

Đuôi của tính từ cách 6 nếu là giống đực và giống trung sẽ có tận cùng bằng-ОМ,-ЕМ, giống cái tận cùng bằng -ОЙ, -ЕЙ, số nhiều tận cùng là -ЫХ, -ИХ.

В СЕНТЯБРЕ МЫ ПОЕДЕМ В ПЕТЕРБУРГ НА МАШИНЕ.

Поедем на чем? Chúng ta sẽ đi trên cái gì?

Cách 6 cần đến khi ta nói về phương tiện giao thông.

НА АВТОБУСЕ, НА САМОЛЕТЕ, НА ЛОДКЕ. Trên ô tô buýt, trên máy bay, trên thuyền.

Поедем когда? Khi nào chúng ta đi?

Như vậy, cách 6 cũng cần đến khi nói về các tháng trong năm.

В ЯНВАРЕ – Trong (Vào) tháng 1 (tháng Giêng), В ФЕВРАЛЕ – Trong (Vào) tháng 2, В МАРТЕ – Trong (Vào) tháng 3, В АПРЕЛЕ – Trong (Vào) tháng 4, В МАЕ – Trong (Vào) tháng 5, В ИЮНЕ – Trong (Vào) tháng 6, В ИЮЛЕ – Trong (Vào) tháng 7, В АВГУСТЕ – Trong (Vào) tháng 8, В СЕНТЯБРЕ – Trong (Vào) tháng 9, В ОКТЯБРЕ – Trong (Vào) tháng 10, В НОЯБРЕ – Trong (Vào) tháng 11, В ДЕКАБРЕ – Trong (Vào) tháng 12 (tháng Chạp).

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 42

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Hy vọng rằng, các bạn đã cảm thấy thỏai mái dễ dàng trong việc sử dụng các cách của tiếng Nga. Hôm nay chúng ta sẽ nói cụ thể hơn về một bộ phận quan trọng của ngôn từ – là động từ. Các bạn đã biết rằng động từ trong tiếng Nga dùng trong ngôi và số khác nhau sẽ có phần đuôi khác nhau. Việc biến đổi động từ theo ngôi và số được gọi là phép chia động từ. Trong tiếng Nga có hai phép chia động từ. Các động từ thuộc phép chia thứ II trong dạng bất định nguyên thể có tận cùng là -ИТЬ. Thí dụ, ГОТОВ ИТЬ. Ta sẽ quan sát sự thay đổi của loại động từ này trong các ngôi và số.

Tôi chuẩn bị – nấu ăn, bạn chuẩn bị – nấu ăn, anh ấy (chị ấy) chuẩn bị – nấu ăn, chúng ta (chúng tôi) chuẩn bị – nấu ăn, các bạn (các anh, các chị…) chuẩn bị – nấu ăn, họ (chúng nó) chuẩn bị – nấu ăn.

Tất cả các động từ thuộc phép chia thứ II cũng sẽ có kết thúc như vậy. Thí dụ:

Я ЛЮБЛЮ СВОЕГО ДРУГА. ЛЮБ ИТЬ-ЛЮБЛ Ю. Tôi yêu mến người bạn của mình. В УНИВЕРСИТЕТЕ ТЫ УЧИШЬ ИСТОРИЮ. УЧИТЬ-УЧ ИШЬ. Ở trường Tổng hợp bạn học Sử. ОНА КУПИТ СЕБЕ КРАСИВОЕ ПЛАТЬЕ. КУП ИТЬ-КУП ИТ. Cô ấy mua cho mình chiếc váy áo đẹp. МЫ НЕ КУРИМ. КУР ИТЬ-КУР ИМ. Chúng tôi không hút thuốc. ПОЗВОНИТЕ НАМ ЗАВТРА. ПОЗВОН ИТЬ-ПОЗВОН ИТЕ. Hãy gọi điện cho chúng tôi vào ngày mai. НАШИ ДРУЗЬЯ ОЧЕНЬ ХОРОШО ГОВОРЯТ ПО-АНГЛИЙСКИ. ГОВОР ИТЬ-ГОВОР ЯТ. Các bạn của chúng ta nói tiếng Anh rất thạo.

Nếu các động từ phép chia thứ II trong dạng bất định nguyên thể chỉ có một kiểu kết thúc bằng -ИТЬ, thì với các động từ thuộc phép chia thứ I mọi sự phức tạp hơn. Về cơ bản thuộc phép chia thứ I là các động từ mà trong dạng bất định nguyên thể thì trước đuôi -ТЬ có vần -А hoặc -Я. Thí dụ, động từ ДЕЛАТЬ.

Hoặc động từ ГУЛЯТЬ, chia như sau:

Nhưng trong phép chia thứ I có những động từ ẩn chứa “bí mật” mặc dù đuôi nguyên thể vẫn giống thế, nhưng đòi hỏi chia đặc biệt không giống qui luật trên. Và bản thân từ cơ sở khi chia cũng thay đổi. Thí dụ, động từ ПИСАТЬ.

Các bạn thấy không, động từ nguyên thể có dạng là ПИСАТЬ.

Я НЕ ЛЮБЛЮ ПИСАТЬ ПИСЬМА. Tôi không thích viết thư.

Khi thay đổi theo ngôi và số trong động từ cơ bản âm C biến thành âm Ш.

Động từ ПОМОЧЬ cũng không theo qui tắc chung.

Khi thay đổi theo ngôi và số trong động từ cơ bản âm Ч biến thành âm Г và Ж.

Я ДОЛЖЕН ПОМО Ч Ь СВОЕЙ МЛАДШЕЙ СЕСТРЕ СДЕЛАТЬ УРОКИ. Tôi cần giúp đỡ em gái út của mình làm bài.

Я ПОМО Г У ТЕБЕ ПОДГОТОВИТЬСЯ К ЭТОМУ СЛОЖНОМУ ЭКЗАМЕНУ. Tôi giúp cậu chuẩn bị cho kỳ thi phức tạp.

Còn có một số động từ đặc biệt hơn nữa: khi ở số ít thì có đuôi như phép chia thứ I, nhưng khi diễn tả họat động của số nhiều thì lại cần biến đổi như phép chia thứ II. Thí dụ, như các động từ thường hay được sử dụng ХОТЕТЬ – muốn, ДАТЬ – cho, và ЕСТЬ – ăn.

Xin các bạn lưu ý, trong số ít ở đây có sự biến âm -Т thành âm -Ч

Phép chia các động từ ДАТЬ và ЕСТЬ thì đơn giản là cần học thuộc, vì chúng có đuôi khác thường không theo qui tắc chung.

Я ДАМ ТЕБЕ ВКУСНУЮ КОНФЕТУ. Tớ cho cậu cái kẹo ngon.

ПОСЛЕ ЗАНЯТИЙ ОНИ ЕДЯТ В СТОЛОВОЙ. Sau giờ học họ ăn ở nhà ăn.

Trong tiếng Nga còn có 11 động từ mà ở hình thức không xác định nguyên thể có đuôi như loại thuộc phép chia thứ I, nhưng lại biến đổi như động từ thuộc phép chia thứ II. Chúng ta sẽ tìm hiểu về nhóm động từ lạ thường này ở bài sau. Còn bây giờ đề nghị các bạn lập ra câu chuyện nhỏ kể về bản thân và bạn bè của mình, bằng cách sử dụng động từ thuộc phép chia I và II, trong những ngôi và số khác nhau.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 43

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Trong bài học trước chúng ta đã nói về phép chia động từ tiếng Nga, tức là biến đổi động từ như thế nào về ngôi và số cho phù hợp với danh từ trong ngữ cảnh cần thiết. Xin nhắc các bạn rằng có hai phép chia động từ. Phân biệt động từ thuộc phép chia I hay II, là tùy theo cấu tạo của động từ ở hình thức nguyên thể không xác định. Nói chung những động từ ở dạng nguyên thể có kết thúc bằng -ИТЬ là thuộc phép chia II, tất cả những động từ còn lại thì thuộc phép chia I.

Nhưng cũng như ở bài trước chúng tôi đã nói, trong tiếng Nga mỗi qui tắc đều có biệt lệ. Ta đã nói về một số động từ cần chia ngoại lệ. Hôm nay, xin giới thiệu với các bạn 11 động từ thuộc phép chia II, mặc dù khi ở dạng nguyên thể bất định chúng có kết thúc bằng -АТЬ và -ЕТЬ, giống như động từ thuộc phép chia I. Mời các bạn nghe chị Tania điểm qua các động từ ngoại lệ này:

ГНАТЬ – đuổi, ДЫШАТЬ – thở, ДЕРЖАТЬ – giữ, СЛЫШАТЬ – nghe, ЗАВИСЕТЬ – phụ thuộc, ВИДЕТЬ – nhìn thấy, ОБИДЕТЬ – giận, СМОТРЕТЬ – nhìn, xem, ВЕРТЕТЬ – xoay, НЕНАВИДЕТЬ – căm ghét, ТЕРПЕТЬ – chịu đựng.

Có mẹo thuộc lòng những động từ đặc biệt này bằng mấy câu văn vần như sau:

Как начнешь меня ты гнать,

На меня начнешь смотреть,

Раз ты смог меня обидеть,

Để dễ thuộc, chúng tôi tạm dịch sang tiếng Việt như sau:

Để dễ nhớ những động từ và thuộc đoạn văn vần này các bạn hãy gắng hình dung diễn biến trò chơi trong đó dưới dạng một bức tranh nhỏ. Động từ ngoại lệ trong đọan văn vần này đều ở nguyên thể. Bây giờ ta sẽ xem chia các động từ không theo qui tắc chung này ra sao.

Gió đuổi những chiếc lá thu.

Bạn hít thở không khí trong lành của mùa thu dễ chịu làm sao!

Tôi nghe thấy tiếng kêu của những con sếu đang bay.

Chúng tôi giữ trong tay bó hoa mùa thu.

Các bạn hãy nhìn xa ra cánh đồng trống trải và rừng cây.

Bọn trẻ xoay những chiếc diều giấy trên đầu.

Chúng tôi bị lạnh, nhưng chúng tôi chịu đựng, chúng tôi không muốn rời khỏi rừng.

Quyết định của chúng tôi phụ thuộc vào thời tiết.

Đừng lo, cậu không làm tớ giận đâu.

Những đứa trẻ nhìn thấy cụm nấm dưới gốc cây.

Anh ấy yêu thiên nhiên và ghét những ai phá hoại thiên nhiên.

Đề nghị các bạn tranh thủ tập luyện thêm vào những lúc rảnh rỗi. Tin rằng các bạn sẽ thành công.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 44

Photo: RIA Novosti

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Hôm nay chúng ta sẽ nói về những mệnh đề phức hợp trong tiếng Nga. Thông thường những mệnh đề này có hai loại. Loại thứ nhất là khi mà tất cả các bộ phận của một câu phức đều ngang bằng nhau, có thể tách ra để trở thành những câu đơn giản và độc lập.Thí dụ:

Я УСПЕШНО СДАЛ ЭКЗАМЕН, И МЫ С ДРУГОМ ПОШЛИ В КАФЕ. Tôi đã trả thi thành công, và chúng tôi cùng người bạn đi đến quán cà-phê.

Trong mệnh đề phức hợp này gồm hai câu đơn giản thể hiện những hành động nối tiếp nhau. Mệnh đề phức hợp như vậy có thể chia được thành hai câu đơn giản riêng biệt.

Я УСПЕШНО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Tôi đã trả thi thành công.

И МЫ С ДРУГОМ ПОШЛИ В КАФЕ. Và chúng tôi cùng người bạn đi đến quán cà-phê.

Hoặc là phương án mệnh đề phức hợp như sau:

Я ЛЮБЛЮ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛИНЧИКИ, НО КАРТОШКА С МЯСОМ МНЕ НРАВИТСЯ БОЛЬШЕ. Tôi thích món nem Việt Nam, nhưng món khoai tây với thịt thì tôi còn thích hơn.

Trong câu phức hợp này, ý nghĩa của một câu đơn giản trái ngược với ý nghĩa của câu khác. Nhưng cũng có thể dễ dàng tách ra thành hai câu riêng độc lập.

Я ЛЮБЛЮ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛИНЧИКИ. Tôi thích món nem Việt Nam.

НО КАРТОШКА С МЯСОМ МНЕ НРАВИТСЯ БОЛЬШЕ. Nhưng món khoai tây với thịt thì tôi còn thích hơn.

Loại thứ hai của câu phức hợp bằng tiếng Nga là khi một phần phụ thuộc vào phần khác, và không thể tách rời thành những mệnh đề đơn lẻ. Thí dụ:

КОГДА АНТОН ПРИЕХАЛ ИЗ ПЕТЕРБУРГА, ОН ВСТРЕТИЛСЯ СО ВСЕМИ СВОИМИ ДРУЗЬЯМИ.

Khi Anton đến từ Peterburg, anh ấy đã gặp gỡ với tất cả các bạn bè của mình.

Ở đây một phần mệnh đề chỉ hành động đã được thực hiện xong, còn phần kia chỉ mốc thời gian ngữ cảnh.

Когда Антон встретился со всеми своими друзьями? Когда он приехал из Петербурга.

Khi nào Anton gặp gỡ với tất cả các bạn bè của mình? Khi anh ấy đến từ Peterburg.

Phần mệnh đề cho thấy hành động của đối tượng được gọi là chính, còn phần mệnh đề thể hiện thời gian thực hiện hành động này được xem là mệnh đề phụ.

Xin thêm một thí dụ mệnh đề phức hợp với phần phụ chỉ thời gian.

КОГДА АННА ГОТОВИТ ОБЕД, ОНА ВСЕГДА СЛУШАЕТ РАДИО.

Khi Anna chuẩn bị bữa ăn trưa, chị ấy luôn nghe radio.

Ở đây, phần chính là ОНА ВСЕГДА СЛУШАЕТ РАДИО.

Còn phần phụ trong mệnh đề phức hợp là КОГДА АННА ГОТОВИТ ОБЕД

Phần phụ chỉ thời gian bắt đầu với từ КОГДА và không thể dùng tách riêng độc lập khỏi phần chính.

Có thí dụ ngắn gọn về mệnh đề với phần phụ chỉ thời gian, là ngạn ngữ mà bậc phụ huynh người Nga thường nói với các con trong bữa ăn.

КОГДА Я ЕМ, Я ГЛУХ И НЕМ. Khi tôi ăn, tôi điếc và câm.

Chắc các bạn cũng thấy ở đây cả qui tắc văn minh – khi đang ăn thì không nói chuyện, cũng như lối chơi chữ để có vần điệu. Có lẽ các bạn dễ dàng xác định được đâu là phần chính, còn đâu là phần phụ trong mệnh đề phức hợp này.

Thêm một loại mệnh đề phức hợp với phần phụ chỉ khoảng thời gian.

АНТОН НЕ ПРИШЕЛ НА ЛЕКЦИЮ, ПОТОМУ ЧТО ОН ПЛОХО СЕБЯ ЧУВСТВОВАЛ.

Anton không đến lớp, vì anh ấy cảm thấy người không khỏe, mệt, ốm.

Ở đây, phần chính là АНТОН НЕ ПРИШЕЛ НА ЛЕКЦИЮ.

Còn phần phụ là ПОТОМУ ЧТО ОН ПЛОХО СЕБЯ ЧУВСТВОВАЛ.

Phần phụ giải thích nguyên nhân thực hiện hành động trong phần chính, vì thế dạng mệnh đề này còn được gọi là mệnh đề quan hệ nhân quả.

Почему Антон не пришел на лекцию? Потому что он плохо себя чувствовал.

Tại sao Anton không đến lớp? Vì anh ấy cảm thấy người không khỏe, mệt, ốm.

Thêm thí dụ khác về câu phức hợp với phần phụ chỉ nguyên nhân hành động.

ЗУНГ КУПИЛ СЕБЕ ТЕПЛУЮ КУРТКУ И ШАПКУ, ПОТОМУ ЧТО ЗИМОЙ В МОСКВЕ ОЧЕНЬ ХОЛОДНО.

Dũng đã sắm cho mình chiếc áo bông ấm và mũ, vì mùa đông ở Matxcơva rất lạnh.

Почему Зунг купил себе теплую куртку и шапку? Потому что зимой в Москве очень холодно.

Tại sao Dũng đã sắm cho mình áo bông ấm và mũ? Vì rằng mùa đông ở Matxcơva rất lạnh.

Phần phụ trong mệnh đề phức hợp này bắt đầu với từ ПОТОМУ ЧТО và không thể dùng khi tách riêng độc lập khỏi phần chính.

Vẫn còn một dạng mệnh đề phức hợp nữa – đó là với phần phụ chỉ điều kiện.

ЕСЛИ ЗАВТРА БУДЕТ ХОРОШАЯ ПОГОДА, МЫ ПОЕДЕМ НА РЕКУ КУПАТЬСЯ. Nếu ngày mai thời tiết tốt, chúng ta sẽ ra sông tắm.

Phần mệnh đề phụ chỉ điều kiện, có thể diễn ra hành động trong phần chính.

При каком условии мы поедем на реку купаться? Если завтра будет хорошая погода.

Với điều kiện nào chúng ta sẽ ra sông tắm? Nếu ngày mai thời tiết tốt.

Thêm một thí dụ nữa về mệnh đề phức hợp có phần phụ điều kiện:

ЕСЛИ ТЫ НЕ БУДЕШЬ МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ, ТЫ НЕ СДАШЬ ХОРОШО ЭКЗАМЕНЫ. Nếu cậu không học kỹ, cậu sẽ không trả thi tốt được.

Ở đây phần mệnh đề chính là ТЫ НЕ СДАШЬ ХОРОШО ЭКЗАМЕНЫ.

Còn phần phụ chỉ điều kiện là ЕСЛИ ТЫ НЕ БУДЕШЬ МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ.

Phần mệnh đề phụ chứa điều kiện bắt đầu với từ ЕСЛИ và không thể dùng khi tách riêng độc lập khỏi phần chính.

Bài tham khảo trên trang web của Đài “Tiếng nói nước Nga” sẽ giúp các bạn trong việc luyện tập này. Xin chúc thành công!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 45

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Câu phụ thời gian biểu thị khoảng thời gian của hành động trong phần chính của mệnh đề phức hợp.

КОГДА ПРИДЕТ ЗИМА, Я БУДУ КАТАТЬСЯ НА ЛЫЖАХ. Khi mùa đông đến, tôi sẽ đi trượt tuyết.

Phần chính của mệnh đề này – Я БУДУ КАТАТЬСЯ НА ЛЫЖАХ, còn phần phụ chỉ rõ khung thời gian – КОГДА ПРИДЕТ ЗИМА. Nó trả lời cho câu hỏi: когда? Và gắn kết với phần chính của mệnh đề bằng liên từ КОГДА.

Loại tiếp theo của câu phụ mà chúng ta cũng đã nói tới, là câu phụ nguyên nhân, cho thấy nguyên nhân của hành động hoặc tình trạng được thể hiện trong phần chính của mệnh đề phức hợp.

Я ПОДАРЮ НИНЕ НОВЫЙ ДИСК, ПОТОМУ ЧТО ОНА ОЧЕНЬ ЛЮБИТ МУЗЫКУ. Tôi tặng Nina chiếc đĩa CD mới, vì cô ấy rất yêu âm nhạc.

Ở đây câu chính là – Я ПОДАРЮ НИНЕ НОВЫЙ ДИСК, còn câu phụ là – ПОТОМУ ЧТО ОНА ОЧЕНЬ ЛЮБИТ МУЗЫКУ.

Câu phụ nguyên nhân trả lời cho câu hỏi почему? Và gắn kết với phần chính bằng liên từ ПОТОМУ ЧТО.

Dạng câu phụ cuối cùng mà chúng ta đã xem xét trong bài trước, là câu phụ chỉ điều kiện, biểu thị điều kiện của hành động nêu ra trong mệnh đề chính.

ЕСЛИ Я ПОЛУЧУ ВИЗУ, Я ЧЕРЕЗ МЕСЯЦ ПОЛЕЧУ ВО ФРАНЦИЮ. Nếu tôi nhận được visa, (thì) sau một tháng nữa tôi sẽ bay sang Pháp.

Ở đây câu chính là – Я ЧЕРЕЗ МЕСЯЦ ПОЛЕЧУ ВО ФРАНЦИЮ, còn câu phụ là – ЕСЛИ Я ПОЛУЧУ ВИЗУ. Nó trả lời cho câu hỏi при каком условии? Và gắn kết bằng liên từ ЕСЛИ.

Bây giờ chúng tôi giới thiệu một dạng khác của mệnh đề phụ thuộc. Đó là câu mục đích, biểu thị mục đích của hành động nêu ra trong mệnh đề chính.

Я ПОМОГ СВОЕМУ ДРУГУ АНДРЕЮ, ЧТОБЫ ОН ХОРОШО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Tôi đã giúp đỡ bạn Andrei của mình để anh ấy trả thi tốt.

Xin thêm thí dụ nữa về câu phụ chỉ mục đích.

МИНЬ ПОШЕЛ В АПТЕКУ, ЧТОБЫ КУПИТЬ ЛЕКАРСТВО ДЛЯ МАТЕРИ. Minh đến hiệu thuốc để mua thuốc cho mẹ.

Còn bây giờ mời các bạn nghe đọan hội thoại, trong đó sử dụng tất cả các dạng câu phụ mà chúng ta đã nhắc tới.

ПРИВЕТ, АНТОН! – ПРИВЕТ, ЗУНГ! – КАК ДЕЛА? – НОРМАЛЬНО. – КОГДА МЫ ВИДЕЛИСЬ ТРИ МЕСЯЦА НАЗАД, ТЫ ХОТЕЛ УЧИТЬ ВЬЕТНАМСКИЙ ЯЗЫК. УЖЕ НАЧАЛ? – ДА. Я ХОЧУ ЕГО ЗНАТЬ, ПОТОМУ ЧТО ЗАНИМАЮСЬ ВЬЕТНАМСКОЙ БОРЬБОЙ. – ЧТОБЫ ХОРОШО ЗНАТЬ ВЬЕТНАМСКИЙ ЯЗЫК, НАДО МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ. Я МОГУ ТЕБЕ ПОМОЧЬ. – СПАСИБО. ЕСЛИ ДЕЛА ПОЙДУТ ХОРОШО, ЛЕТОМ Я ПОЛЕЧУ ВО ВЬЕТНАМ.

Anton à, chào cậu! – Chào Dũng! – Công việc thế nào? – Bình thường. – Khi chúng mình gặp nhau ba tháng trước, cậu muốn học tiếng Việt. Bắt đầu rồi hả? – Ừ. Tớ muốn biết tiếng Việt, vì tớ đang tập võ Việt Nam. – Để (biết tốt) thạo tiếng Việt, cần học nhiều. Tớ sẽ giúp cậu. – Cảm ơn. Nếu mọi chuyện ổn thỏa, mùa hè tớ sẽ bay sang Việt Nam.

Các bạn hãy tìm trong đọan hội thoại này những câu phụ chỉ thời gian, nguyên nhân, điều kiện và mục đích. Ngoài ra các bạn hãy tự nghĩ những đoạn hội thoại hay chuyện kể có sử dụng những mệnh đề như vậy.

Vẫn như mọi khi, tham khảo trang web của Đài “Tiếng nói nước Nga” sẽ giúp bạn trong việc học tiếng Nga.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 46

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Đã sang tháng 12 – tháng cuối cùng của năm và cũng là tháng đầu tiên của mùa đông Nga. Thông thường ở Nga tháng 12 thời tiết rất lạnh và khắp nơi phủ tuyết trắng xóa. Những tòa nhà bắt đầu được trang trí bằng dây kim tuyến lóng lánh, những tràng bóng bay kết hình, đèn lồng chăng ngang các phố còn bên lối ra vào và trên giá các cửa hàng bày cây thông xanh tô điểm lộng lẫy. Cảm thấy rất rõ đang gần đến một ngày hội yêu thích nhất của người Nga là ngày lễ Năm mới. Tania, sắp tới là năm gì vậy?

ДВЕ ТЫСЯЧИ ТРИНАДЦАТЫЙ. Năm 2013.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về cách biểu đạt ngày tháng trong tiếng Nga. Trước ngưỡng cửa một năm mới, người ta luôn nhớ lại những sự kiện vui mừng và buồn đau của những năm đã qua. Thiên niên kỷ mới đã bắt đầu, một phần cuộc đời của chúng ta đã trôi qua trong thiên niên kỷ cũ, khi mà tất cả các năm đều bắt đầu với từ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ – một nghìn chín trăm…

ВЕЛИКАЯ ОТЕЧЕСТВЕННАЯ ВОЙНА НАЧАЛАСЬ В ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК ПЕРВОМ ГОДУ, А ЗАКОНЧИЛАСЬ ДЕВЯТОГО МАЯ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК ПЯТОГО ГОДА. Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bắt đầu vào năm 1941, kết thúc vào (ngày) 9 tháng 5 năm 1945.

12 АПРЕЛЯ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ ШЕСТЬДЕСЯТ ПЕРВОГО ГОДА ЧЕЛОВЕК ВПЕРВЫЕ ПОЛЕТЕЛ В КОСМОС. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ОДИННАДЦАТОМ ГОДУ МИР ОТМЕТИЛ ПОЛВЕКА НАЧАЛА КОСМИЧЕСКОЙ ЭРЫ.

(Ngày) 12 tháng 4 năm 1961 con người đầu tiên đã bay vào vũ trụ. Trong năm 2011 thế giới đã kỷ niệm nửa thế kỷ bắt đầu kỷ nguyên vũ trụ

Tania, nhà thơ yêu thích nhất của chị là ai?

АЛЕКСАНДР СЕРГЕЕВИЧ ПУШКИН.

Ông sinh ra khi nào?

ПУШКИН РОДИЛСЯ ШЕСТОГО ИЮНЯ ТЫСЯЧА СЕМЬСОТ ДЕВЯНОСТО ДЕВЯТОГО ГОДА.

Pushkin sinh (ngày) 6 tháng 6 năm 1799.

Như vậy, tất cả các năm của thiên niên kỷ vừa qua bắt đầu với từ ТЫСЯЧА, còn năm cuối cùng của thiên niên kỷ gọi là ДВУХТЫСЯЧНЫЙ. Chị nhớ không, Tania, tưởng chừng như cách đây chưa lâu chúng ta đón năm này, và quan niệm của mọi người không đồng nhất với nhau: một số người coi năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai, còn những người khác gọi nó là năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba. Và thế là đã trôi qua 12 năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới. Nhân đây cũng xin nói thêm, chỉ trong 12 năm vừa qua đã có những kết hợp thú vị của các con số chỉ ngày tháng năm như 01.01.01 – ПЕРВОЕ ЯНВАРЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ ПЕРВОГО ГОДА, 07.07.07 – СЕДЬМОЕ ИЮЛЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ СЕДЬМОГО ГОДА hoặc là 12.12.12 – ДВЕНАДЦАТОЕ ДЕКАБРЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ ДВЕНАДЦАТОГО ГОДА.

Xin các bạn lưu ý, tất cả các chữ số là số thứ tự đều ở giống trung.

Và chúng biến đổi như sau:

ПЕРВОГО СЕНТЯБРЯ НАЧИНАЕТСЯ УЧЕБНЫЙ ГОД. (Ngày) 1 tháng 9 bắt đầu năm học mới.

Nếu nói về ngày tháng diễn ra sự kiện nào đó, vĩ tố của từ cuối cùng bao giờ cũng là -ОГО.

Nếu nói về việc, đến ngày tháng nào sẽ thực hiện hành động nào đó, thì vĩ tố của từ cuối sẽ là -ОМУ.

Я ДОЛЖЕН НАПИСАТЬ ДИПЛОМНУЮ РАБОТУ К ПЯТОМУ МАЯ. Đến (ngày) 5 tháng 5 tôi cần viết xong luận văn

Các bạn hãy thử viết tiểu sử tóm tắt của mình với những từ chỉ ngày tháng năm. Thí dụ:

ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН. ОН РОДИЛСЯ В МОСКВЕ 7 АВГУСТА ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ ДЕВЯНОСТОГО ГОДА. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ВОСЬМОМ ГОДУ АНТОН ОКОНЧИЛ ШКОЛУ И ПОШЕЛ СЛУЖИТЬ В АРМИЮ. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ДЕВЯТОМ ГОДУ ОН ВЕРНУЛСЯ ИЗ АРМИИ И ПОСТУПИЛ В МОСКОВСКИЙ ГОРНЫЙ ИНСТИТУТ. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ЧЕТЫРНАДЦАТОМ ГОДУ АНТОН ОКОНЧИТ ИНСТИТУТ. ОН ХОЧЕТ СТАТЬ ГЕОЛОГОМ. Đây là anh bạn Anton của tôi. Anh ấy sinh tại Matxcơva vào ngày 7 tháng 8 năm 1990. Năm 2008, Anton tốt nghiệp phổ thông trung học và nhập ngũ phục vụ trong quân đội. Năm 2009, anh từ quân đội trở về và nhập (học) vào Đại học Mỏ Matxcơva. Năm 2014 Anton sẽ tốt nghiệp đại học. Anh ấy muốn trở thành nhà địa chất.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 47

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Bài học hôm nay của chúng tôi phát sóng vào khỏang thời gian tuyệt vời và kỳ diệu nhất trong năm: Khoảng thời gian của Năm mới và lễ Giáng sinh. Đó là khỏang thời gian khi tất cả hy vọng vào tương lai tốt đẹp hơn và mong đợi điều kỳ diệu sẽ đến. Người Nga có câu rằng, nếu tin vào điều kỳ diệu, thì nhất định điều kỳ diệu sẽ đến. Bài học hôm nay của chúng ta sẽ xoay quanh đề tài này.

РОМАН УЧИЛСЯ НА ЧЕТВЕРТОМ КУРСЕ ХУДОЖЕСТВЕННОГО ИНСТИТУТА. ОН МЕЧТАЛ СТАТЬ ИЗВЕСТНЫМ ХУДОЖНИКОМ. У НЕГО БЫЛО МНОГО ДРУЗЕЙ И ПОДРУГ, НО ЛЮБИМОЙ ДЕВУШКИ НЕ БЫЛО. Roman học năm thứ tư trường Đại học Nghệ thuật. Anh ấy từng mơ ước trở thành một họa sĩ nổi tiếng. Anh ấy có nhiều bạn bè cả bạn trai và bạn gái, nhưng chưa có người yêu.

ОДНАЖДЫ РОМАНУ ПРИСНИЛСЯ УДИВИТЕЛЬНЫЙ СОН. ОН УВИДЕЛ ПРЕКРАСНОЕ ЛИЦО ДЕВУШКИ. У НЕЕ БЫЛИ БОЛЬШИЕ ЗЕЛЕНЫЕ ГЛАЗА, МИЛАЯ УЛЫБКА И ДЛИННЫЕ ЗОЛОТИСТЫЕ ВОЛОСЫ. УТРОМ РОМАН ВЗЯЛ БОЛЬШОЙ ЛИСТ БУМАГИ И НАРИСОВАЛ ЭТО ЛИЦО. Một lần (một hôm) Roman có một giấc mơ đáng ngạc nhiên (lạ thường). Anh nhìn thấy khuôn mặt tuyệt đẹp của một cô gái. Cô ấy có đôi mắt to xanh biếc, nụ cười khả ái và mái tóc dài óng vàng. Buổi sáng Roman lấy một tờ giấy lớn và vẽ lại khuôn mặt này.

ПРОШЕЛ МЕСЯЦ, НО РОМАН НЕ МОГ ЗАБЫТЬ СВОЙ СОН. ЕМУ БЫЛО ГРУСТНО. МОРОЗНЫМ ЗИМНИМ ВЕЧЕРОМ РОМАН ПОШЕЛ В ПАРК, ЧТОБЫ ПОКАТАТЬСЯ НА КОНЬКАХ. НА КАТКЕ БЫЛО МНОГО МОЛОДЕЖИ. ВДРУГ РОМАН УВИДЕЛ ДЕВУШКУ, ОЧЕНЬ ПОХОЖУЮ НА ТУ, КОТОРУЮ ОН УВИДЕЛ ВО СНЕ. РОМАН ПОСПЕШИЛ ЗА НЕЙ, НО ДЕВУШКА ИСЧЕЗЛА. ВЕСЬ ВЕЧЕР РОМАН ИСКАЛ ЕЕ, НО НАЙТИ НЕ СМОГ. Một tháng trôi qua, nhưng Roman không thể quên giấc mơ của mình. Anh thấy buồn. Buổi chiều mùa đông băng giá Roman ra công viên để trượt băng. Trên sân băng rất đông bạn trẻ. Bỗng nhiên Roman nhìn thấy một cô gái, rất giống với người mà anh đã gặp trong mơ. Roman vội vàng đi theo cô ấy, nhưng cô gái đã biến mất. Cả buổi chiều Roman tìm cô, nhưng không sao thấy được.

РОМАН ПОМОЛЧАЛ СЕКУНДУ. “ВЫ ВОШЛИ В МОЮ ЖИЗНЬ ВО СНЕ. МНЕ БЫ ОЧЕНЬ ХОТЕЛОСЬ, ЧТОБЫ ЭТО БЫЛО НАЯВУ”, СКАЗАЛ ОН ЮЛЕ. РОЖДЕСТВО ОНИ ВСТРЕТИЛИ ВМЕСТЕ. Roman im lặng một giây. Rồi anh nói với Yulya: “Bạn đã bước vào cuộc đời tôi trong mơ. Tôi rất mong điều đó trở thành hiện thực”. Họ đã đón Giáng sinh bên nhau.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 48

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Trước hết xin mời các bạn theo dõi thí dụ:

ЭТО МОЙ ДРУГ. ОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. А ЭТО МОЯ ПОДРУГА. ОНА ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ. ОНО НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА. ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ. ОНИ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.

Đây là anh bạn (người bạn trai) của tôi. Anh ấy sống ở Matxcơva. Còn đây là cô bạn (người bạn gái) của tôi. Cô ấy sống ở ngoại ô Matxcơva. Vào các thứ Bảy, chúng tôi đến quán cà phê. Quán ở gần nhà tôi. Tại đó chúng tôi ăn bánh nướng. Những chiếc bánh khiến chúng tôi rất thích (Chúng tôi rất thích bánh).

Từ những câu đơn giản này có thể tạo thành câu phức hợp. Các bạn hãy xem tạo câu mới thế nào.

ЭТО МОЙ ДРУГ. ОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. Sẽ thành ЭТО МОЙ ДРУГ, КОТОРЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ.

Câu thứ hai gộp vào với câu thứ nhất, còn đại từ ОН được thay bằng liên từ КОТОРЫЙ. ОН – là đại từ giống đực, vì thế cả từ КОТОРЫЙ cũng sẽ là giống đực với kết thúc bằng -ЫЙ.

Câu phụ nghĩa là dấu hiệu xác định của người hoặc đối tượng trong câu thứ nhất.

ЭТО КАКОЙ МОЙ ДРУГ? – КОТОР ЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ.

Đó là người bạn nào của tôi? – Người bạn sống ở Matxcơva.

Chúng ta tiếp tục cấu tạo câu phức mới từ câu đơn:

Từ hai câu đơn: А ЭТО МОЯ ПОДРУГА. ОНА ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. Sẽ thành một câu phức: А ЭТО МОЯ ПОДРУГА, КОТОРАЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ.

Đại từ ОНА được thay bằng liên từ КОТОРАЯ. ОНА – là đại từ giống cái, vì thế cả từ КОТОРАЯ cũng ở dạng giống cái với vĩ tố -АЯ.

А ЭТО КАКАЯ МОЯ ПОДРУГА? – КОТОР АЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. Còn đây là cô bạn nào của tôi? – Cô bạn sống ở ngoại ô Matxcơva.

Hai câu đơn ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ. ОНО НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА – Sẽ tạo thành câu phức ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ, КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА.

Đại từ ОНО được thay thế bằng liên từ КОТОР ОЕ. ОНО là đại từ giống trung, vì thế cả từ КОТОРОЕ cũng sẽ ở giống trung với đuôi là -ОЕ.

В КАКОЕ КАФЕ МЫ ХОДИМ ПО СУББОТАМ? – КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА.

Vào thứ Bẩy chúng tôi đến quán cà phê nào? – Quán ở gần nhà tôi.

Tiếp theo, với các câu đơn giản: ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ. ОНИ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ – Chúng ta sẽ có câu phức như sau: ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ, КОТОР ЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.

Đại từ ОНИ được thay thế bằng liên từ КОТОРЫЕ. ОНИ là đại từ số nhiều dùng cho cả ba giống, vì vậy tương ứng, từ thay thế cũng ở số nhiều và có kết thúc là -ЫЕ.

КАКИЕ ПИРОЖНЫЕ МЫ ТАМ ЕДИМ? – КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.

Tại đó chúng tôi ăn bánh gì? – Bánh nướng mà chúng tôi rất thích.

ВЕЧЕРОМ МНЕ ПОЗВОНИЛИ СТАРЫЕ ДРУЗЬЯ, КОТОРЫЕ НЕДАВНО ВЕРНУЛИСЬ ИЗ ФРАНЦИИ.

КАКИЕ ДРУЗЬЯ? – КОТОРЫЕ НЕДАВНО ВЕРНУЛИСЬ ИЗ ФРАНЦИИ.

Buổi chiều tôi nhận điện thoại của các bạn cũ, những người từ Pháp trở về cách đây chưa lâu.

Những người bạn nào? – Những người từ Pháp trở về cách đây chưa lâu.

ПОЗНАКОМЬТЕСЬ! ЭТО МОЯ УЧИТЕЛЬНИЦА, КОТОРАЯ ПОСОВЕТОВАЛА МНЕ СТАТЬ МАТЕМАТИКОМ.

КАКАЯ УЧИТЕЛЬНИЦА? – КОТОРАЯ ПОСОВЕТОВАЛА МНЕ СТАТЬ МАТЕМАТИКОМ.

Cô giáo nào? – Người đã khuyên tôi trở thành nhà Tóan học.

Я ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ ЭТО ЗДАНИЕ, КОТОРОЕ ПОСТРОИЛ ЗНАМЕНИТЫЙ РУССКИЙ АРХИТЕКТОР.

КАКОЕ ЗДАНИЕ? – КОТОРОЕ ПОСТРОИЛ ЗНАМЕНИТЫЙ РУССКИЙ АРХИТЕКТОР.

Tôi rất yêu tòa nhà này, đã được kiến trúc sư Nga nổi tiếng xây dựng.

Tòa nhà nào? – Tòa nhà đã được kiến trúc sư Nga nổi tiếng xây dựng.

Các bạn thân mến, đề nghị các bạn tập luyện thêm, tự đặt câu phức hợp với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.

Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 49

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Đây là anh bạn (người bạn trai) của tôi, người sống ở Matxcơva. Còn đây là cô bạn (người bạn gái) của tôi, người sống ở ngoại ô Matxcơva. Vào các thứ Bảy, chúng tôi đến quán cà phê, ở gần nhà tôi. Tại đó chúng tôi ăn bánh nướng, loại bánh mà chúng tôi rất thích.

Trong bài hôm nay chúng ta sẽ xem xét những dạng nhiệm vụ phức tạp hơn. Liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ sẽ ở sinh cách – cách 2.

Mời các bạn theo dõi thí dụ:

ЭТО МОЙ БРАТ. У МОЕГО БРАТА БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. – ЭТО МОЙ БРАТ, У КОТОР ОГО БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. Đây là anh trai tôi. Anh trai tôi có một gia đình lớn. – Đây là anh trai tôi, người có một gia đình lớn.

Liên từ КОТОРЫЙ đứng trong mệnh đề ở cách 2 và có đuôi là -ОГО.

Xin nhắc rằng vĩ tố -ОГО trong tính từ và đại từ của tiếng Nga khi phát âm sẽ là -ОВО.

Xin lưu ý các bạn lần nữa về cấu trúc sở hữu trong tiếng Nga. Khác với phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới, trong tiếng Nga mà nói Я ИМЕЮ hoặc Я НЕ ИМЕЮ là không chuẩn. Biểu đạt sở hữu bằng tiếng Nga cần nói là У МЕНЯ ЕСТЬ hoặc У МЕНЯ НЕТ. Trong trường hợp này danh từ, đại từ, liên từ biểu thị một người hay một vật sở hữu cái gì đó, luôn luôn đứng ở cách 2. Ta trở lại với thí dụ trên:

Cũng sẽ có vĩ tố như vậy đối với liên từ giống trung КОТОРОЕ.

ДЕВУШКА СИДИТ У ОКНА. ИЗ ОКНА ВИДНО МОРЕ. – ДЕВУШКА СИДИТ У ОКНА, ИЗ КОТОР ОГО ВИДНО МОРЕ. Cô gái ngồi bên cửa sổ. Từ cửa sổ biển thấy rõ. – Cô gái ngồi bên cửa sổ, mà từ đó biển thấy rõ.

Còn bây giờ mời các bạn nghe thí dụ với liên từ giống cái КОТОРАЯ.

Ở đây liên từ КОТОРАЯ đứng ở cách 2 và có đuôi -ОЙ. Xin nhắc, trong mệnh đề phủ định thì danh từ, đại từ, liên từ chỉ sự thiếu vắng người hay vật nào đó, luôn để ở cách 2.

Và cuối cùng là thí dụ với liên từ số nhiều КОТОРЫЕ.

ВОТ ФОТОГРАФИЯ МОИХ ДРУЗЕЙ. Я ПОЛУЧИЛ ОТ НИХ ВЧЕРА ПИСЬМО. – ВОТ ФОТОГРАФИЯ МОИХ ДРУЗЕЙ, ОТ КОТОР ЫХ Я ПОЛУЧИЛ ВЧЕРА ПИСЬМО. Đây là ảnh của các bạn tôi. Hôm qua tôi đã nhận được thư (của, từ) các bạn. – Đây là ảnh của các bạn tôi, những người mà chiều qua tôi nhận được thư.

Ở đây liên từ КОТОРЫЕ đứng ở cách 2 và có đuôi là -ЫХ.

АНТОН ХОДИЛ В КИНО С ДРУГОМ. У ДРУГА БЫЛ ЛИШНИЙ БИЛЕТ. – АНТОН ХОДИЛ В КИНО С ДРУГОМ, У КОТОРОГО БЫЛ ЛИШНИЙ БИЛЕТ. Anton đi xem phim với bạn. Anh bạn có vé thừa. – Anton đi xem với bạn, người có vé thừa.

Я ХОЧУ ПОЗДРАВИТЬ СВОЮ ПОДРУГУ. У НЕЕ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. – Я ХОЧУ ПОЗДРАВИТЬ СВОЮ ПОДРУГУ, У КОТОРОЙ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Tôi muốn chúc mừng bạn gái của mình. Hôm nay là ngày sinh nhật của cô ấy. – Tôi muốn chúc mừng bạn gái của mình, người mà hôm nay là ngày sinh nhật.

Я УВИДЕЛ В КАФЕ СТУДЕНТОВ. ИХ НЕ БЫЛО СЕГОДНЯ В ИНСТИТУТЕ. – Я УВИДЕЛ В КАФЕ СТУДЕНТОВ, КОТОРЫХ НЕ БЫЛО СЕГОДНЯ В ИНСТИТУТЕ. Tôi nhìn thấy các sinh viên trong quán cà phê. Hôm nay họ không có mặt ở trường đại học. – Tôi nhìn thấy các sinh viên trong quán cà phê, những người hôm nay không có mặt ở trường đại học.

Các bạn thân mến, đề nghị các bạn tập luyện thêm, tự đặt câu phức hợp với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ ở cách 2.

Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 50

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Tania, chị đang nghĩ gì vậy?

Я ДУМАЮ О СВОЕЙ ПОДРУГЕ, У КОТОРОЙ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Tôi nghĩ về cô bạn, có sinh nhật vào hôm nay.

Hôm nay chúng ta sẽ làm quen với một đại từ, không có tương tự trong các ngôn ngữ châu Âu. Đó là đại từ СВОЙ. Nó chỉ những vật hay hiện tượng thuộc về người nào đó, và cần đến khi mô tả hành động diễn ra với người đó. Thí dụ:

АННА ЗАБОТИТСЯ О СВОЕМ ЗДОРОВЬЕ. Anna chăm lo (quan tâm) về sức khỏe của mình. Sức khỏe của ai? Cô ấy làm gì? Chăm lo (quan tâm).

ПОДУМАЙ О СВОЕЙ УЧЕБЕ! Hãy nghĩ về chuyện học tập của mình! Chuyện học tập của ai? Bạn cần làm gì? Hãy nghĩ về học tập.

У МОЕГО ДРУГА ДВЕ СОБАКИ. ОН ЧАСТО РАССКАЗЫВАЕТ МНЕ О СВОИХ ПИТОМЦАХ. Bạn tôi có hai con chó. Anh ấy thường kể với tôi về những con vật nuôi của mình. Chó của ai? Của anh bạn tôi. Anh ấy làm gì? Kể về những con vật nuôi.

Đại từ СВОЙ thống nhất về giống và số với danh từ mà nó đi kèm.

СВОЙ ДОМ – là giống đực số ít, СВОЯ СЕСТРА – giống cái số ít, СВОЕ МЕСТО – giống trung số ít, СВОИ ЗАНЯТИЯ – số nhiều.

Để hiểu rõ hơn về đặc điểm của đại từ СВОЙ, chúng ta sẽ nghe đoạn văn ngắn.

МОЯ БАБУШКА – ОЧЕНЬ ИНТЕРЕСНЫЙ ЧЕЛОВЕК. ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ. Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЕ ЖИЗНИ. Я МЕЧТАЮ НАПИСАТЬ КНИГУ О СВОЕЙ БАБУШКЕ. Bà tôi là con người rất thú vị. Bà hay hồi tưởng về thời tuổi trẻ của mình. Tôi thích nghe những câu chuyện về cuộc đời của bà. Tôi mơ ước viết cuốn sách về người bà của mình.

Chúng ta sẽ so sánh hai mệnh đề.

ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ. Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЁ ЖИЗНИ.

Trong cả hai mệnh đề đều có đại từ giống cái số ít trong câu giới từ:

О СВОЕЙ và О ЕЁ. Vậy có gì khác nhau ở đây? Điều bí mật ẩn chứa trong đối tượng của hành động. Trong mệnh đề ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ thì đối tượng hành động ОНА, tức là bà, nhớ lại về thời thanh xuân thuộc về bà. Vì thế ở đây cần dùng đại từ СВОЕЙ. Còn trong mệnh đề

Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЕ ЖИЗНИ thì đối tượng hành động là Я, tức là cậu bé nghe chuyện kể về cuộc đời bà, cuộc đời không thuộc về cậu bé này, vì thế cần dùng đại từ ЕЁ.

Bây giờ thêm một đọan ngắn nữa có sử dụng đại từ СВОЙ.

Я НЕ ЛЮБЛЮ ПИСАТЬ ПИСЬМА. ПОЭТОМУ Я ЧАСТО ЗВОНЮ ДОМОЙ И РАССКАЗЫВАЮ О СВОЕЙ ЖИЗНИ В МОСКВЕ, О СВОИХ УСПЕХАХ В УЧЕБЕ, О СВОЕМ НОВОМ ДРУГЕ. КОГДА Я ГОВОРЮ С МАМОЙ, Я УЗНАЮ НОВОСТИ О СВОЕЙ СЕМЬЕ: О СВОЕМ ОТЦЕ И СВОЕЙ МЛАДШЕЙ СЕСТРЕ. МАМА РАССКАЗЫВАЕТ МНЕ О СВОЕЙ РАБОТЕ. Tôi không thích viết thư. Vì thế tôi thường gọi điện về nhà và kể về cuộc sống của mình ở Matxcơva, về những thành tích của mình trong học tập, về người bạn mới của mình. Khi tôi nói chuyện với mẹ, tôi được biết tin mới về gia đình của mình: về cha của tôi và em gái út của tôi. Mẹ kể cho tôi về công việc của mẹ.

Các bạn hãy phân tích câu chuyện nhỏ này và lý giải xem vì sao trong bài cần dùng đại từ СВОЙ ở giống và số khác nhau.

Bài học hôm nay đến đây tạm dừng.

Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 51

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Các bạn đã biết mệnh đề phức hợp cấu tạo như thế nào, những liên từ này đứng ở đâu trong cách 1 và cách 2. Nào, ta hãy ôn lại một chút.

Ở đây có các liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ đứng ở cách 1 (nguyên cách).

Ở đây có các liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ đứng ở cách 2 (sinh cách).

Còn bây giờ chúng ta sẽ làm quen với những mệnh đề có liên từ đứng ở cách 6 (giới cách).

ЭТО ИНСТИТУТ. В ЭТ ОМ ИНСТИТУТЕ УЧАТСЯ МОИ ДРУЗЬЯ. Đây là trường đại học. Сáс bạn tôi đang theo học trong trường đại học này.

– ЭТО ИНСТИТУТ, В КОТОР ОМ УЧАТСЯ МОИ ДРУЗЬЯ.

Đây là trường đại học, nơi các bạn tôi đang theo học.

Trong mệnh đề cách 6 tính từ và đại từ chỉ định giống đực số ít có tận cùng là -ОМ, có nghĩa là giới từ КОТОРЫЙ cũng cần có tận cùng tương ứng như vậy.

А ЭТО МОЯ ШКОЛА. В ЭТ ОЙ ШКОЛЕ Я УЧИЛАСЬ ДЕСЯТЬ ЛЕТ. Còn đây là trường phổ thông của tôi. Tôi đã học trong trường này mười năm.

– А ЭТО МОЯ ШКОЛА, В КОТОР ОЙ Я УЧИЛАСЬ ДЕСЯТЬ ЛЕТ.

– Còn đây là trường phổ thông của tôi, nơi tôi đã học mười năm.

Trong mệnh đề cách 6, giống như ở cách 2, tính từ và đại từ chỉ định giống cái số ít có tận cùng là -ОЙ. Tức là cả liên từ КОТОРАЯ cũng phải có tận cùng như vậy.

ВОТ МАЛЕНЬКОЕ УЮТНОЕ КАФЕ. В ЭТ ОМ КАФЕ МЫ С ДРУЗЬЯМИ ЧАСТО ПЬЕМ КОФЕ. Đó là quán cà phê nhỏ tiện lợi (ấm cúng). Chúng tôi cùng bạn bè thường uống cà phê trong quán này.

– ВОТ МАЛЕНЬКОЕ УЮТНОЕ КАФЕ, В КОТОР ОМ МЫ С ДРУЗЬЯМИ ЧАСТО ПЬЕМ КОФЕ.

Đó là quán cà phê nhỏ tiện lợi (ấm cúng), nơi chúng tôi cùng bạn bè thường uống cà phê.

Trong mệnh đề cách 6 tính từ và đại từ chỉ định giống trung số ít có tận cùng là -ОМ, có nghĩa là liên từ КОТОРОЕ cũng có tận cùng như vậy.

Chúng ta hãy xem một thí dụ nữa:

– ПОЗНАКОМЬСЯ! ЭТО МОИ ДРУЗЬЯ АНТОН И САША, О КОТОР ЫХ Я МНОГО ТЕБЕ РАССКАЗЫВАЛА.

Trong mệnh đề cách 6, cùng giống như trong cách 2, các liên từ số nhiều КОТОРЫЕ có tận cùng là -ЫХ.

Xin mời các bạn nghe thêm câu chuyện nhỏ, trong đó sử dụng mệnh đề với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ ở các cách khác nhau.

ВЧЕРА Я ПОСМОТРЕЛА ТЕЛЕПЕРЕДАЧУ, КОТОРАЯ МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛАСЬ. В НЕЙ ВЫСТУПАЛ ЮНОША, КОТОРЫЙ НАПИСАЛ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ. ОНА ОПИСЫВАЕТ ЯВЛЕНИЕ, О КОТОРОМ МНОГО ГОВОРЯТ. ЭТО ЯВЛЕНИЕ – ПАДЕНИЕ МЕТЕОРИТОВ. АВТОР РАССКАЗАЛ МНОГО СЛУЧАЕВ, КОТОРЫХ НИКТО НЕ ЗНАЛ. В СТУДИИ БЫЛО МНОГО ЛЮДЕЙ. АВТОР ВСЕМ ПОДАРИЛ СВОЮ КНИГУ, НА КОТОРОЙ ОСТАВИЛ СВОЙ АВТОГРАФ.

Hôm qua tôi xem chương trình truyền hình mà tôi rất thích. Trong đó (chương trình) có phát biểu của chàng trai trẻ, người đã viết một cuốn sách thú vị. Cuốn sách mô tả những hiện tượng, mà mọi người đang nói đến nhiều. Đó là hiện tượng thiên thạch rơi (sao băng). Tác giả kể về nhiều trường hợp mà chưa ai được biết. Trong trường quay có đông người dự. Tác giả tặng cho tất cả những cuốn sách của anh, trong đó anh đã ghi thủ bút.

Các bạn thân mến, đề nghị các bạn phân tích đoạn văn này, xác định xem các liên từ trong câu đứng ở cách nào.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 52

© The Voice of Russia

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Các bạn đã biết đặt câu như thế nào, những liên từ có biến đổi đuôi ra sao khi đứng trong câu cách 1, cách 2 và cách 6. Hôm nay chúng ta sẽ xem, mệnh đề với liên từ ở cách 3 và cách 4 sẽ cấu tạo ra sao.

Trong cách 3 (tặng cách) từ giống đực КОТОРЫЙ và giống trung КОТОРОЕ có phần kết thúc giống nhau là – ОМУ.

ЭТО НАШ СТАРЕЙШИЙ ИНСТИТУТ. ЕМУ ИСПОЛНИЛОСЬ СТО ПЯТЬДЕСЯТ ЛЕТ. – ЭТО НАШ СТАРЕЙШИЙ ИНСТИТУТ, КОТОР ОМУ ИСПОЛНИЛОСЬ СТО ПЯТЬДЕСЯТ ЛЕТ. Đây là trường đại học cao niên nhất của chúng ta. Trường đã tròn 150 năm tuổi. – Đây là trường đại học cao niên nhất của chúng ta, đã tròn 150 năm tuổi.

ЭТО САМОЕ КРАСИВОЕ ОЗЕРО В НАШЕМ РАЙОНЕ. К НЕМУ КАЖДЫЙ ДЕНЬ ПРИХОДЯТ СОТНИ ЛЮДЕЙ. – ЭТО САМОЕ КРАСИВОЕ ОЗЕРО В НАШЕМ РАЙОНЕ, К КОТОР ОМУ КАЖДЫЙ ДЕНЬ ПРИХОДЯТ СОТНИ ЛЮДЕЙ. Đây là chiếc hồ nước đẹp nhất trong khu vực của chúng tôi. mỗi ngày đều có hàng trăm người tới thăm. – Đây là chiếc hồ nước đẹp nhất trong khu vực của chúng tôi, mỗi ngày đều có hàng trăm người tới thăm.

Còn sau đây là thí dụ mệnh đề với liên từ giống cái КОТОРАЯ và số nhiều КОТОРЫЕ ở cách 3.

Я ВСТРЕТИЛА НА УЛИЦЕ СВОЮ ПОДРУГУ. Я ЗВОНИЛА ЭТОЙ ПОДРУГЕ ВСЕГО ЧАС НАЗАД. – Я ВСТРЕТИЛА НА УЛИЦЕ СВОЮ ПОДРУГУ, КОТОР ОЙ Я ЗВОНИЛА ВСЕГО ЧАС НАЗАД. Tôi đã gặp bạn gái của mình trên phố. Chỉ một giờ trước tôi đã gọi điện cho người bạn này. – Tôi đã gặp trên phố người bạn gái mà tôi vừa gọi điện trước đó một giờ .

В ТЕЛЕПЕРЕДАЧЕ ПОКАЗЫВАЛИ ПЯТЕРЫХ БРАТЬЕВ-БЛИЗНЕЦОВ. ИМ НЕДАВНО ПОДАРИЛИ КВАРТИРУ. – В ТЕЛЕПЕРЕДАЧЕ ПОКАЗЫВАЛИ ПЯТЕРЫХ БРАТЬЕВ-БЛИЗНЕЦОВ, КОТОР ЫМ НЕДАВНО ПОДАРИЛИ КВАРТИРУ. Trên truyền hình chiếu những anh chị em sinh 5. Cách đây chưa lâu (người ta) đã tặng cho họ căn hộ.- Trên truyền hình chiếu cảnh những anh chị em sinh 5, những người cách đây chưa lâu được tặng căn hộ.

Trong mệnh đề cách 4 (đối cách), dành cho liên từ КОТОРЫЙ sẽ có hai phương án, tùy thuộc ở việc đó là câu nói về động vật hay bất động vật.

В АУДИТОРИЮ ВОШЕЛ ПРЕПОДАВАТЕЛЬ. ЭТОГО ПРЕПОДАВАТЕЛЯ МЫ ВСЕ ЛЮБИМ. – В АУДИТОРИЮ ВОШЕЛ ПРЕПОДАВАТЕЛЬ, КОТОР ОГО МЫ ВСЕ ЛЮБИМ. Giảng viên bước vào giảng đường. Giảng viên này được tất cả chúng tôi yêu mến. – Bước vào giảng đường là giảng viên mà tất cả chúng tôi đều yêu mến.

АНТОН ЕЗДИТ НА АВТОМОБИЛЕ. ЭТОТ АВТОМОБИЛЬ ЕМУ ПОДАРИЛИ РОДИТЕЛИ. – АНТОН ЕЗДИТ НА АВТОМОБИЛЕ, КОТОР ЫЙ ЕМУ ПОДАРИЛИ РОДИТЕЛИ. Anton đi trên xe ô tô. Chiếc ô tô này là bố mẹ tặng anh ấy. – Anton đi trên chiếc xe ô tô mà bố mẹ đã tặng anh ấy.

ПРЕПОДАВАТЕЛЬ – là danh từ động vật cho nên liên từ thay thế sẽ có phần kết là -ОГО. Còn АВТОМОБИЛЬ – là danh từ bất động vật, do đó liên từ thay thế sẽ có tận cùng giống như trong câu cách 1 là -ЫЙ.

Bây giờ ta sẽ xem những mệnh đề phức hợp này sẽ như thế nào với liên từ giống cái КОТОРАЯ, giống trung КОТОРОЕ và số nhiều КОТОРЫЕ.

ВЧЕРА Я КУПИЛА КНИГУ. ЭТУ КНИГУ Я ДОЛГО ИСКАЛА. – ВЧЕРА Я КУПИЛА КНИГУ, КОТОР УЮ ДОЛГО ИСКАЛА. Hôm qua tôi đã mua cuốn sách. Cuốn sách này tôi đã kiếm từ lâu. – Hôm qua tôi đã mua cuốn sách mà tôi kiếm từ lâu.

В ЦЕНТРЕ ГОРОДА СТОИТ ЗДАНИЕ ТЕАТРА. ЭТО ЗДАНИЕ ПОСТРОИЛ ИЗВЕСТНЫЙ АРХИТЕКТОР. – В ЦЕНТРЕ ГОРОДА СТОИТ ЗДАНИЕ ТЕАТРА, КОТОР ОЕ ПОСТРОИЛ ИЗВЕСТНЫЙ АРХИТЕКТОР. Ở trung tâm thành phố có (tòa nhà) Nhà hát. Tòa nhà này do kiến trúc sư nổi tiếng xây dựng. – Ở trung tâm thành phố có (tòa nhà) Nhà hát, do kiến trúc sư nổi tiếng xây dựng.

МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛИСЬ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛЮДА. Я ПОПРОБОВАЛА ЭТИ БЛЮДА В ПЕРВЫЙ РАЗ. – МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛИСЬ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛЮДА, КОТОР ЫЕ Я ПОПРОБОВАЛА В ПЕРВЫЙ РАЗ.

Tôi rất thích các món ăn Việt Nam. Tôi đã nếm những món này lần đầu tiên. – Tôi rất thích các món ăn Việt Nam mà tôi nếm lần đầu tiên.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 53

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

***

ЗДРАВСТВУЙТЕ!

ДО СВИДАНЬЯ!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 54

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Trong những bài học gần đây chúng ta nghiên cứu mệnh đề với hai thành tố chủ ngữ và vị ngữ, biểu thị chủ thể hành động và bản thân hành động hoặc chất lượng, tính chất, vai trò của đối tượng.

АНТОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. Anton sống ở Matxcơva.

Кто? (chủ ngữ)- Антон. Что он делает? (hành động) – Живет.

ОН СТУДЕНТ УНИВЕРСИТЕТА. Anh ấy là sinh viên Đại học Tổng hợp.

Кто? (chủ ngữ) – Он. Anh ấy có vị trí nào trong phân loại xã hội-dân cư – Студент университета.

ВЬЕТНАМСКИЕ ПЕСНИ ОЧЕНЬ КРАСИВЫЕ. Những bài ca Việt Nam rất đẹp.

Что? (chủ ngữ) – Песни. Những bài ca có chất lượng như thế nào? – Очень красивые.

Nhưng trong tiếng Nga, trái với nhiều ngôn ngữ khác, phần lớn các mệnh đề chỉ có một thành phần chính, chủ ngữ hay vị ngữ. Những mệnh đề này được gọi là đơn thành phần. Hôm nay chúng ta sẽ phân tích về những câu như vậy.

Khi ta muốn chỉ ra sự tồn tại của một đối tượng hoặc hiện tượng, ta cần sử dụng câu với một chủ ngữ.

СЕРЫЙ ОСЕННИЙ ДЕНЬ. ХОЛОДНЫЙ МЕЛКИЙ ДОЖДЬ. Một ngày thu xám xịt. Mưa nhỏ lạnh lẽo.

Những mệnh đề như vậy thường được dùng trong thơ để tạo cảnh quan. Thí dụ, một bài thơ nổi tiếng của đại thi hào Nga Aleksandr Blok bắt đầu như sau:

НОЧЬ. УЛИЦА. ФОНАРЬ. АПТЕКА. Đêm. Đường phố. Đèn lồng. Hiệu thuốc.

Bằng những câu với một chủ ngữ là danh từ, nhà thơ đã vẽ nên trước mắt chúng ta bức tranh quãng phố không người của thành Petersburg.

Cũng thường thấy là trong tiếng Nga hay sử dụng câu với một vị ngữ. Thí dụ, mệnh đề nói về hành động hoặc tình trạng của người nói hoặc của người đối thoại. Vị ngữ trong những câu như thế là động từ chia ở ngôi thứ nhất hoặc thứ hai, số ít hoặc số nhiều.

Đó có thể là lời khẳng định, câu hỏi hoặc cảm thán.

Động từ chia theo dạng chỉ hành động của ngôi thứ nhất số ít.

Động từ là mệnh lệnh thức đi với ngôi thứ hai, số ít.

НАД КЕМ СМЕЕТЕСЬ? Cười ai thế?

Động từ đứng ở dạng phù hợp với ngôi thứ hai, số nhiều.

Khi đối với ta chủ ngữ là không quan trọng, mà phần quan trọng trong câu là hành động, thì ta dùng câu với vị ngữ thể hiện bằng động từ ngôi thứ ba số nhiều, thì hiện tại, quá khứ hoặc tương lai.

ПОЧТУ ОБЫЧНО ПРИНОСЯТ УТРОМ. (Người ta) thường mang thư đến vào buổi sáng.

Không quan trọng là ai mang thư, mà điều chính ở đây là hành động – mang thư đến. Vị ngữ là động từ chia ở ngôi thứ ba, số nhiều, thì hiện tại.

ЭТОТ МОСТ ПОСТРОИЛИ В ПРОШЛОМ ГОДУ. Cây cầu này xây xong năm ngoái.

Vị ngữ là động từ chia với ngôi thứ ba, số nhiều, thì quá khứ.

ВАМ ЗДЕСЬ ВСЕГДА БУДУТ РАДЫ! Ở đây luôn vui mừng (chào đón) bạn!

Vị ngữ trong câu này là động từ chia ở ngôi thứ ba, số nhiều, thì tương lai và tính từ ngắn đuôi.

Phương án phổ biến nhất kiểu này là những câu với từ ГОВОРЯТ, ГОВОРИЛИ.

ГОВОРЯТ, ЛЕТО БУДЕТ ЖАРКИМ. Nghe (Người ta) nói là mùa hè sẽ nóng nực.

Thường thấy dạng mệnh đề với một vị ngữ được dùng trong tục ngữ. Trong đó, động từ mặc dù được sử dụng trong hình thức ngôi thứ hai, số ít, nhưng lại có ý nghĩa tổng quát. Thí dụ.

БЕЗ ТРУДА НЕ ВЫНЕШЬ И РЫБКУ ИЗ ПРУДА. Không lao động thì chẳng mang cá từ ao lên được.

Ở đây động từ chia ở ngôi thứ hai số ít, nhưng lại không chỉ cụ thể người đang tham gia đối thoại, mà về tất cả mọi người nói chung và xa hơn còn muốn nói đến giá trị của lao động.

Bây giờ thêm một câu loại mệnh đề một vị ngữ là câu vô nhân xưng. Trong câu nói về hành động hay tình trạng, không phụ thuộc vào chủ thể nào. Vị ngữ có thể là động từ, tính từ ngắn đuôi hay chỉ là từ phủ định НЕТ. Thí dụ:

ВЕЧЕРЕЕТ. Chiều (buông) xuống.

Ở đây động từ ở dạng ngôi thứ ba, số ít, biểu thị tình trạng của thiên nhiên, không phụ thuộc vào ai đang nói.

МНЕ ХОЛОДНО И СТРАШНО. Tôi lạnh và sợ hãi.

Ở đây tình trạng của con người được thể hiện bằng hai tính từ ngắn đuôi.

БОЛЬШЕ АРБУЗА ЯГОДЫ НЕТ. Không có quả mọng nào lớn hơn dưa hấu.

Trong câu này, đảm nhận chức năng vị ngữ là từ НЕТ.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 55

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Đề tài bài học hôm nay của chúng ta là cách nói gián tiếp trong tiếng Nga.

АНТОН: ЗУНГ, КУДА ТЫ ИДЕШЬ? – ЗУНГ: Я ИДУ В СТОЛОВУЮ.

Anton: Dũng, cậu đi đâu đấy? – Dũng: Tớ đến nhà ăn.

Đây là cách nói trực tiếp, trong ngữ cảnh này có hai người tham gia.

АНТОН СПРОСИЛ У ЗУНГА, КУДА ОН ИДЕТ. ЗУНГ ОТВЕТИЛ, ЧТО ИДЕТ В СТОЛОВУЮ. Anton hỏi Dũng đang đi đâu. Dũng trả lời là đi đến nhà ăn.

Đây là cách nói gián tiếp. Người thứ ba thuật lại những gì mà hai thành viên của cuộc đối thoại nói với nhau.

ИРА: МАША, С КЕМ ТЫ ХОДИЛА В КИНО? – МАША: С ПОДРУГОЙ.

Ira: Masha, cậu đi xem phim với ai thế? – Masha: Đi với bạn gái.

ИРА СПРОСИЛА У МАШИ, С КЕМ ОНА ХОДИЛА В КИНО. МАША ОТВЕТИЛА, ЧТО ХОДИЛА С ПОДРУГОЙ.

Ira hỏi Masha đi xem phim với ai, Masha trả lời rằng đi với bạn gái.

СТУДЕНТЫ: КОГДА БУДЕТ ВАША СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ? – ПРЕПОДАВАТЕЛЬ: ПОСЛЕЗАВТРА.

Các sinh viên: Bao giờ lại có bài giảng tiếp theo của thầy ạ? – Giảng viên: Ngày kia.

СТУДЕНТЫ СПРОСИЛИ ПРЕПОДАВАТЕЛЯ, КОГДА БУДЕТ ЕГО СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ. ПРЕПОДАВАТЕЛЬ СКАЗАЛ, ЧТО ЛЕКЦИЯ БУДЕТ ПОСЛЕЗАВТРА.

Các sinh viên hỏi giảng viên, khi nào có bài giảng tiếp theo của thầy. Giảng viên trả lời rằng, ngày kia sẽ có.

Làm thế nào để chuyển đổi cách nói trực tiếp thành lời kể gián tiếp? Trong mệnh đề đầu tiên chủ ngữ là tên hoặc định danh của người nói, còn từ vị ngữ СПРОСИЛ ở dạng phù hợp về giống và số. Sau đó gọi tên hoặc định danh của người được hỏi trong cách 2 (sinh cách) và lặp lại câu hỏi. Trong câu hỏi, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai ТЫ hoặc ВЫ đổi thành đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, ОН, ОНА, ОНИ. Động từ trong câu cũng đổi, từ chỗ chia theo ngôi thứ hai sang dạng phù hợp với ngôi thứ ba.

ЗУНГ, КУДА ТЫ ИДЕШЬ? – АНТОН СПРОСИЛ У ЗУНГА, КУДА ОН ИДЕТ.

Dũng, cậu đi đâu đấy? – Anton hỏi Dũng là anh ấy đang đi đâu.

МАША, С КЕМ ТЫ ХОДИЛА В КИНО? – ИРА СПРОСИЛА У МАШИ, С КЕМ ОНА ХОДИЛА В КИНО.

Masha, cậu đi xem phim với ai thế? – Ira hỏi Masha cô ấy đi xem phim với ai.

КОГДА БУДЕТ ВАША СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ? – СТУДЕНТЫ СПРОСИЛИ У ПРЕПОДАВАТЕЛЯ, КОГДА БУДЕТ ЕГО СЛЕДУЮЩАЯ ЛЕКЦИЯ.

Bao giờ có bài giảng tiếp theo của thầy ạ? – Các sinh viên hỏi giảng viên khi nào lại có bài giảng tiếp theo của thầy.

Trong mệnh đề trả lời, cần dùng từ ОТВЕТИЛ được chia phù hợp với số và giống.

МАША ОТВЕТИЛА, ЧТО ХОДИЛА С ПОДРУГОЙ.

Masha trả lời rằng đi xem phim với bạn gái.

Còn thêm một phương án chuyển từ biểu đạt trực tiếp sang tường thuật gián tiếp gắn với động từ dạng mệnh lệnh thức. Dạng mệnh lệnh thức của động từ biểu thị yêu cầu, đề nghị hoặc mệnh lệnh, sai khiến. Động từ mệnh lệnh thức sử dụng phù hợp với số ít hay số nhiều ngôi thứ hai.

ПОГУЛЯЙ С СОБАКОЙ! ПОЖАЛУЙСТА, ЗАКРОЙТЕ ОКНО!

Hãy mang chó đi dạo! Làm ơn đóng cửa sổ vào!

Đây là thí dụ chuyển từ câu yêu cầu-đề nghị hay ra lệnh sang dạng gián tiếp.

РОДИТЕЛИ СКАЗАЛИ СЫНУ: “УЧИСЬ ХОРОШО!” – РОДИТЕЛИ СКАЗАЛИ СЫНУ, ЧТОБЫ ОН ХОРОШО УЧИЛСЯ.

Bố mẹ bảo cậu con trai: “Hãy học tốt!” – Bố mẹ bảo con trai để cậu ta học tập tốt.

АНТОН СКАЗАЛ СВОИМ ДРУЗЬЯМ: “НЕ СКУЧАЙТЕ!”- АНТОН СКАЗАЛ СВОИМ ДРУЗЬЯМ, ЧТОБЫ ОНИ НЕ СКУЧАЛИ.

Anton nói với các bạn của mình: “Đừng buồn!” – Anton nói với các bạn để họ đừng buồn.

Như các bạn thấy đấy, động từ dạng mệnh lệnh thức biến đổi trong câu phụ với liên từ ЧТОБЫ.

Còn một phương án nữa chuyển đổi câu mệnh lệnh thức với yêu cầu hoặc mệnh lệnh.

ПРЕКРАТИТЕ РАЗГОВАРИВАТЬ! – УЧИТЕЛЬ ВЕЛЕЛ УЧЕНИКАМ ПРЕКРАТИТЬ РАЗГОВАРИВАТЬ.

Hãy chấm dứt nói chuyện riêng! – Thầy giáo yêu cầu các học trò ngừng nói chuyện riêng.

Nếu động từ trong câu mệnh lệnh biểu thị mệnh lệnh, thì trong dạng gián tiếp cần dùng từ ВЕЛЕТЬ hoặc ПРИКАЗАТЬ chia theo giống và số của chủ ngữ, động từ tiếp theo để nguyên thể vô nhân xưng.

ПОЖАЛУЙСТА, ПОМОГИТЕ МНЕ НЕСТИ ЧЕМОДАН, ОН ОЧЕНЬ ТЯЖЕЛЫЙ. – МАША ПОПРОСИЛА ПОМОЧЬ ЕЙ НЕСТИ ТЯЖЕЛЫЙ ЧЕМОДАН.

Làm ơn giúp tôi mang cái vali, nó nặng quá. – Masha đề nghị giúp cô ấy mang cái vali nặng.

Nếu động từ trong câu mệnh lệnh thức biểu thị yêu cầu, thì trong dạng gián tiếp cần dùng từ ПОПРОСИЛ ở giống và số phù hợp, tiếp theo động từ để nguyên thể vô nhân xưng.

Các bạn hãy tập luyện chuyển đổi tình huống câu nói trực tiếp sang trần thuật gián tiếp. Thí dụ những yêu cầu và mệnh lệnh như sau:

КУПИ ХЛЕБ, МОЛОКО И СЫР! ВЫМОЙ ПОСУДУ! НЕ БОЛТАЙ ДОЛГО ПО ТЕЛЕФОНУ! ПОЖАЛУЙСТА, ГОВОРИ ПОТИШЕ! ПОЖАЛУЙСТА, ПОЗВОНИ БАБУШКЕ!

Hãy mua bánh mì, sữa, và pho-mát! Rửa bát đĩa đi! Đừng tán gẫu suốt bằng điện thoại nữa! Làm ơn nói khẽ thôi! Làm ơn, hãy gọi điện cho bà!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 56

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Hôm nay chúng ta trở lại với một trong những vấn đề phức tạp nhất của tiếng Nga là biến đổi danh từ, tính từ và đại từ theo các cách. Chính đây là điểm mà người nước ngoài học tiếng Nga thường hay bị nhầm. Đặc biệt là nếu như trong bản ngữ của người học không có hiện tượng như cách. Bây giờ ta hãy thử luyện tập sử dụng các cách, để tránh nhầm lẫn. Chúng ta bắt đầu từ cách 6 (giới cách). Cách này được đặt tên như vậy bởi vì danh từ và đại từ trong cách 6 luôn đi kèm với giới từ. Thí dụ, với giới từ О.

Lúc này ngoài cửa sổ đang có mưa, gió thổi mạnh. Tania, chị hãy nói xem chị mơ ước về điều gì?

Trong mệnh đề này cần dùng danh từ giống đực, giống cái bà giống trung, tất cả khi ở cách 6 đều có đuôi kết thúc là -Е. Khi danh từ nguyên thể có phần vĩ tố là -ИЕ, thì trong cách 6 sẽ đổi thành đuôi -И.

ИВАН МЕЧТАЕТ О ХОРОШЕМ ПУТЕШЕСТВИ И. Ivan mơ ước về chuyến du ngoạn tốt đẹp.

Với cách 6 thường dùng những động từ như ДУМАТЬ – suy nghĩ, ГОВОРИТЬ – nói, РАССКАЗЫВАТЬ – kể chuyện, ПИСАТЬ – viết, ПОМНИТЬ – nhớ, ВСПОМИНАТЬ – nhớ lại, hồi tưởng.

Я ЧАСТО ДУМАЮ О МОЕМ СТАРОМ ДРУГЕ. Tôi thường nghĩ về người bạn cũ của tôi.

ТЫ МНОГО ГОВОРИШЬ О СВОЕЙ РАБОТЕ. Cậu nói nhiều về công viêc của mình.

ТЕЛЕПЕРЕДАЧА “МУЗЫКА И МЫ” РАССКАЗЫВАЕТ О СОВРЕМЕННОМ ИСКУССТВЕ. Buổi truyền hình “Âm nhạc và chúng ta” kể về nghê thuật hiện đại.

МЫ ПОМНИМ О ГЕРОЯХ ВОЙНЫ. Chúng tôi nhớ về những người anh hùng của cuộc chiến tranh.

ВЫ ЧАСТО ВСПОМИНАЕТЕ О СВОЕМ ДЕТСТВЕ? Anh (chi, các bạn) có hay hồi tường về thời thơ ấu của mình không?

Danh từ số nhiều của tất cả các giống trong câu cách 6 có tận cùng là -АХ hoặc -ЯХ.

Còn bây giờ xin lưu ý, tính từ trong mệnh đề cách 6 biến đổi như thế nào khi đi với danh từ các ngôi và giống.

Chắc các bạn đã nhận thấy là các tính từ trong câu cách 6 đều có phần đuôi như nhau, dù nguyên thể ban đầu khác nhau, vì chúng đi với những danh từ có giống khác nhau. ДОМ – là danh từ giống đực, vì thế УЮТНЫЙ và ДЕРЕВЯННЫЙ – là tính từ giống đực. ПЛАТЬЕ – là danh từ giống trung, do đó КРАСИВОЕ và МОДНОЕ – là tính từ giống trung. Nhưng chuyển sang cách 6, tất cả các tính từ này có phần đuôi giống nhau là -ОМ. Còn có một dạng đuôi của tính từ cách 6 nữa là -ЕМ.

ПЛАТОЧЕК – là danh từ giống đực, МОРЕ – danh từ giống trung.

Trong câu cách 6 phần đuôi của tính từ giống cái số ít là -ОЙ hoặc -ЕЙ.

Đề nghị các bạn tập luyện dùng câu với danh từ và tính từ ở cách 6.

Bạn hãy kể lại xem báo và tạp chí Nga viết về điều gì và tự đặt các mệnh đề biểu đạt trong cách 6. Thí dụ:

ИНТЕРЕСНАЯ ПРЕМЬЕРА В БОЛЬШОМ ТЕАТРЕ. – ГАЗЕТЫ ПИШУТ ОБ ИНТЕРЕСНОЙ ПРЕМЬЕРЕ В БОЛЬШОМ ТЕАТРЕ. Vở công diễn thú vị trong Nhà hát Lớn. – Các báo viết về vở công diễn thú vị trong Nhà hát Lớn.

УДИВИТЕЛЬНЫЕ ПУТЕШЕСТВИЯ НА РУССКИЙ СЕВЕР. НОВЫЙ ДЕТЕКТИВ БОРИСА АКУНИНА. БУДУЩАЯ ЗВЕЗДА НАУКИ – СТУДЕНТКА МГУ НАСТЯ ИВАНОВА. Chuyến du ngoạn kỳ thú lên miền Bắc Nga. Cuốn truyện trinh thám mới của Boris Akunin. Ngôi sao tương lai của nền khoa học – nữ sinh viên MGU Nastya Ivanova.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 57

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Hôm nay chúng ta tiếp tục nghiên cứu sự biến đổi của danh từ, tính từ đi kèm và từ chỉ số thứ tự trong cách 6 (giới cách). Bài trước chúng ta đã nói về mệnh đề cách 6 với giới từ О. Chắc các bạn đã nhớ là giới từ này thường đi sau các động từ ДУМАТЬ – nghĩ, ГОВОРИТЬ – nói, РАССКАЗЫВАТЬ – kể chuyện, ПИСАТЬ – viết, ПОМНИТЬ – nhớ, ВСПОМИНАТЬ – nhớ lại, hồi tưởng.

Я ЧАСТО ДУМАЮ О МОЕМ СТАРОМ ДРУГЕ. Tôi hay nghĩ về người bạn cũ của tôi.

ГАЗЕТЫ МНОГО ПИШУТ ОБ ИЗВЕСТНЫХ ПОЛИТИКАХ И АРТИСТАХ. Các báo viết nhiều về những chính trị gia và nghệ sĩ nổi tiếng.

Còn bây giờ chúng ta sẽ nói về yêu cầu dùng cách 6 với giới từ В và НА để biểu thị vị trí, địa điểm của hành động.

Chị Tania, chị sống ở ngôi nhà nào?

Thế còn khi nghỉ ngơi ở Sochi thì chị sống ở đâu?

Chị thích nghỉ ngơi như thế nào?

Cũng như khi đi với giới từ О, danh từ giống đực và giống trung trong câu cách 6 với giới từ В có đuôi là -Е hoặc -И.

Còn tính từ giống đực và giống trung trong câu cách 6 kết thúc bằng -ОМ hoặc -ЕМ.

Tính từ giống cái có vĩ tố là -ОЙ hoặc -ЕЙ.

Với các danh từ trong cách 6 có giới từ В thường sử dụng từ chỉ số thứ tự.

Chị Tania, chị sống trong căn hộ nào? (số mấy?)

Я ЖИВУ В СОРОК СЕДЬМ ОЙ КВАРТИРЕ. Tôi sống trong căn hộ số 47.

МОЙ ПЛЕМЯННИК УЧИТСЯ В ПЯТ ОМ КЛАССЕ. Cháu tôi đang học lớp 5.

Xin các bạn nhớ rằng đuôi của từ chỉ số thứ tự trùng hợp với đuôi của tính từ theo giống và số cần thiết.

Từ chỉ số thứ tự cũng thường được dùng cùng với danh từ trong câu cách 6 có giới từ НА.

Chị Tania, chị sống ở tầng mấy (thứ bao nhiêu?)?

Я ЖИВУ НА ДВАДЦАТЬ ПЕРВОМ ЭТАЖЕ. Tôi sống ở tầng thứ 21.

Mời các bạn nghe mấy câu hội thoại sử dụng danh từ, tính từ và từ chỉ số thứ tự trong cách 6 với giới từ В và НА.

АНТОН, В КАКОЙ АУДИТОРИИ У НАС БУДЕТ ЛЕКЦИЯ ПО ИСТОРИИ? – В ПЯТОЙ АУДИТОРИИ НА ТРЕТЬЕМ ЭТАЖЕ. Anton, ở giảng đường nào sẽ có bài giảng Lịch sử? – Trong giảng đường số 5 trên tầng 3.

СКАЖИТЕ, ПОЖАЛУЙСТА, В КАКОМ КАБИНЕТЕ ПРИНИМАЕТ ХИРУРГ? – В ДВАДЦАТЬ ПЕРВОМ КАБИНЕТЕ НА ВТОРОМ ЭТАЖЕ. Làm ơn nói cho tôi (biết), bác sĩ phẫu thuật tiếp (bệnh nhân) ở phòng nào? – Phòng số 21 trên tầng 2.

ГДЕ В ЭТОМ РАЙОНЕ МОЖНО ВКУСНО И НЕДОРОГО ПООБЕДАТЬ? – В РЕСТОРАНЕ “ГРАБЛИ” НА ПЯТНИЦКОЙ УЛИЦЕ. Trong khu vực này chỗ nào có thể ăn bữa trưa ngon mà không đắt? – Tại nhà hàng “Grabli” trên phố Pyatnitskaya.

Xin chúc đạt kết quả tốt và hẹn tới cuộc gặp mới.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 58

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

ЗДРАВСТВУЙ, НИНА! ДАВНО ТЕБЯ НЕ ВИДЕЛА. ГДЕ ТЫ БЫЛА? Nina, chào bạn! Lâu rồi không thấy bạn. Bạn đã ở đâu vậy? – Я ОТДЫХАЛА В СОЧИ. Tôi nghỉ ở Sochi. – КАК ЗДОРОВО! ГДЕ ТЫ ТАМ ЖИЛА? Tuyệt thế! Bạn đã sống ở chỗ nào tại đó? – Я ЖИЛА В НОВОЙ ВЫСОТНОЙ ГОСТИНИЦЕ, В УДОБНОМ НОМЕРЕ НА 12-ОМ ЭТАЖЕ. Tôi đã sống ở khách sạn mới cao tầng, trong một căn phòng tiện lợi ở tầng 12. – А ГДЕ ЕЛА? Thế bạn ăn uống ở đâu? – В МАЛЕНЬКОМ УЮТНОМ КАФЕ НА БЕРЕГУ МОРЯ.Trong nhà hàng nhỏ ấm cúng bên bờ biển. – ПОГОДА БЫЛА ХОРОШАЯ? Thời tiết đẹp chứ? – ДА, БЫЛО ЖАРКО И НЕ БЫЛО ДОЖДЕЙ. Я КУПАЛАСЬ В МОРЕ ДВА РАЗА В ДЕНЬ. МНЕ ОЧЕНЬ ПОНРАВИЛСЯ МОЙ ОТПУСК – Vâng, nóng và không có mưa. Tôi đã tắm dưới biển hai lần trong ngày. Tôi rất thích kỳ nghỉ của tôi.

Trong bài học hôm nay chúng ta xem xét dùng câu cách 6 để biểu đạt thời gian. Để làm như vậy, cũng sử dụng giới từ В và НА. Giới từ В được dùng khi ta nói về năm và tháng.

1961 ГОДУ ЧЕЛОВЕК ВПЕРВЫЕ ПОЛЕТЕЛ В КОСМОС. Vào năm 1961 lần đầu tiên con người đã bay lên vũ trụ.

Chị Tania, bao giờ thì sinh nhật chị?

ЗИМОЙ, В ДЕКАБРЕ. Mùa đông, vào tháng 12.

ПРОШЛОМ ГОДУ Я ЕЗДИЛА ЛЕТОМ В ИТАЛИЮ, ВЭТОМ ГОДУ ПОЕДУ В ПОЛЬШУ, А В БУДУЩЕМ ГОДУ ХОЧУ ПОЛЕТЕТЬ ВО ВЬЕТНАМ. Trong năm ngoái, mùa hè tôi đi Italy, vào năm nay tôi sẽ đi Balan, còn đến sang năm tôi muốn bay đi Việt Nam.

В ЭТОМ МЕСЯЦЕ В МОСКВЕ БЫЛО МНОГО ДОЖДЕЙ, А В СЛЕДУЮЩЕМ ПРОГНОЗ ОБЕЩАЕТ СУХУЮ ПОГОДУ. Vào tháng này ở Matxcơva có mưa nhiều, còn vào tháng tới dự báo thời tiết khô ráo.

Nếu nói về tuần lễ, thì ta cần dùng giới từ НА.

НА ЭТОЙ НЕДЕЛЕ МЫ ОТМЕЧАЕМ ЮБИЛЕЙ МОЕЙ ПОДРУГИ, А НА ПРОШЛОЙ ОТМЕЧАЛИ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ ЕЕ ДОЧЕРИ. Trong tuần này chúng tôi sẽ kỷ niệm mốc (sinh nhật) chẵn của bạn gái tôi, còn trong tuần trước đã kỷ niệm ngày sinh của con gái chị ấy.

Câu cách 6 với ý nghĩa thời gian thường dùng trong tiểu sử. Thí dụ:

МИХАИЛ ЛОМОНОСОВ – ВЕЛИКИЙ РУССКИЙ УЧЕНЫЙ, ПОЭТ, ИСТОРИК, ХУДОЖНИК, ПЕРВЫЙ РУССКИЙ АКАДЕМИК. Mikhail Lomonosov là bác học Nga vĩ đại, nhà thơ, sử gia, họa sĩ, viện sĩ Nga đầu tiên. ОН НАЧАЛ УЧИТЬСЯ В 1731 ГОДУ, КОГДА ЕМУ БЫЛО 19 ЛЕТ. Ông bắt đầu học tập vào năm 1731, khi ông 19 tuổi. В 1735 ГОДУ ОН УЖЕ ЗАКОНЧИЛ ШКОЛУ И НАЧАЛ УЧИТЬСЯ В ПЕТЕРБУРГСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. Vào năm 1735 ông đã tốt nghiệp phổ thông và bắt đầu học ở trường Đại học Tổng hợp Peterburg. В 1755 ГОДУ ЛОМОНОСОВ ОСНОВАЛ МОСКОВСКИЙ УНИВЕРСИТЕТ. Vào năm 1755 Lomonosov đã thành lập trường Đại học Tổng hợp Matxcơva.

ЗУНГ, В КАКОМ ГОДУ И МЕСЯЦЕ ТЫ РОДИЛСЯ? Dũng, cậu sinh vào tháng nào và năm nào? – РОДИЛСЯ В 1991 ГОДУ, В ИЮНЕ. Tớ sinh vào năm 1991, trong tháng Sáu. – КОГДА ТЫ ПОШЕЛ В ШКОЛУ? Khi nào cậu đến trường phổ thông (bắt đầu đi học) ? – В 1998 ГОДУ. Vào năm 1998. – КОГДА ТЫ НАЧАЛ ИЗУЧАТЬ РУССКИЙ ЯЗЫК? Khi nào cậu bắt đầu học tiếng Nga? – В 2010 ГОДУ, КОГДА ПОСТУПИЛ В ХАНОЙСКИЙ УНИВЕРСИТЕТ. Vào năm 2010, khi đã nhập học ở Đại học Tổng hợp Hà Nội. – А КОГДА ТЫ ПРИЕХАЛ В РОССИЮ? Thế khi nào cậu đến nước Nga? – В СЛЕДУЮЩЕМ ГОДУ. Trong năm tiếp theo. – КОГДА ТЫ ОКОНЧИШЬ МОСКОВСКИЙ УНИВЕРСИТЕТ? Khi nào cậu sẽ tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Matxcơva? – В 2016 ГОДУ. Vào năm 2016. – КЕМ БУДЕШЬ, КОГДА ВЕРНЕШЬСЯ НА РОДИНУ? Cậu sẽ làm gì khi trở về quê hương? – ХОЧУ БЫТЬ ПРЕПОДАВАТЕЛЕМ РУССКОГО ЯЗЫКА. Tớ muốn làm giảng viên Tiếng Nga.

Còn bây giờ, xin chào tạm biệt và hẹn những cuộc gặp mới trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 59

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

Chúng ta tiếp tục làm quen chi tiết hơn với các cách của tiếng Nga. Hôm nay ta sẽ nói về cách 4 (đối cách) của danh từ, tính từ và đại từ.

НЕДАВНО У МОЕЙ ПОДРУГИ НИНЫ БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Я ПОДАРИЛА ЕЙ КРАСИВЫЙ ШЕЛКОВЫЙ ШАРФ. НА ЭТОМ ВЕЧЕРЕ Я ВСТРЕТИЛА СВОЕГО ШКОЛЬНОГО ДРУГА. МЫ ЕЛИ ЧЕРНУЮ ИКРУ И ПИЛИ БЕЛОЕ ВИНО. Cách đây chưa lâu (Mới đây) bạn gái Nina của tôi đã có (lễ) sinh nhật. Tôi đã tặng cô ấy chiếc khăn lụa đẹp. Trong buổi vui liên hoan này tôi đã gặp lại người bạn học phổ thông của mình. Chúng tôi đã ăn trứng cá đen và uống rượu vang trắng.

Trong thí dụ bằng câu chuyện nhỏ này, có thể thấy danh từ và các tính từ kèm theo biến đổi ra sao trong cách 4.

Я ПОДАРИЛА ЕЙ КРАСИВЫЙ ШЕЛКОВЫЙ ШАРФ. Tôi đã tặng cô ấy chiếc khăn lụa đẹp

ШАРФ – là danh từ bất động vật giống đực. Trong cách 4 những danh từ này và tính từ đi kèm với nó có dạng giống như ở nguyên cách-cách 1.

Я ВСТРЕТИЛА СВОЕГО ШКОЛЬНОГО ДРУГА. Tôi đã gặp lại người bạn học phổ thông của mình

ДРУГ – là danh từ động vật giống đực. Trong cách 4 những danh từ này có vĩ tố là -А hoặc -Я, còn các tính từ và đại từ đi kèm có đuôi là ОГО hoặc -ЕГО.

МЫ ЕЛИ ЧЕРНУЮ ИКРУ. Chúng tôi đã ăn trứng cá đen

ИКРА – là danh từ giống cái. Trong cách 4 những danh từ này chủ yếu có đuôi là -У hoặc -Ю, còn các tính từ kèm theo sẽ có kết thúc bằng -УЮ hoặc -ЮЮ.

МЫ ПИЛИ БЕЛОЕ ВИНО. Chúng tôi đã uống rượu vang trắng.

ВИНО – là danh từ giống trung. Trong cách 4 những danh từ này và tính từ đi kèm có dạng giống như ở nguyên cách-cách 1.

Mời các bạn nghe thêm mấy thí dụ với các động từ khác.

ЗНАМЕНИТЫЙ РОССИЙСКИЙ РЕЖИССЕР НИКИТА МИХАЛКОВ ПОКАЗАЛ НА КАННСКОМ КИНОФЕСТИВАЛЕ СВОЙ НОВЫЙ ФИЛЬМ. Đạo diễn điện ảnh Nga nổi tiếng Nikita Mikhalkov đã chiếu bộ phim mới của mình tại Liên hoan phim Cannes

ТРЕНЕР ПОЗДРАВИЛ СВОЕГО ЛЮБИМОГО СПОРТСМЕНА С ПОБЕДОЙ. Huấn luyện viên chúc mừng vận động viên thể thao yêu mến của mình nhân dịp thắng lợi.

ИЗ НАШЕГО ОКНА В СТУДИИ МЫ ВИДИМ КРЕМЛЬ И КРАСНУЮ ПЛОЩАДЬ. Từ cửa sổ studio của mình chúng tôi nhìn thấy Kremlin và Quảng trường Đỏ.

Xin các bạn lưu ý, trong mệnh đề trên cả hai danh từ trong cách 4 đều có dạng như cách 1, tức là không biến đổi. КРЕМЛЬ – là danh từ bất động vật giống đực, còn ПЛОЩАДЬ – là danh từ bất động vật giống cái, kết thúc bằng dấu mềm. Những danh từ như vậy vẫn giữ nguyên không thay đổi trong cách 4. Thí dụ như:

ДОЧЬ – (người) con gái, МАТЬ – người mẹ, НОЧЬ – đêm, БОЛЬ – đau, ЖИЗНЬ – cuộc sống, cuộc đời, КРОВЬ – máu, СКАТЕРТЬ – khăn trải bàn, СОЛЬ – muối, ДАЛЬ – (nơi) xa xôi.

Cách 4 thường được dùng đến trong các thông báo. Chẳng hạn những thông báo (rao vặt) như sau:

МЕДИЦИНСКИЙ ЦЕНТР ПРИГЛАШАЕТ НА РАБОТУ ОПЫТНОГО ВРАЧА-ХИРУРГА И МЕДСЕСТРУ. Trung tâm y tế mời (tuyển) (một) bác sĩ-phẫu thuật có kinh nghiệm và (một) y tá đến làm việc.

ОТДАМ УМНУЮ ДОБРУЮ СОБАКУ В ХОРОШИЕ РУКИ. Tôi sẽ trao con cún khôn cho chủ nhân mát tay.

ИЩУ СПУТНИКА В АРХЕОЛОГИЧЕСКУЮ ЭКСПЕДИЦИЮ В КРЫМ. Tôi tìm bạn đồng hành đi điền dã khảo cổ ở Krym.

Các bạn hãy tập luyện lập những câu thông báo tương tự có sử dụng danh từ cách 4 các giống.

Tin rằng các bạn sẽ tiến tới nhanh chóng trên hành trình khám phá tiếng Nga. Bây giờ xin tạm biệt và hẹn đến cuộc gặp mới trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 60

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.

Các bạn thân mến, xin chào các bạn!

НЕДАВНО У МОЕЙ ПОДРУГИ НИНЫ БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Я ПОДАРИЛА ЕЙ КРАСИВЫЙ ШЕЛКОВЫЙ ШАРФ. НА ЭТОМ ВЕЧЕРЕ Я ВСТРЕТИЛА СВОЕГО ШКОЛЬНОГО ДРУГА. МЫ ЕЛИ ЧЕРНУЮ ИКРУ И ПИЛИ БЕЛОЕ ВИНО. Cách đây chưa lâu (Mới đây) bạn gái Nina của tôi đã có (lễ) sinh nhật. Tôi đã tặng cô ấy chiếc khăn lụa đẹp. Trong buổi vui liên hoan này tôi đã gặp lại người bạn học phổ thông của mình. Chúng tôi đã ăn trứng cá đen và uống rượu vang trắng.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về phương thức sử dụng cách 4 để so sánh. Đồng thời ta học cách mô tả ngoại hình và tính cách của một người. Chi Tania, chị giống ai?

Я ПОХОЖА НА МАМУ. У НЕЕ ТОЖЕ СВЕТЛЫЕ ВООСЫ И ГОЛУБЫЕ ГЛАЗА. Tôi giống mẹ. Mẹ cũng có tóc màu sáng và mắt xanh.

Thế còn em trai chị thì giống ai?

А МОЙ БРАТ ПОХОЖ НА ОТЦА. У НЕГО ВЫСОКИЙ ЛОБ, ПРЯМОЙ НОС, ТЕМНЫЕ ВОЛОСЫ И КАРИЕ ГЛАЗА. МЫ НЕ ПОХОЖИ ДРУГ НА ДРУГА. Còn em trai tôi thì giống bố. Bố có trán cao, mũi thẳng, tóc màu sẫm và mắt nâu. Chúng tôi (Tôi và em trai) không giống nhau.

Các danh từ НА МАМУ, НА ОТЦА đứng ở cách 4. Xin các bạn lưu ý cách biểu thị ДРУГ НА ДРУГА, cần sử dụng để chỉ hành động tương hỗ của hai người.

Mời các bạn nghe đoạn hội thoại sau:

ЗУНГ, КАК ЗОВУТ ТВОЕГО ЛУЧШЕГО ДРУГА? – Dũng ơi, bạn thân của cậu tên là gì?

ЕГО ЗОВУТ АНТОН. Cậu ấy tên là Anton.

КАК ОН ВЫГЛЯДИТ? Trông cậu ấy thế nào?

ОН ВЫСОКИЙ, ШИРОКОПЛЕЧИЙ, У НЕГО СПОРТИВНАЯ ФИГУРА, ОТКРЫТОЕ СИМПАТИЧНОЕ ЛИЦО, КУРНОСЫЙ НОС, КУДРЯВЫЕ РЫЖИЕ ВОЛОСЫ И ВЕСЕЛЫЕ ЗЕЛЕНЫЕ ГЛАЗА. Cậu ấy cao, vai rộng, thân hình thể thao, khuôn mặt cởi mở dễ mến, mũi hếch, tóc xoăn màu hung và mắt xanh vui tươi.

А КАКОЙ У НЕГО ХАРАКТЕР? Thế tính cậu ấy thế nào?

У НЕГО ХОРОШИЙ, ЛЕГКИЙ ХАРАКТЕР, ОН ЛЮБИТ ШУТИТЬ. А ЕЩЕ АНТОН ОЧЕНЬ НАДЕЖНЫЙ ЧЕЛОВЕК. НА НЕГО ВСЕГДА МОЖНО ПОЛОЖИТЬСЯ. Cậu ấy tính tình tốt, nhẹ nhàng, cậu ấy thích đùa. Anton còn là người rất chắc chắn đáng tin. Luôn luôn có thể trông cậy vào cậu ấy.

МОЖНО СКАЗАТЬ, ТЕБЕ ПОВЕЗЛО! ГДЕ ВЫ ПОЗНАКОМИЛИСЬ С АНТОНОМ? Có thể nói là cậu may mắn đấy! Cậu làm quen với Anton ở đâu?

В СЕКЦИИ НАСТОЛЬНОГО ТЕННИСА В УНИВЕРСИТЕТЕ. ТЕПЕРЬ МЫ ИГРАЕМ В ОДНОЙ РОК-ГРУППЕ. НАМ НРАВЯТСЯ ОДНИ И ТЕ ЖЕ ФИЛЬМЫ И КНИГИ. МЫ С АНТОНОМ ЛЮБИМ ПРОВОДИТЬ СВОБОДНОЕ ВРЕМЯ ВМЕСТЕ. Trong nhóm bóng bàn ở trường đại học. Bây giờ bọn tớ cùng chơi trong ban nhạc rock. Chúng tớ thích cùng loại phim và sách (như nhau). Tớ và Anton ưa dùng thời gian rảnh (giải trí) cùng nhau.

Các bạn hãy thử lập đoạn chuyện kể ngắn về bạn bè và người thân của mình. Xin gợi ý môt số từ sẽ giúp các bạn:

ЛИЦО: КРАСИВОЕ, НЕКРАСИВОЕ, СИМПАТИЧНОЕ, ПРИЯТНОЕ, ОТКРЫТОЕ, КРУГЛОЕ, ОВАЛЬНОЕ – Khuôn mặt: Đẹp, không đẹp, dễ thương-dễ ưa, dễ mến-dễ chịu, cởi mở, tròn, trái xoan.

ВОЛОСЫ: ДЛИННЫЕ, КОРОТКИЕ, КУДРЯВЫЕ, СВЕТЛЫЕ, ТЕМНЫЕ, ЧЕРНЫЕ, РЫЖИЕ, СЕДЫЕ – Tóc: Dài, ngắn, xoăn, (màu) sáng, (màu) sẫm, (màu) đen, (màu) hung, bạc.

ГЛАЗА: СЕРЫЕ, СИНИЕ, ГОЛУБЫЕ, КАРИЕ, ЧЕРНЫЕ, ЗЕЛЕНЫЕ, ВЕСЕЛЫЕ, ЖИВЫЕ, ЗЛЫЕ – Mắt: Xám, xanh thẫm, xanh nhạt, nâu, đen, xanh biếc, vui tươi, sinh động, ác độc.

НОС: ДЛИННЫЙ, КОРОТКИЙ, ПРЯМОЙ, КУРНОСЫЙ, БОЛЬШОЙ, МАЛЕНЬКИЙ – Mũi: Dài, ngắn, thẳng, hếch, to, bé.

ЧЕЛОВЕК: ВЫСОКИЙ, МАЛЕНЬКИЙ, ПОЛНЫЙ, ХУДОЙ, СТРОЙНЫЙ – Người: Cao, bé nhỏ, đẫy đà, gầy gò, cân đối.

ХАРАКТЕР: СИЛЬНЫЙ, СЛАБЫЙ, ЛЕГКИЙ, ТРУДНЫЙ, ВЕСЕЛЫЙ, СПОКОЙНЫЙ – Tính tình: Mạnh mẽ, yếu đuối, nhẹ nhàng, khó khăn, vui vẻ, ôn hòa-điềm tĩnh.

Xin chúc thành công và hẹn gặp lại trên làn sóng điện của Đài “Tiếng nói nước Nga”.

Chúng Ta Học Tiếng Nga – Bài 30

Thế là bây giờ Tania và Đan Thi lại cùng các bạn tiếp nối cuộc du hành vào đất nước kỳ thú của ngôn ngữ Nga. Như đã hứa trong bài trước, hôm nay chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn về một kiến thức quan trọng trong tiếng Nga — đó là thể của động từ.

— Chị Tania, chắc là chị biết câu chuyện nhổ củ cải chứ?

— Vâng, tôi biết. Đó là một trong những chuyện cổ tích đầu tiên mà các trẻ em Nga được biết trong cuộc đời mình. Câu chuyện ngắn ngộ nghĩnh cho thấy rằng nếu đoàn kết cùng nhau, ta có thể giải quyết bất kỳ công việc khó khăn. 

ПОСАДИЛ ДЕД  РЕПКУ. ВЫРОСЛА РЕПКА БОЛЬШАЯ-ПРЕБОЛЬШАЯ. СТАЛ ДЕД ТЯНУТЬ РЕПКУ. ТЯНЕТ-ПОТЯНЕТ — ВЫТЯНУТЬ НЕ МОЖЕТ. ПОЗВАЛ ДЕД БАБКУ. ДЕДКА — (ТЯНЕТ) ЗА РЕПКУ, БАБКА — (ТЯНЕТ) ЗА ДЕДКУ. ТЯНУТ-ПОТЯНУТ — ВЫТЯНУТЬ НЕ МОГУТ.

БАБКА — (ПОЗВАЛА НА ПОМОЩЬ) ВНУЧКУ, ТА — (ПОЗВАЛА НА ПОМОЩЬ) СОБАКУ ЖУЧКУ, СОБАКА — (ПОЗВАЛА НА ПОМОЩЬ) КОШКУ, КОШКА — (ПОЗВАЛА НА ПОМОЩЬ)  МЫШКУ.

Ông trồng cây cải. Cây cải lớn lên khổng lồ. Ông bắt đầu nhổ cải. Kéo mãi-kéo mãi nhưng không thể nhổ lên được. Ông gọi bà ra. Ông nắm cây cải, bà bám lấy ông. Kéo mãi-kéo mãi nhưng không thể nhổ cải lên được.

Bà gọi cháu gái ra. Cháu gái gọi chó Zhuchka, chó gọi mèo, mèo gọi chuột nhắt.

ДЕДКА — (ТЯНЕТ) ЗА РЕПКУ, БАБКА — (ТЯНЕТ) ЗА ДЕДКУ, ВНУЧКА — (ТЯНЕТ) ЗА БАБКУ, ЖУЧКА — (ТЯНЕТ) ЗА ВНУЧКУ, КОШКА — (ТЯНЕТ) ЗА ЖУЧКУ, МЫШКА — (ТЯНЕТ) ЗА КОШКУ. ВСЕ ВМЕСТЕ  ВЫТЯНУЛИ РЕПКУ

Ông kéo cây cải, bà bám lấy ông, cháu gái bám lấy bà, chó Zhuchka bám cháu gái, mèo bám chó, chuột nhắt bám mèo. Tất cả đã cùng nhau nhổ được cây cải lên.

Động từ ТЯНУТЬ biểu thị quá trình của hành động. Đây là động từ ở thể chưa hoàn thành. Động từ ВЫТЯНУТЬ  biểu thị kết quả của hành động. Đây là động từ ở thể hoàn thành.

Mời các bạn nghe những đoạn hội thoại ngắn.

—  АНТОН, ЧТО ТЫ ДЕЛАЛ ВЧЕРА ВЕЧЕРОМ?— Я ЧИТАЛ ОЧЕНЬ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ. — КАКУЮ?— «ПУШКИН В МОСКВЕ». — ТЫ ПРОЧИТАЛ ЕЕ?— ДА. И ТЕПЕРЬ Я ЗНАЮ, ГДЕ ПУШКИН ЖИЛ В МОСКВЕ И КАКИЕ НАПИСАЛ ЗДЕСЬ СТИХИ.

—  Anton à,  chiều qua cậu làm gì vậy?— Tớ đọc một cuốn sách rất hay. — Cuốn nào thế?— ”Pushkin ở Matxcơva”. — Cậu đọc xong cuốn sách rồi chứ?— Ừ. Và bây giờ tớ biết, Pushkin đã sống ở đâu tại Matxcơva và ở đây ông đã viết những bài thơ nào.

— ХУНГ, ТЫ ГОТОВ К КОНТРОЛЬНОЙ РАБОТЕ?— НЕТ, НЕ ГОТОВ. Я УЧИЛ НОВЫЕ СЛОВА ДВА ДНЯ, НО НЕ ВЫУЧИЛ, ПОТОМУ ЧТО ИХ ОЧЕНЬ МНОГО.

— Hùng ơi, cậu sẵn sàng cho bài kiểm tra chưa?— Chưa, chưa sẵn sàng. Tớ đã học các từ mới trong hai ngày, nhưng chưa thuộc, vì từ mới rất nhiều.

— КТО РЕШИЛ ЗАДАЧУ №5?— В НАШЕЙ ГРУППЕ ЕЕ РЕШИЛ ТОЛЬКО САША. МЫ ВСЕ РЕШАЛИ ЕЕ ОЧЕНЬ ДОЛГО, НО НЕ РЕШИЛИ.

—  Ai đã giải xong bài tập số 5?— Trong nhóm chúng tôi chỉ có Sasha giải xong bài tập ấy. Tất cả chúng tôi làm bài rất lâu nhưng chưa giải xong.

Trong mấy đoạn đối thoại này hiện diện các động từ chưa hoàn thành và hoàn thành thể. Như qui tắc thông thường, các động từ hoàn thành thể khác động từ chưa hoàn thành thể bởi các tiếp đầu ngữ. ЧИТАЛ-ПРОЧИТАЛ. УЧИЛ — ВЫУЧИЛ.

Nhưng cũng có những động từ phân biệt bằng từ gốc như РЕШАЛ — РЕШИЛ.

Động từ chưa hoàn thành thể biểu thị quá trình của hành động hoặc hành động lặp đi lặp lại và sử dụng ở cả 3 thì — hiện tại, quá khứ và tương lai.

СМОТРЮ-СМОТРЕЛ-БУДУ СМОТРЕТЬ, ЧИТАЮ-ЧИТАЛ-БУДУ ЧИТАТЬ, УЧУ-УЧИЛ-БУДУ УЧИТЬ, ЗНАЮ-ЗНАЛ-БУДУ ЗНАТЬ, ВИЖУ-ВИДЕЛ-БУДУ ВИДЕТЬ, ПОВТОРЯЮ-ПОВТОРЯЛ-БУДУ ПОВТОРЯТЬ, РЕШАЮ-РЕШАЛ-БУДУ РЕШАТЬ.

Tôi đang xem-đã xem-sẽ xem, Tôi đang đọc-đã đọc-sẽ đọc, Tôi đang học-đã học-sẽ học, Tôi biết-đã biết-sẽ biết, Tôi đang thấy-đã thấy-sẽ thấy, Tôi đang nhắc lại-đã nhắc lại-sẽ nhắc lại, Tôi đang giải quyết-đã giải quyết-sẽ giải quyết.

Động từ hoàn thành thể biểu thị kết quả của hành động vì thế chỉ dùng ở thì quá khứ và tương lai.

ПОСМОТРЕЛ-ПОСМОТРЮ, ПРОЧИТАЛ-ПРОЧИТАЮ, ВЫУЧИЛ-ВЫУЧУ, УЗНАЛ-УЗНАЮ, УВИДЕЛ-УВИЖУ, ПОВТОРИЛ-ПОВТОРЮ, РЕШИЛ-РЕШУ. 

Tôi đã xem xong-sẽ xem xong, Tôi đã đọc xong-sẽ đọc xong, Tôi đã học thuộc-sẽ học thuộc, Tôi đã được biết-sẽ được biết, Tôi đã thấy-sẽ thấy, Tôi đã nhắc lại-sẽ nhắc lại, Tôi đã giải xong-sẽ giải xong.

— ПРИВЕТ, ЗУНГ! ОТКУДА ИДЕШЬ?— ИЗ МАГАЗИНА. КУПИЛ СЕБЕ НОВЫЙ ДИСК ВАНЕССЫ МЭЙ. Я РЕГУЛЯРНО  ПОКУПАЮ ЕЕ ДИСКИ.

—  Dũng à, chào cậu! Cậu đi đâu về thế?— Từ cửa hàng về. Tớ đã mua đĩa (nhạc) mới của Vanessa Mae. Tớ thường mua các đĩa nhạc của chị ấy.

—  ХЫОНГ, ТЫ ЧАСТО ЗВОНИШЬ ДОМОЙ?— ЗВОНЮ КАЖДУЮ СУББОТУ. НО БЫВАЮТ ОСОБЕННЫЕ СОБЫТИЯ. НАПРИМЕР, СЕГОДНЯ ПОЗВОНИЛА И СООБЩИЛА, ЧТО  ЗАНЯЛА ПЕРВОЕ МЕСТО В ИНСТИТУТСКОЙ ОЛИМПИАДЕ ПО МАТЕМАТИКЕ.

— Hương ơi, cậu có hay gọi điện về nhà không?— Thứ Bẩy nào cũng gọi. Nhưng cũng có những sự kiện đặc biệt. Thí dụ hôm nay tớ đã gọi điện và thông báo giành được vị trí thứ nhất (đứng thứ nhất) trong cuộc thi Olympic Toán ở trường đại học.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ngữ Pháp :: Chúng Ta Cùng Học Tiếng Thụy Điển trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!