Đề Xuất 11/2022 # Một Vài Kinh Nghiệm Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 9 / 2023 # Top 15 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 11/2022 # Một Vài Kinh Nghiệm Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 9 / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Vài Kinh Nghiệm Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 9 / 2023 mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ĐỀ TÀI: MỘT VÀI KINH NGHIỆM DẠY TỪ VỰNG TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 9 I.Đặt vấn đề 1. Cơ sở lý luận: Tiếng Anh là một ngôn ngữ thông dụng trên quốc tế và nó đã được đưa vào chương trình giảng dạy, trở thành một trong những bộ môn chính khoá ở các bậc học phổ thông. Để dạy tốt môn Tiếng Anh, mỗi một giáo viên đứng lớp luôn phải thực hiện tốt công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên, nghiên cứu, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, khoa học và phù hợp với từng đối tượng học sinh. Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo, tích cực của học sinh trong hoạt động học tập nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho học sinh. Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) ở trường THCS là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động rèn luyện năng lực giao tiếp dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết. Muốn rèn luyện năng lực giao tiếp cần có môi trường với những tình huống đa dạng của cuộc sống. Môi trường này chủ yếu do giáo viên tạo ra dưới dạng những tình huống giao tiếp và học sinh phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với tình huống giao tiếp cụ thể. Mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ là giao tiếp. Để giao tiếp tốt trước hết đòi hỏi ở học sinh có vốn từ vựng nhất định, vốn từ vựng càng nhiều giúp học sinh càng hiểu ngôn ngữ giao tiếp nhanh chống và có hiệu quả. Với mục đích dạy tốt môn Tiếng Anh trong thời gian đã hơn10 năm đứng lớp và giúp cho học sinh khắc phục được những khó khăn trong việc học từ mới và học từ mới có hiệu quả. Tôi đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu viết về phương pháp cộng với những trải nghiệm trong quá trình giảng dạy. Tôi đã rút ra được một vài kinh nghiệm trong việc gây hứng thú cho học sinh học Tiếng Anh qua các giờ dạy từ vựng lớp 9. Đây là kinh nghiệm mà tôi tâm đắc nhất và tôi đã mạnh dạn chọn nó để làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm cho mình. Khi thực hiện đề tài này tụi đó sử dụng cỏc phương phỏp sau: 1/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu. 2/ Phương pháp thực nghiệm 3/ Phương pháp tổng kết qua kinh nghiệm công tác và giảng dạy. Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu đề tài này tôi đã gặp phải một số khó khăn và thuận lợi sau: 2. Cơ sở thực tiễn: Điều kiện trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học bộ môn Tiếng Anh khá đầy đủ như: đèn chiếu, đài catset, băng hình, tranh ảnh và thậm chí những năm gần đây trường chúng tôi đã thực hiện việc dạy học bằng giáo án điện tử. Vì thế chất lượng dạy học bộ môn ngày càng được nâng cao rõ rệt. Bản thân luôn được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, của các anh chị em đồng nghiêp và đặc biệt là các anh chị em trong tổ chuyên môn. Phần lớn học sinh rất hứng thú và và chỳ ý say mờ trong học tập Bờn cạnh đú một số cá biệt học sinh vẫn còn thiếu kiên nhẫn trong học tập, còn chây lười, ỷ lại và mang tính thụ động. Đại đa số học sinh là con em nông dân nên điều kiện tiếp xúc với phương tiện thông tin còn hạn chế. * Để thực hiện phương pháp thực nghiệm tôi đã tiến hành khảo sát vốn từ vựng bộ môn Tiếng Anh đầu năm đối với lớp 9 như sau: - Số học sinh nói đúng: 50% - Số học sinh viết đúng: 35% Học sinh đạt yêu cầu về nghe, nói, đọc, viết: 50% - Học sinh hứng thú học từ: 45% - Một số học sinh còn rụt rè trong giao tiếp, vốn từ vựng và cách nhớ từ còn hạn chế. Một số học sinh chỉ nói theo chứ không viết đúng, học còn trầm, chậm. Trước tình hình đó tôi đã tìm giải pháp tốt nhất để giúp các em chủ động nhớ từ, vận dụng từ và hứng thú học từ qua giờ dạy có từ vựng. II. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH: 1.Các bước để giới thiệu từ mới: Bước 1: Thâm nhập nắm chắc chương trình môn Tiếng Anh lớp 9, nghiên cưú kỹ nội dung từng bài để có kế hoạch làm đồ dùng cho giờ dạy sôi động, hấp dẫn và lôi cuốn. Bước 2: Phối hợp với học sinh và duy trì ngôn ngữ giao tiếp với học sinh bằng cách đặt câu hỏi học sinh trả lời. Bước 3: Lựa chọn và phân loại từ: từ chủ động hay từ bị động. Bước 4: Sử dụng các thủ thuật linh hoạt để giới thiệu nghĩa của từ. Bước 5: Kiểm tra việc hiểu và nắm nghĩa của từ. Bước 6: Luyện tập từ của học sinh. Bước 7: Kiểm tra mức độ hiểu biết và nắm được từ của một số học sinh yếu nếu cần thiết. 2. Các phương pháp để giới thiệu nghĩa của từ vựng: Realia, picture, mime, translation, explanation, synonym, antonym,... a. Lựa chọn từ để dạy: Thông thường trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ mới nào cũng cần đưa vào dạy như nhau. Lựa chọn từ để dạy tôi cần xem xét từ chủ động hay bị động? Trước khi dạy tôi phải đọc bài và nghiên cứu kỷ để tìm từ chủ động và thụ động. - Từ bị động(passive/ receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu và nhận biết được khi nghe và đọc, ít sử dụng và kém nhu cầu giao tiếp. Tôi xác định sẽ dạy từ nào như một từ bị động và từ nào như một từ chủ động. Với từ bị động tôi có thể khuyến khích học sinh tự tìm hiểu nghĩa của từ (ví dụ: tra từ điển, hoặc đoán từ qua ngữ cảnh). Eg: Dạy bài 5 (lesson 1) tôi đã chọn các từ chủ động: a crier , a viewer, channel, remote control, Từ để đoán: interactive, convenient, widely, wonderful Từ được chia làm 2 loại: Từ nội dung(content words) và từ chức năng(function words). Từ nội dung là những từ biểu thị người, vật, hiện tượng, tính chất,.... nó có nghĩa khi từ được đứng độc lập. Thường là các loại từ như danh từ, tính từ, động từ. Ex: a teacher, a poet, baggy, intermediate, (to) do Từ chức năng là những từ có ít nghĩa khi nó đứng một mình, nó biểu thị một mối quan hệ ngữ pháp ngay trong một câu hay giữa các câu, nên ta gọi là nghĩa về ngữ pháp(grammatical meaning). Các loại từ như liên từ, giới từ, mạo từ.... thường được gọi là chức năng. Ngoài ra từ còn có nghĩa đen (denotation) và nghĩa bóng (connotation). Với sự đa dạng của từ, tôi đã đầu tư trong việc lựa chọn từ thích hợp, có vai trò chủ động để hiểu được nội dung chính của bài học. Vì thế trong mỗi tiết dạy tôi chỉ cho các em 5-8 từ chủ động, vì thực tế có bài có đến 10-15-20 từ mới, nếu đưa ra quá nhiều học sinh sẽ không nhớ nỗi. b. Các hình thức để giới thiệu từ vựng. Có nhiều phương pháp giới thiệu từ vựng nhưng giới thiệu bằng cách nào cho phù hợp với từ, với đối tượng để học sinh dễ nhận biết và phát huy được tính tích cực ,tìm tòi, đoán nghĩa của học sinh. - Dùng tranh ảnh hay đồ vật cụ thể (visual realia). Khi dạy những từ cụ thể tôi đã mang những vật thực để giới thiệu. Eg: Dạy bài 5 có những từ cầm đồ vật thật như: remote control, magazine. Dạy bài 7 có những từ cầm đồ vật thật như: water bill, crack,...và các bài khác như: comic, bill, bulb, flashlight, doll,.... - Khi dạy những từ cần hình ảnh , tôi đã dùng tranh để giới thiệu. Dạy bài 2 có những từ dùng tranh như: a plainsuit, a plaid skirt, a striped shirt, faded jeans, baggy pants,... Dạy bài 6 có những từ dùng tranh như: garbage dump, air pollution, dynamite fishing, deforestation spraying pesticides,... Dạy bài 9 có những từ dùng tranh như: snow storm, earthquake, typhoon, tornadoes, thunder storm,. .. Có những hình ảnh đơn giản tôi có thể vẽ hình que lên bảng. Eg: bamboo forest, river bank, faucet, funnel shaped, brucket, ladder, leak,..... Bằng hình thức này tôi đã tạo cho học sinh những tình huống sinh động nhưng dễ hiểu. Học sinh thích thú và khá sôi nỗi. Nhiều em còn tranh nhau để đoán từ, thậm chí có những em yếu như em , Thuý, Hoỏ, H. Dũng, ... và thường tôi gọi những em yếu để cho các em có cơ hội và mạnh dạn hơn trong học tập. - Dùng cử chỉ, điệu bộ để giới thiệu(mime, body, gestures and actions). Eg: (to)pray, (to)lay out, (to)swap , (to)hug, (to) turn up, (to) throw, (to) decorate,.... Sử dụng hình thức này tôi đã thể hiện rõ ràng, tự nhiên giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhận biết và rất hứng thú học. ã Sử dụng từ đồng nghĩa(synonym) và từ trái nghĩa(antonym) Một phần giúp học sinh liên tưởng đến những từ đã học, vừa nắm được nghĩa của từ mới. Eg: "enormous" ạ "great/ huge", (to) live apart ạ live together, (to) reduce ạ (to) increase, (to) disappear ạ (to) appear,... (to) capture = (to) catch, extensive = large/ wide (adj), (to) occur = happen, remote =distant (adj),the shore = the beach ã Sử dụng tình huống(situation) hay giảng giải (explanation). Eg: (to) keep in touch. Although my friend lives in HCM City, I often hear about her health, study. We...(unit 1) (to) correspond (Unit 1). They usually write letter to each chúng tôi usually... - a poet (unit 2) - To Huu is a famous.... - banyan tree: Uncle Ho planted a............ in Tan Trao. - an examiner : In an exam, teachers are called ....... - ethnic minorities (unit2) Thai, Muong, Dao,... are... - a blanket. It makes us warm at night. Ngoài ra tôi còn sử dụng tình huống giảng giải, dạy từ trong ngữ cảnh, giải thích từ bằng những Tiếng Anh đơn giản, nhiều em rất tích cực trong việc đoán từ. Đối với những từ trừu tượng tôi dùng phương pháp dịch thuật như khi dạy bài 4 (B). Eg: shrine, mosque, interactive, a dripping faucet, freedom choice, (to) warn, edition,..... Tómlại: Các hình thức giới thiệu từ đa dạng nhưng tuỳ vào tình hình thực tế đối tượng học sinh và vào từng từ cụ thể mà giáo viên lựa chọn hình thức phù hợp để đạt được hiệu quả cao. 3. Các bước trình bày một từ mới: - Âm thanh và ngữ nghĩa: Kỹ năng nghe hiểu phải đươc đặt lên trước kỹ năng viết. Vì thế trước hết tôi đã gợi ý để học sinh nêu ra được từ mới. Học sinh nghe tôi đọc cách phát âm của từ (2-3 lần). Sau đó tôi yêu cầu học sinh nhắc lại đồng thanh, cá nhân. Tôi ghi từ lên bảng (những từ có 2 âm tiết tôi đánh rõ trọng âm). - Khi học sinh ghi được từ vào vỡ tôi đã dùng nhiều biện pháp để kiểm tra từ. Các hình thức trò chơi theo nhóm đã thực sự tạo hứng thú học tập cho học sinh. + Rub out and remember: Hình thức này đã thực sự giúp học sinh nhớ từ ngay tại lớp. + Slap the BB: Hình thức này đã giúp học sinh nhận ra từ vựng qua nghe hiểu và kiểm tra việc hiểu nghĩa từ của học sinh. Học sinh làm việ theo nhóm. Nhóm nào cũng muốn chiến thắng vì vậy các em hoạt động rất nhanh nhẹn và sôi nỗi. + What and Where: Tôi đã gợi ý để học sinh đưa ra được từ vựng rồi viết chúng vào các vòng tròn lên bảng, lần lượt (đọc-xoá-đọc) và tôi yêu cầu học sinh phải nhớ được từ và vị trí của nó để lên viết lại. Thoạt đầu một số em yếu còn nhút nhát nhưng dần về sau nhiều em đã rất mạnh dạn và muốn lên bảng để viết. Hình thức này đã giúp học sinh ghi nhớ và ôn luyện từ bằng cách viết từ + Matching words: Tôi yêu cầu học sinh nối nghĩa tiếng Việt với tiếng Anh hoặc với tranh. Phương pháp này tiết kiệm được thời gian và học sinh rất hào hứng làm việc, 90% học sinh xung phong lên bảng để nối, kể cả những em rất yếu. Eg: Unit 2 - lesson 4 (on the poster): go met have told be gone buy had give been learn bought teach given know taught tell known meet learnt ... ... + Guessing pictures (đoán tranh): Phương pháp này đã giúp nhiều học sinh cúng nói và luyện từ mới một cách có ý nghĩa. + Bingo: Bằng cách này tôi đã giúp học sinh luyện tập được kỹ năng nghe và nối âm thanh nghe được với từ đúng. Học sinh thực hành rất sôi nỗi. Thậm chí học sinh còn đề nghị giáo viên cho làm lại để quyết giành chiến thắng. + Finding friends (tìm bạn): Dưới hình thức này tôi đã giúp các em kết hợp được cách dùng của từ với một cụm từ khác. Giúp các em phân biệt được nghĩa của từ trong những tình huống khác nhau. Eg: Khi dạy unit 2 để nhớ tên các loại áo quần tôi đã yêu cầu các em đánh dấu (V) vào những ô theo hàng ngang . Clothes Jeans Colorful T- Shirt a plaid skirt school uniform plain suit blue shorts Casual V favorite special occasions V Bằng cách này học sinh đã dùng đúng từ, tránh được sự kết hợp sai , học sinh đã áp dụng đúng trên 80%. + Noughts and croses: Tôi đã dùng hình thức này để kiểm tra việc vận dụng từ mới trong câu và thực sự gây hứng thú học tập cho học sinh và đạt hiệu quả cao về học tập từ. + Jumbled words: Bằng cách kiểm tra này tôi đã giúp học sinh luyện tập viết đúng chính tả của từ. Học sinh phải sắp xếp được các chữ cái lộn xộn thành một từ có nghĩa. Ngoài những hình thức kiểm tra từ trên tôi còn tổ chức cho các em nhiều trò chơi khác nhau để rèn luyện kỹ năng viết và sử dụng từ, vừa tăng thêm sự hứng thú trong học tập cho các em. Eg: Trong các bài ôn tập tôi thường kiểm tra từ bằng trò chơi(lucky number). Mỗi học sinh tự chọn số của mình theo nhóm và đặt được câu với từ hoặc giải thích nghĩa từ theo yêu cầu của giáo viên. Hoặc tôi cho học sinh thi nhau viết từ bằng các cách sau: ã Viết từ bắt đầu bằng chữ cái cuối (theo nhóm) ã Viết tiếp chữ cái để tạo thành một từ có nghĩa, ai kết thúc được sớm là người đó thắng cuộc. Hoặc tôi vận dụng trò chơi(wordsquare, network, wordstorming, ...) Eg: Unit 12 - lesson 1: "network" activities of entertainment Học sinh làm việc theo nhóm watching TV listening to music Với các hình thức này đã thực sự đem đến hiệu quả cao cho các em trong việc nhớ từ và vận dụng từ. * Trong quá trình hướng dẫn học sinh học từ, nhớ từ và vận dụng từ tôi luôn theo dõi thái độ và kết quả của học sinh để có sự điều chỉnh bổ sung cho việc nâng cao giờ dạy từ vựng. Tôi thường đưa bài tập luyện từ từ dễ đến khó để nâng cao dần trình độ và kỹ năng sử dụng từ cho các em(đặc biệt là đối tượng khá, giỏi). Tôi thường cho các em bài tập điền từ vào chổ trống sau khi đã kiểm tra từ hoặc để rèn luyện thêm kỹ năng nghe tôi đã cho các em bài tập(ordering) sắp xếp từ theo đúng trật tự. Một số học sinh khá, giỏi đã thể hiện năng lực, trí tuệ của mình và các em làm việc rất tích cực, chủ động. III.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Sau một thời gian vận dụng các kỷ thuật dạy từ vào bài học: Khảo sát về kỷ năng vận dụng từ, kết quả như sau: - Nói đúng: 85% (hơn 35% so với trước) - Viết đúng 75% (hơn 30% so với trước) - Học sinh đạt yêu cầu về nghe, nói, đọc, viết: 90% (hơn 40% só với trước). - Học sinh hứng thú học từ 100% (hơn 55% so với trước). Qua thể hiện đề tài đã làm , tôi nghĩ rằng giáo viên cần đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp và hình thức dạy từ một cách linh hoạt mới nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Tiếng Anh trong nhà trường THCS. IV. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Từ những điều rút ra từ thực tế, phải nói rằng việc dạy và học từ vựng trong Tiếng Anh là bước đi rất quan trọng nối liền giữa việc học từ vựng ban đầu đến cái đích phát triển các kỹ năng, kỹ xảo. 1.Muốn nâng cao hiệu quả giờ dạy từ, gây hứng thú học bộ môn Tiếng Anh cho học sinh lớp 9 nói riêng, học sinh THCS nói chung giáo viên cần nắm chắc chương trình, nghiên cứu kỹ bài dạy: Lựa chọn từ thích hợp, chủ động để học sinh hiểu được nội dung bài hay phục vụ mục đích giao tiếp. 2. Căn cứ vào từ loại, nghĩa của từ, đối tượng học sinh để chọn phương pháp trình bày hợp lý, dễ hiểu và có hiệu quả. 3. Sử dụng hình thức kiểm tra, luyện tập từ phù hợp với bài học, đối tượng và thời gian. Giáo viên cần sáng tạo trong việc ra các dạng bài tập, luyện tập phong phú để huy động được toàn bộ học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà chu đáo, hướng dẫn học sinh biết tự học(tự tra từ, đoán từ ở nhà). 4. Quá trình giảng dạy giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, động viên khuyến khích học sinh học tập. 5. Hoạt động của thầy và trò trong từng tiết học cần phải theo hướng đổi mới: Thầy tổ chức, hướng dẫn học sinh nắm bắt những kiến thức mới, trò lắng nghe để nhận nhiệm vụ, thực hiện hoạt động một cách tích cực và sáng tạo. Giáo viên cần thường xuyên vận dụng các kỷ thuật dạy học vào tiết dạy để giúp học sinh có cơ hội luyện tập từ nhiều hơn. Giáo viên cũng cần rút kinh nghiệm sau mỗi buổi dạy để thực hiện giờ lên lớp sáng tạo hơn, giúp học sinh học tốt hơn. V.NHỮNG ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ: Tụi kớnh đề nghị ngành GD- Đồng Hới nờn tổ chức thường xuyờn cỏc buổi chuyờn đề cụm để giỏo viờn cú cơ hội trau dồi và học hỏi thờm nhiều kinh nghiệm từ đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn! Đồng Hới, ngày 03 tháng 3 năm 2011 Người trình bày Võ Thị Hồng Lĩnh HĐKH TRƯỜNG THCS BẮC NGHĨA HĐKH NGÀNH GD- ĐT ĐỒNG HỚI

Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Tạo Hứng Thú Học Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 3 Người Dân Tộc / 2023

* Thuận lợi: Hầu hết các em học sinh tại trường đều là người dân tộc Êđê ở khu vực xã Ea Bông, bản thân tôi cũng là một giáo viên Tiếng Anh người dân tộc Êđê, do đó hiểu được những trở ngại mà các em mắc phải khi giao tiếp bằng Tiếng Anh cũng như giao tiếp bằng Tiếng Việt là điều hiển nhiên. Khoảng cách giữa các trường Tiểu học trong địa bàn xã Ea Bông khá gần nên việc dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về chuyên môn, nội dung các trò chơi để vận dụng trong giờ dạy Tiếng Anh ở bậc tiểu học, cũng như cách thức tổ chức và tiến hành dạy thực nghiệm có phần dễ dàng và thuận tiện hơn rất nhiều. Nhận được sự quan tâm từ Phòng Giáo dục Huyện trong việc theo học bằng đạt chuẩn kĩ năng giao tiếp (B2) theo khung tham chiếu Châu Âu. Bên cạnh đó, giáo viên còn nhận được sự hỗ trợ từ phía nhà trường trong việc bố trí tiết dạy, tạo điều kiện bồi giỏi nâng yếu trong công tác nâng cao chất lượng dạy và học. Giáo viên Tiếng Anh được đào tạo trình độ cao(sau đại học). * Khó khăn Là trường có hơn 70% học sinh là dân tộc Êđê khá đông với học sinh người dân tộc Kinh, đa số các em nói Tiếng Việt chưa chuẩn, giao tiếp bằng Tiếng Việt còn hạn chế (sai thanh dấu). Việc dạy ngoại ngữ Tiếng Anh cho các em, theo qui định của Bộ triển khai từ lớp 3 thì lại trở thành một thách thức to lớn đối với một trường nằm trong vùng “cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc” như các em học sinh dân tộc Êđê tại trường Tiểu học Ea Bông hiện nay. Thêm vào đó, phòng học còn thiếu(chỉ dạy được 2tiết/ tuần), chưa đảm bảo số lượng theo yêu cầu, chưa có phòng Lab, phòng học chuyên dụng dành riêng cho môn Tiếng Anh, số lượng giáo viên Tiếng Anh chưa đủ đáp ứng yêu cầu dạy 4 tiết/ tuần theo chương trình của Bộ Giáo Dục. Từ đó dẫn đến việc thực hiện công tác dạy học Tiếng Anh còn hình thức, chưa có điều kiện giảng dạy chuyên sâu. Hầu như các cha mẹ và các em học sinh người dân tộc Êđê tại địa bàn trường đều chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, vẫn xem Tiếng Anh như là một môn phụ trong chương trình học, chưa chú trọng đầu tư , mua sắm sách vở phục vụ học Tiếng Anh cho con em mình. Đây chính là bước cản lớn nhất trong công tác dạy và học Tiếng Anh tại trường Tiểu học Ea Bông. Việc mua sắm trang thiết bị như máy tính, tài liệu ôn tập phục vụ hoạt động tự học Tiếng Anh tại gia đình của các em còn chưa được cha mẹ quan tâm đúng mức do đó kết quả thu được từ các kì thi IOE trên mạng còn thấp. 2.2. Thành công- hạn chế *Thành công Sáng tạo ra nhiều đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung các tiết dạy làm cho tiết học của các em trở nên sinh động, có sức lôi cuốn và hiệu quả hơn. Nhiều em học sinh người dân tộc Êđê tại trường đã nghe và nhận biết giọng đọc, nói của người bản ngữ. Phần lớn các em đã mạnh dạn hơn trong việc thực hiện các bài tập cũng như các yêu cầu cơ bản trong tiết học. Các em đã bước đầu hình thành những kĩ năng, kĩ xảo trong việc áp dụng kiến thức vào tiết học. Việc giao tiếp và gần gũi với chính các em học sinh của mình đã tạo ra một mối quan hệ thầy – trò bền vững. *Hạn chế Với các em học sinh người dân tộc Êđê thì học Tiếng Anh trở thành là học một ngôn ngữ thứ ba (sau việc học Tiếng Việt). Thực tế, khi bước vào lớp 3, mặc dù Bộ Giáo Dục đã chú trọng chương trình tăng cường Tiếng Việt cho các em học sinh người dân tộc Êđê về khả năng nghe nói, giao tiếp nhưng các em vẫn gặp vô vàn khó khăn trong hoạt động học bởi vì suy cho cùng thì Tiếng Việt vẫn là ngôn ngữ thứ 2 sau Tiếng mẹ đẻ ( Tiếng Êđê). Không những hạn chế trong giao tiếp mà điều kiện học tập cũng còn quá nhiều thiếu thốn, nên việc học Tiếng Anh của học sinh ở trường Ea Bông lại càng khó khăn bội phần. Thêm vào đó, chương trình và SGK mới thay đổi liên tục, việc thiếu thốn trang thiết bị, hạn chế trong việc áp dụng phần mềm mới của giáo viên cũng gây rất nhiều trở ngại cho cả người dạy lẫn người học. Thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế, tài liệu phục vụ cho đề tài chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Học Tiếng Anh đối với học sinh người dân tộc Êđê đã là ngôn ngữ thứ ba, môi trường sống của các em chỉ tiếp xúc với người Êđê là chủ yếu cho nên ít có cơ hội sử dụng cả Tiếng Việt lẫn Tiếng Anh. Điều này không chỉ vất vả cho giáo viên mà ngay chính bản thân các em cũng là một trở ngại lớn, do đó đòi hỏi giáo viên phải là người địa phương hoặc phải biết sử dụng Tiếng dân tộc Êđê trong giảng dạy cũng như giao tiếp. 2.3. Mặt mạnh – mặt yếu * Mặt mạnh Trường nằm tại trung tâm của Buôn Knul, đường sá đi lại rất dễ dàng, có em chỉ cần đi bộ trong thời gian ngắn để đến trường. Đây chính là điểm thuận lợi nhất cho Thầy và Trò trường Tiểu học Ea Bông. * Mặt yếu Mặc dù văn bản chỉ đạo yêu cầu thực hiện từ Bộ – Sở – Phòng rất đầy đủ nhưng trong quá trình thực hiện thì lại gặp rất nhiều trở ngại do khác nhau về mặt điều kiện kinh tế, trình độ chuyên môn cũng như nguồn nhân lực. Dẫn đến một kết quả, không những là không như mong đợi mà còn khập khiễng không theo văn bản ban hành. Đó cũng chính là lí do Bộ Giáo dục luôn phải cải cách cũng như thay đổi chương trình học Tiếng Anh cho các em học sinh. Nhiều em có ít cơ hội để tiếp cận với thông tin đại chúng, động cơ để học Tiếng Anh còn hạn chế. Một số em còn ngại nói Tiếng Anh, còn sợ bị mắc lỗi, hầu như các em học sinh chưa quen với việc nghe Tiếng Anh bằng giọng bản xứ trong băng đĩa. 2.4. Nguyên nhân, các yếu tố tác động Điều kiện, hoàn cảnh của nhân dân địa phương đa số vẫn còn nhiều khó khăn. Trình độ dân trí còn thấp hoặc không đều nên nhận thức về việc xã hội hóa giáo dục của họ còn rất hạn chế, đặc biệt là đối với bậc tiểu học. Trình độ giao tiếp Tiếng Anh cũng như kĩ năng áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy Tiếng Anh còn hạn chế. Bên cạnh đó, nhận thức về giáo dục nói chung của đội ngũ giáo viên tại địa bàn đôi khi còn mơ hồ, chưa thấy rõ tầm quan trọng, chưa thể hỗ trợ hiệu quả vào giảng dạy Tiếng Anh chung trong trường, điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu của thời đại, các thiết bị giảng dạy phục vụ dạy – học còn thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng. Điều kiện về kinh tế, hoàn cảnh gia đình của đội ngũ cán bộ viên chức tại trường vẫn còn nhiều khó khăn. Về trình độ tay nghề của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, việc tiếp cận phương pháp dạy học mới của giáo viên chưa nhanh nhạy, chưa hiệu quả. Một bộ phận học sinh còn chưa chủ động, sáng tạo trong học tập theo phương pháp mới, còn tỏ ra nhút nhát thụ động ít chịu khó tìm tòi, độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Tất cả điều đó đều làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy của nhà trường. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hiện nay là một vấn đề nan giải mà Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm. Nhà nước dùng một khoản lớn ngân sách cho giáo dục tuy nhiên việc nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường gặp hàng rào cản lớn từ hệ thống quản lý bên trên và sức ỳ trong nhận thức cũng như hành động từ chính những người trong cuộc. Yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Tiếng Anh cho các em học sinh người dân tộc Êđê là việc tăng cường trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của nhà trường. Đây là yếu tố góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Và một điều kiện cần có, không kém phần quan trọng trong công tác dạy và học tại trường Ea Bông là xây dựng một môi trường Sư phạm theo phương châm:” Trường học thân thiện, Học sinh tích cực ”. Chính yếu tố này góp phần cho giáo viên, học sinh hứng thú thích đến trường đến lớp, yêu trường, yêu lớp. Với phương pháp dạy học mới tích cực thì giáo viên đóng vai trò chủ đạo, học sinh là trung tâm của tiết học. 3. Giải pháp, biện pháp thực hiện đề tài 3.1.Mục tiêu Để tiến hành một tiết dạy có hiệu quả thì giáo viên cần thực hiện tốt các yêu cầu cơ bản sau: Nghiên cứu bài học, đối tượng học sinh, sau đó chọn và sử dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy phù hợp với từng nội dung bài học. Trong quá trình tổ chức hoạt động học, giáo viên phải điều khiển lớp học, phân bố thời gian hợp lý. Quan trọng hơn cả, giáo viên cần đảm bảo sử dụng thành thạo các phương tiện, đồ dùng dạy học cũng như sáng tạo ra các đồ dùng phù hợp, hiệu quả cho tiết dạy. Đồng thời việc kết hợp giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội cũng là vấn đề lớn để nâng cao chất lượng giảng dạy nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Trong những năm gần đây, yêu cầu của giáo dục đòi hỏi phải có nhiều đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn và các cấp học, nhằm nâng cao chất lựơng dạy và học đặc biệt là ở bộ môn Tiếng Anh, muốn gây hứng thú học tập, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên phải lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập, tạo ra các trò chơi lồng ghép trong các tiết học, sử dụng ngôn ngữ thật lý thú và bổ ích phù hợp với nhận thức của các em để các em dễ dàng nắm bắt kiến thức cũng như nhớ bài học được lâu. 3.2. Nội dung và cách thức giải quyết Thực tế cho thấy, một giáo viên cho dù có kiến thức chuyên sâu, nhưng không có phương pháp dạy học tốt thì cũng sẽ không thu được hiệu quả cao. Bên cạnh đó, “Lòng yêu nghề, ý thức trách nhiệm của giáo viên”, tốt thì “không có việc gì khó” nữa. Lòng yêu nghề ở đây là lòng yêu công việc dạy học, coi việc dạy học là niềm vui, lúc nào cũng hứng thú dạy học, phấn đấu phục vụ nhiều cho công tác dạy học, luôn yêu mến học sinh và có trách nhiệm trong từng bài dạy. Để có một tiết dạy thật sự hứng thú, người giáo viên phải nghiên cứu trước bài dạy. Đây là một công việc không thể thiếu trong các khâu dạy học. Khi có đủ tài liệu thì phải nghiên cứu để định hướng công việc: cần dạy những gì, sử dụng những phương pháp nào, cách thức dạy học ra sao, cần sử dụng những đồ dùng dạy học cần thiết nào, ước lượng thời lượng tổ chức dạy học. Qua thực tế chứng minh: nếu bài dạy nào có sự đầu tư nghiên cứu kĩ thì kết quả mang lại là rất cao. Việc sử dụng các trò chơi trong giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt là trong phần Warm up ( phần mở đầu của mỗi tiết học) nhằm tạo cho học sinh có hứng thú trong học tập Tiếng Anh là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với giáo viên, quan trọng hơn nữa là người dạy phải biết vận dụng các trò chơi vào các tiết học một cách hiệu quả với phương châm: “học mà chơi, chơi mà học” nhưng vẫn đảm bảo được lượng kiến thức truyền đạt đến các em. Ví dụ như trò chơi Brainstorming: Việc này giúp học sinh nắm từ nhanh hơn thông qua việc tiếp xúc với tranh ảnh có nội dung gần gũi cũng như gắn liền với bài học. Dùng tranh cho học sinh nhìn tranh điền từ vào chỗ trống, nhìn tranh nghe đọc và ôn từ thông qua mẫu câu. Trong phần bài này, học sinh vừa quan sát tranh học từ vựng vừa thực hành được cấu trúc câu trong giao tiếp: There’s a garden. It’s very nice! Dùng tranh trong các phần liên hệ giáo dục ở phần cuối bài. Giả sử như phần bài này, chúng ta có thể giáo dục các em tôn trọng ngày lễ Tết của dân tộc mình, biết quý trọng ông bà, cha mẹ. Một số thủ thuật mà tôi đưa ra có thể sử dụng trong hầu hết tất cả các tiết học và các khối lớp ở bậc tiểu học. Tùy vào từng nội dung của bài học, giáo viên phải biết cách chọn lọc và tổ chức thực hiện các thủ thuật ấy một cách linh hoạt và có hiệu quả. Biện pháp 2: Sử dụng công nghệ thông tin, trang thiết bị, phần mềm hỗ trợ học Tiếng Anh. Phần mềm Hot Potatoes gồm có nhiều phần: JCloze: dùng tạo các bài tập với câu hỏi đa lựa chọn; JCross: tạo bài tập dùng trò chơi ô chữ; JMix: tạo câu hỏi sắp xếp các từ, cụm từ lộn xộn; JMatch: tạo bài tập gồm các câu hỏi kiểu so khớp.v.v. Đây cũng là một trong những phần mềm được nhiều giáo viên chú ý đến. Phần mềm phổ biến nhất hiện nay trong các trường chuẩn có dạy môn Tiếng Anh là Active Inspire ( hay còn gọi là Bài giảng tương tác hoặc Bảng thông minh). Nó không chỉ thu hút sự chú ý của các em học sinh mà còn giúp các em học sinh phát huy tối đa khả năng của bản thân trong giờ học. ActivInspire là nền tảng cho bất kỳ hoạt động học tập nào của thế kỷ 21. Được thiết kế để sử dụng trong lớp học, nó cho phép giáo viên giảng bài trên bảng trắng tương tác. Soạn bài giảng có nhiều hoạt động phong phú, hữu ích, và hỗ trợ các nhiệm vụ đánh giá học tập với học viên, các nhóm và toàn thể lớp học.      Với sự lựa chọn các giao diện phù hợp với lứa tuổi, ActivInspire mang lại cho giáo viên khả năng tiếp cận nhiều hoạt động giảng dạy, công cụ, hình ảnh, âm thanh và mẫu, với cả một thế giới các tài nguyên bổ sung có trên Promethean Planet. Đối với lứa tuổi học sinh tiểu học, sự tò mò và tính ham hiểu biết của các em rất lớn, để có được một tiết dạy hiệu quả thì giáo viên phải hiểu được tầm quan trọng của việc tổ chức, phân bố lớp học, truyền cảm, lôi cuốn học sinh trong giờ học. Chúng ta có thể thấy, hầu như trong mỗi bài học Tiếng Anh đều có một bài hát không chỉ để tạo sự hứng thú học cho các em mà thông qua đó các em có thể củng cố từ vựng cũng như cấu trúc câu đã học trong bài. Chúng ta phải hiểu thêm là, học sinh chỉ có được động cơ học tập khi các em cảm thấy hứng thú với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình. Giáo viên cần tăng cường các bài dạy có lồng ghép âm nhạc để các em phát huy tối đa sự ham thích học của mình trong mỗi giờ học. Do vậy, ngoài khả năng tạo sự lôi cuốn học sinh trong những hoạt động trên lớp thì giáo viên còn phải khích lệ động viên trong việc học. Ngoài ra để tăng phần sinh động, giáo viên có thể sử dụng thêm một số bài hát có nội dung tương tự để thay đổi không khí học tập cho các em từ một số trang mạng như: https://alokiddy.com.vn/ Hoặc học các bài hát Tiếng Anh qua: https://www.tienganh123.com/tieng-anh-tre-em-qua-bai-hat. Biện pháp 4: Kết hợp sử dụng tam ngữ: Tiếng Êđê – Tiếng Anh – Tiếng Việt trong tiết dạy. Nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng đã chứng minh thực tế là 60% chất lượng giờ dạy tốt là tùy thuộc vào khâu chuẩn bị soạn giáo án còn lại 40% là tùy thuộc vào năng lực sư phạm và kinh nghiệm của người Thầy. Vì vậy là giáo viên muốn giảng dạy tốt và chất lượng thì phải lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với nội dung và đối tượng, phát huy được tính chủ động sáng tạo, của người học. Bản thân tôi là một giáo viên Tiếng Anh (gốc là người Êđê), học sinh đa số cũng là người dân tộc Êđê cho nên vấn đề truyền tải kiến thức cho các em sẽ hiệu quả hơn nếu biết kết hợp linh hoạt giữa Tiếng Êđê với Tiếng Việt và Tiếng Anh. Giáo viên có thể dùng Tiếng Êđê để giải nghĩa thêm trong trường hợp giải thích bằng Tiếng Việt mà các em vẫn không hiểu, hoặc có thể dùng những câu chuyện cười của dân tộc Êđê để giải thích từ vựng, các em vừa học được từ vựng Tiếng Anh lại vừa biết thêm được câu chuyện hài của dân tộc mình, nó làm tăng mức độ, hiệu quả tiếp thu kiến thức thông qua đó sẽ làm cho các em hào hứng hơn trong việc học. Giáo viên còn có thể sử dụng những câu chào hỏi, giao tiếp bình thường như: Các em có khỏe không? Giáo viên nên sử dụng luôn Tiếng Êđê: Soaih sei mlei mơh he? – How are you? – Bạn có khỏe không? Nơng hruê anei? – What day is it today? – Hôm nay là thứ mấy? Đây là cái gì? – Nơ do anei? – What’s it? Ai đó? – Hlei pô anan? – Who’s that? Dạy từ vựng cũng sẽ đơn giản hơn nếu giáo viên lấy những từ vựng gần gũi với đời sống hàng ngày của các em đưa vào bài học. Ví dụ: Chúng ta có từ beef/bif/ – thịt bò, giáo viên có thể sử dụng từ “ip – con vịt hoặc Mao – Nấm trong Tiếng Êđê có sự tương đồng về âm với mouse /maos/ – Chuột để dạy các em cách phát âm trong Tiếng Anh để dạy các em nhớ từ bởi vì cách phát âm của hai từ này tương tự nhau nhưng chỉ khác nghĩa mà thôi. Hoặc khi dạy chữ cái Tiếng Anh, chữ cái đầu tiên trong bảng chữ cái là A /ei/ – Aê /ei/ – Ông, cách phát âm hoàn toàn giống nhau nhưng khác nghĩa mà thôi. Để giúp các em nhận thấy được sự tiến bộ trong học tập, giáo viên cần phải chú ý đến tính vừa sức trong dạy học, tránh không nên đưa ra yêu cầu quá cao đối với học sinh. Ngoài ra, giáo viên cần khuyến khích học sinh học theo phương châm thử nghiệm và chấp nhận mắc lỗi trong quá trình thực hành. Tăng cường nhận xét học sinh theo thông tư mới 22 của Bộ Giáo dục về đánh giá nhận xét học sinh bằng tam ngữ Anh – Việt – Êđê. Ví dụ: Kriăng kreh/alah alan – Chăm chỉ/lười biếng – Hard working/ Lazy. Thực tế cho thấy, có những học sinh biết nhưng không dám nói vì sợ mắc lỗi, một số em khác lại không dám phát biểu vì sợ thầy cô và các bạn cười chê. Theo tôi đây chính là yếu tố tâm lí mà giáo viên dạy ngoại ngữ cần phải xem xét để giúp các em có được hứng thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong giờ học. Mới bắt đầu làm quen với Tiếng Anh nên hầu như các em vẫn chưa nhớ từ lắm, giáo viên cần nói thường xuyên hơn với các em. Ví dụ như: Look – Nhìn – Dlang Listen – Nghe – Hmư Repeat – Lặp lại – m`a wit. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy: Để thiết lập, duy trì và tăng cường mối liên hệ của Gia đình – Nhà trường – Cộng đồng được tốt thì vai trò của Gia đình là vô cùng quan trọng. Các bậc cha mẹ cần chủ động xây dựng mối liên hệ và thường xuyên duy trì các mối liên lạc thì việc hỗ trợ con học tập và rèn luyện mới đạt hiệu quả. 3.3. Điều kiện thực hiện Mặc dù có những điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp trong quá trình giảng dạy nhưng giáo viên đã biết khắc phục, vượt lên khó khăn trước mắt, từng bước nâng cao chất lượng giờ dạy môn Tiếng Anh nhằm đáp ứng mục đích chương trình SGK mới. 3.4. Mối quan hệ giữa biện pháp, giải pháp của đề tài Thông qua việc chuẩn bị giáo án cho tiết học, để chất lượng bài giảng tốt ngoài những phần chuẩn bị đã trình bày trên, giáo viên còn phải chuẩn bị các phương tiện – thiết bị dạy học. Đây là khâu chuẩn bị cần thiết trong khi tiến hành giảng dạy ở các trường phổ thông. Có đồ dùng dạy học hoặc ứng dụng CNTT, những thí nghiệm ảo mà thực nghiệm không làm được trong tiết học là vô cùng cần thiết để minh họa chính xác cho nội dung bài giảng làm cho học sinh dễ khắc sâu kiến thức hơn. Giáo viên và học sinh càng gần gũi thì việc chia sẻ những trở ngại trong việc học của các em sẽ không còn là vấn đề hay khoảng cách đối với thầy và trò nữa, không những vậy các em sẽ cảm thấy thực sự thoải mái trong việc học, mạnh dạn hơn trong việc tiếp thu Tiếng Anh – một bộ môn ngoại ngữ mà bất kì em học sinh nào cũng cảm thấy dè dặt trong việc nắm bắt. 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 4.1. Đối với giáo

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Dạy Từ Vựng Môn Tiếng Anh Lớp 7 / 2023

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ VỰNG MÔN TIẾNG ANH LỚP 7 A. Mục đích, sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến Như chúng ta đã biết, từ nhiều năm nay Tiếng Anh đang được coi là ngôn ngữ chung , phổ biến nhất trên toàn thế giới. Việc học ngoại ngữ ngày càng được phổ biến rộng rãi và môn học này đang trở thành môn học bắt buộc trong các nhà trường. Bởi vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để có được những giờ dạy ngoại ngữ đạt hiệu quả và chất lượng cao? Để đáp ứng được yêu cầu này người giáo viên phải luôn hoàn thiện mình không chỉ về trình độ chuyên môn mà còn cần phải thay đổi phương pháp dạy học .Theo quan điểm đổi mới phương pháp dạy học hiện nay tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo được khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho các em. Và trong dạy học ngoại ngữ, những định hướng đổi mới này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm bắt các phương tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình. Giao tiếp là mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học ngoại ngữ trong các nhà trường phổ thông. Nhưng để thực hành giao tiếp được bằng tiếng anh, ngoài các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết đòi hỏi các em phải có vốn từ vựng cần thiết. Tuy nhiên, việc học từ vựng tiếng anh đối với học sinh THCS hoàn toàn không đơn giản. Đa số các em cảm thấy việc học từ vựng rất khó và mau quên do hệ thống phát âm và chữ viết khác tiếng mẹ đẻ. Từ đó, dẫn đến việc học từ vựng của các em trở nên căng thẳng. Vậy làm thế nào để giúp các em cảm thấy thoải mái hơn, thích thú hơn, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn và có thể sử dụng vốn từ đã học được vào thực hành giao tiếp. Chính do nhận thấy được sự cần thiết của việc học và ghi nhớ từ vựng nên ngay từ đầu năm học 2014-2015, khi được phân công giảng dạy môn Tiếng Anh 7 tôi đã tiến hành chọn nghiên cứu và áp dụng thực tế đề tài "MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ VỰNG MÔN TIẾNG ANH LỚP 7" nhằm nâng cao hơn chất lượng dạy và học đáp ứng được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học. B. Phạm vi triển khai thực hiện Phạm vi của đề tài là nghiên cứu về thực trạng học tập của học sinh lớp 7 từ đó đưa ra một số phương pháp dạy từ vựng cho học sinh hai lớp 7 (7A1,7A2) trường THCS Rạng Đông - xã Rạng Đông - huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên trong năm học 2014-2015. C. Nội dung 1.Lí do chọn đề tài Giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội và là tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Vì giáo dục cung cấp nhân tài và nhân lực cho xã hội. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, công nghệ, koa học, kỹ thuật đang phát triển rất nhanh. Để lĩnh hội được những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiến bộ, hiện đại của các quốc gia phát triển đòi hỏi chúng ta phải có trình độ ngoại ngữ nhất định. Mà tiếng anh đang là ngôn ngữ quốc tế, là phương tiện giao lưu quốc tế hữu hiệu nhất. Vì thế, tiếng anh là môn học không kém phần quan trọng trong các nhà trường phổ thông. Nó giúp chúng ta có thể hội nhập cùng sự phát triển nhanh chóng của thế giới, về mọi mặt. Về bản thân, tôi nhận thấy việc học ngôn ngữ ngoài việc nắm vững kiến thức về hệ thống ngữ pháp, điều không thể thiếu để học tốt ngoại ngữ đó là vốn từ vựng. Nhưng để dạy và học từ vựng như thế nào cho thật hiệu quả, đó là lí do tôi chọn nghiên cứu đề tài này. 2. Mục đích đề tài. Đề tài này được nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng ý kiến, đóng góp vào tiếng nói chung của công tác giảng dạy Tiếng Anh tại trường THCS, thông qua đó đưa ra một số phương háp dạy từ vựng môn tiếng anh lớp 7 giúp các em học sinh thật sự có hứng thú trong việc học tập môn Tiếng Anh. 3. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các phương pháp dạy từ vựng phù hợp với từng nội dung đơn vị bài học của chương trình Tiếng Anh 7, cụ thể là nghiên cứu về khả năng tiếp thu và diễn biến học tập của các em học sinh lớp 7A1, 7A2. 4. Phạm vi nghiên cứu. - Về không gian: Các em học sinh lớp 7A1, 7A2 trường THCS Rạng Đông. -Về thời gian nghiên cứu được thực hiện theo 4 giai đoạn của năm học. Giai đoạn 1:Từ đầu năm đến giữa HKI. Giai đoạn 2:Từ giữa HKI đến hết HKI. Giai đoạn 3:Từ đầu HKII đến giữa HKII. Giai đoạn 4:Từ giữa HKII đến cuối năm học. 5.Phương pháp nghiên cứu. a.Phương pháp đọc tài liệu. b.Phương pháp điều tra. Tiến hành thực nghiệm, kiểm tra và so sánh kết quả đánh giá học sinh qua từng giai đoạn để kiểm chứng các phương pháp đã nghiên cứu có phù hợp chưa và có mang lại kết quả tốt không. c.Phương pháp đàm thoại. Thường xuyên trao đổi các kinh nghiệm hay từ các đồng nghiệp trong nhóm ngoại ngữ để tìm ra thêm các phương pháp dạy từ vựng hay. Trao đổi với các đồng nghiệp trong các buổi họp tổ để được đóng góp ý kiến. d. Phương pháp thực nghiệm. Đăng kí dạy chuyên đề, dạy rút kinh nghiệm, dự giờ thường xuyên để rút kinh nghiệm từ các phương pháp dạy từ đã dùng. II. PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lý luận Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp lên lớp nói riêng là việc làm quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của đổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện hành đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Để làm được điều đó mỗi người giáo viên cần phải tìm tòi, sáng tạo trong từng hoạt động dạy học. " Lý luận dạy học hiện đại xem hứng thú là yếu tố co ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách của trẻ. Hứng thú là yếu tố dẫn tới tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực độc lập sáng tạo trong học tập. Ngược lại phong cách học tập tích cực, độc lập, sáng tạo có ảnh hưởng đến sự phát triển hứng thú và tự giác. F.Bruno cho rằng hứng thú nhận thức được hình thành qua việc tổ chức học tập như những hành động khám phá. Theo E.P.Brounovt, "Một niềm hứng thú thực sự biểu hiện ở sự bền bỉ, kiên trì và sáng tạo trong việc hoàn thành các công tác độc lập dài hơn.". Nếu học sinh được độc lập quan sát, so sánh, phân tích khái quát hóa các sự kiện hiện tượng thì các em sẽ hiểu sâu sắc và hứng thú bộc lộ rõ" ( Trích: Mối quan hệ giữa tích cực học tập và hứng thú nhận thức - Quyển Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS của Bộ giáo dục và đào tạo). 2. Cơ sở thực tiễn. Như chúng ta đã biết Tiếng Anh là một môn học tương đối khó với học sinh, nhất là học sinh vùng cao thậm chí nói tiếng phổ thông còn chưa rõ thì việc làm thế nào để gây được hứng thú cho học sinh trong giờ học ngoại ngữ luôn là câu hỏi mà các giáo viên dạy ngoại ngữ đều muốn tìm ra câu trả lời. Thực tế cho thấy, hầu hết các em học sinh là người dân tộc ít người, mới tiếp xúc với bộ môn Tiếng Anh nên còn nhiều e dè, ngại ngùng khi giao tiếp. Một số em biết nhưng không dám giơ tay, không dám nói vì ngại, một số em khác không dám phát biểu vì sợ nói sai bị các bạn chê, cô giáo cười. Theo tôi đây chính là yếu tố tâm lí mà giáo viên dạy ngoại ngữ cần phải xem xét để giúp các em có được hứng thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong các giờ học. 3. Thực trạng của đề tài nghiên cứu. * Thực trạng học sinh. Học sinh lớp 7A1 và 7A2 có tổng số là 64 em, trong đó bao gồm đủ các học sinh từ trung bình, khá, giỏi đến yếu, kém. Số học sinh khá, giỏi của lớp rất năng động, sáng tạo, tích cực học tập, tiếp thu bài tốt, tham gia tích cực vào các hoạt động của bài học. Ngược lại số học sinh yếu, kém lại rất lười học tiếp thu bài học một cách thụ động, chưa có khả năng tham gia vào các hoạt động của bài học. Có những phương pháp dạy từ vựng tạo được nhiều hứng thú cho học sinh khá, giỏi nhưng số học sinh yếu, kém lại không đủ khả năng tham gia tích cực, ngược lại có nhiều hình thức được sự hưởng ứng nhiệt tình của những học sinh yếu, kém nhưng lại gây nhàm chán cho số học sinh khá, giỏi. *Thực trạng cơ sở vật chất-đồ dùng dạy học. Trường THCS Rạng Đông vừa được xây dựng hoàn chỉnh, trường lớp khang trang, sạch đẹp. Nhà trường có phòng trình chiếu riêng nên giáo viên có thể sử dụng máy chiếu và dạy giáo án điện tử. Có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc đổi mới thực hiện nhiều hình thức, phương pháp dạy học. Trường được trang cấp bảng từ ở các lớp rất thuận tiện cho việc sử dụng đồ dùng dạy học và các thiết bị hỗ trợ khác. Dựa trên những điều kiện thuận lợi đó nhà trường đã tổ chức thực hiện giảng dạy môn Tiếng Anh theo đúng quy định của chương trình. Tuy nhiên thực tế của việc dạy và học môn Tiếng Anh của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, bất cập nên hiệu quả còn thấp, chất lượng học tập chưa cao, số học sinh đạt điểm dưới trung bình còn nhiều. *Chất lượng khảo sát đầu năm của 2 lớp 7 như sau: TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém 64 4. Nguyên nhân của thực trạng. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chính như sau: - Mức độ tiếp thu bài của các em không đồng đều gây khó khăn cho việc chọn lựa các phương pháp thật phù hợp. - Trăm phần trăm học sinh là con em các dân tộc ít người, nói tiếng phổ thông còn chưa rõ, môi trường giao tiếp ngoại ngữ của các em chưa có, các em không có điều kiện thực hành giao tiếp thường xuyên dẫn đến các em e dè, ngại nói, ngại thể hiện ý tưởng của mình bằng ngoại ngữ . 5. Biện pháp chủ yếu để thực hiện đề tài. Để giúp học sinh cảm thấy thoải mái, hứng thú học từ vựng, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn, có thể sử dụng vốn từ mới học vào thực hành ở lớp trôi chảy và chủ động huy động vốn từ đã tích lũy được để bắt chước, tái hiện, tìm tòi cách ứng xử và ứng sử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp. Thì vấn đề đặt ra đối với các giáo viên trong quá trình soạn giảng và dạy từ vựng là: Chọn từ để dạy. Sử dụng các thủ thuật phù hợp để làm rõ nghĩa của từ. Tăng cuờng sự tham gia của học sinh ở các buớc giới thiệu từ mới. Sử dụng phối hợp các kỹ năng ở các bước giới thiệu từ mới. Chọn từ để dạy. Thông thường trong mỗi bài học sẽ luôn có từ mới. Song không phải từ mới nào cũng đều đưa vào giảng dạy như nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét những câu hỏi sau: * Từ chủ động hay từ bị động? - Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là ngững từ học sinh hiểu, nhận biết và sử dụng được trong giao tiếp nói và viết. - Từ bi động (passive/ receptive vocabulary) là những từ mà học sinh chỉ hiểu và nhận biết được khi nghe và đọc Ex 1: Unit 12 Let's eat ! - tiết 73 (A1) trang114, từ mới cần dạy là: pork, stall, spinach, cucumber, papaya, durian, neither, either. Từ chủ động: pork, spinach, cucumber, papaya, durian Từ bị động: stall, neither, either Ex 2: Unit13 Activities tiết 80(A1) trang 129, Từ mới cần dạy: Skateboarding, roller-skating, rollerblading, survey, result, choice, eventhough, surprisingly. Từ chủ động: Skateboarding, roller-skating, rollerblading, survey, choice Từ bị động: result, eventhough, surprisingly *Học sinh đã biết từ này chưa? Giáo viên cần xác định rõ từ mình caanfdayj có thực sự là từ cần dạy hay không. Để tránh tình trạng giới thiệu những từ không cần thiết, và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những thủ thuật nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ này chưa. Giáo viên có thể dùng các thủ thuật như: eliciting, brainstorming, net work, thước khi giới thiệu từ mới. Ex: Unit 13 Activities Period 80 (A1) trang 129, giáo viên ôn lại từ đã học bằng thủ thuật: network. sports basketball badminton tennis football volleyball table tennis 2. Những thủ thuật làm rõ nghĩa của từ, Qua quá trình nghiên cứu tài liệu và thực nghiệm giảng dạy trên lớp, tôi đã rút ra đuợc một số thủ thuật làm rõ nghĩa từ như sau: *Dùng trực quan: Đồ vật thật (realia), tranh ảnh(picture), hình vẽ phác họa (hình que), hình cắt dán từ tạp chí, cử chỉ, điệu bộ (mime) có tác dụng mạnh mẽ đến hứng thú học tập của học sinh và giúp học sinh ghi nhớ từ nhanh hơn và lâu hơn Ex 1: Unit 5 Work and play- B1 trang 56: giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh photo để giới thiệu các từ sau: play blindman's buff Play catch play marbles Chat (v) Ex 2: Unit 7 The world of work - B2 trang 72: giáo viên sử dụng tranh để giới thiệu các từ sau: Buffalo(n) Chicken coop Chicken coop (n) Buffallo shed(n) Feed (v) Feed (v) Pig (n) Ex 3: Unit 9 At home and away A 2 trang 87, 88: Giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh sưu tầm từ sách, báo, tạp chí Shark(n) dolphin (n) turtle (n) crab (n) Ex 4: Unit 12Let's eat! A 3 trang 116: Giáo viên sử dụng đồ vaath thật hoặc vật mẫu để giới thiệu các từ sau: a plate, a pan, chopsticks, a spoon, soy sauce, salt, pepper. Ex 5: Unit 12 Let's eat! B 1 trang 119: Giáo viên dạy từ "dirty". Giáo viên giơ đồ lau bảng sạch lên và nói "It is clean". Sau Sau đó lấy đi lau bảng làm cho bẩn và nói "Now it is dirty" Ex 6: Giáo viên dùng cử chỉ điệu bộ để dạy các từ sau: to cut (Unit 9 - B1 trang 92), to comb (Unit 10 - A 3 trang 101) b) Dùng từ đã học b1. Định nghĩa (definition), miêu tả, giả ithích (explanation): Học sinh sẽ dựa vào từ đã học và hiểu biết cơ bản dời thường để đoán ra nghĩa của từ. thủ thuật này tạo cho học sinh sự tò mò và có nhu cầu tham gia vào quá trình học tập đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe cho học sinh. Ex 1: Unit 6 After school - B2 trang 65 để dạy từ: teenager giáo viên định nghĩa như sau; A teenager who is a person aged between 13 and 19 years old. Ex 2: Unit 7 The world of work - B1 trang 76 để dạy từ: homeless people, a mechanic giáo viên định nghĩa như sau: Homeless people are people who have no house to live. A mechanic is a person whose job is to repair and work with machines. Ex 3: Unit 3 At home - A 1 trang 29 để dạy từ: a bathroom giáo viên miêu tả như sau: A bathroom is a room where there is a shower to take a shower, a toilet, a place to wash your hands, etc. ¯Lưu ý: Khi sử dụng định nghĩa, miêu tả để làm rõ nghĩa của từ, chúng ta có thể kết hợp thêm ví dụ thực tế để giúp học sinh nhận biết nghĩa dễ dàng hơn. Ex: Để dạy từ: forest, giáo viên mô tả và cho ví dụ như sau: A forest is a place where you can see many green tall trees and animals like tigers, birds, . Do you know Cuc Phương forest? b2. Dùng từ trái nghĩa (antonym), đồng nghĩa (synonym): ta sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa để làm rõ nghĩa khi học sinh đã biết được 1 từ trong cặp từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Ex 1: Unit 8 Places- B5 trang 85 à sell (v)≠ buy (v) Ex 2: Unit 10 Health and hygiene - B1 trang 103 àhate (v)≠ like (v) Ex 3: Unit 9 At home and away - A 4 trang 89 à receive (v) ≠ give (v) Ex 4: Unit 10 Health and hygiene - B4 trang 105 à nervous (adj) = worried ( adj) b3. Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ: học sinh đoán nghĩa cảu từ mới được hình thành qua từ gốc. Với quy tắc này giáo viên không những giúp học sinh nắm vững lại kiến thức mà còn giúp các em phát huy tính tích cực, tự học, biết mở rộng vốn từ cho mình. Ex : Unit 13 Activities - A 3 trang 131, Giáo viên dạy các từ sau: swimmer, player swim à swimmer (A swimmer is a person who can swim) play à player (A soccer player is a person who plays soccer) b4. Tạo tình huống (situation), ví dụ (example): giáo viên thiết lập tình huống cho ví dụ dễ hiểu bằng tiếng anh, học sinh đoán nghĩa qua tình huống và có thể bắt chước, sư dụng vào ngữ cảnh giao tiếp, đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe Ex 1: Unit 7 The world of work - A 1 trang 72, giáo viên thiết lập tình huống để dạy cụm từ: be late for school như sau: Your classes start at one o'clock. You come to school at a quarter past one. You are late for school. Ex 2: Unit 9 At home and away - B1 trang 92, giáo viên thiết lập tình huống để dạy từ: clever như sau: Mrs. Mai always makes beautiful dress. She is very clever. Ex 3: Unit11 Keep fit, stay healthy- A 1 trang 107, giáo viên cho ví dụ để dạy từ: weight, height như sau: My weight is 46 kilos. My height is 1 meter 57 centimeters. Ex 4: Unit 14Freetime Fun - B1 trang 144, giáo viên cho ví dụ để dạy từ: cartoon như sau: I like cartoons such as: Tom and Jerry, Doremon, b5. Đoán nghĩa qua ngữ cảnh (context): học sinh đoán nghĩa của từ qua ngữ cảnh do giáo viên trích dẫn hoặc thiết kế. Ex: Unit12 Let's eat! - B1 trang 119, học sinh đoán nghĩa của từ: terrible, to make qua các ngữ cảnh sau: Ba has a stomachache. He feels terrible. Dirty vegetables can make people sick. *Dịch sang tiếng mẹ đẻ(translation): giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi dạy từ bị động hoặc các từ trừu tượng khó áp dụng những thủ thật trên. *Lưu ý: Để đảm bảo vận dụng hiệu quả những thủ thuật nêu trêngiáo viên nên linh động thay đổi những thủ thuật này một cách thích hợp tùy theo nội dung bài và đối tượng học sinh. c. Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới: Như đã đề cập điểm nổi bật ở phương pháp dạy học mới là tạo cho học sinh được tham gia vào quá trình học tập. Vậy tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới là cần thiết

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Học Tốt Từ Vựng Tiếng Anh / 2023

iáo viên cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu. Bước 2: "nói", sau khi học sinh đã nghe được ba lần giáo viên mới yêu cầu học sinh nhắc lại. Khi cho học sinh nhắc lại , giáo viên cần chú ý cho cả lớp nhắc lại trước, sau đó mới gọi cá nhân. Bước 3: "đọc", giáo viên viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó để đọc. Cho học sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tới một chừng mực mà giáo viên cho là đạt yêu cầu. Bước 4: "viết", sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi giáo viên mới yêu cầu học sinh viết từ đó vào vở. Bước 5: Giáo viên hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không và yêu cầu một học sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt. Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhận diện âm tiết có trọng âm và đánh dấu. Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ mới học. 1.4 Các thủ thuật củng cố từ mới: Hình ảnh kiểm tra từ vựng trên lớp Nên giới thiệu từ trong từng mẫu câu cụ thể. Ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên có thể kết hợp việc làm đó bằng cách thiết lập được sự quan hệ giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục. Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách goi một số em viết từ lên bảng, với cách này giáo viên có thể quan sát được học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao. Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế. 1. Rub out and Remember (giải thích - ví dụ) 2. Slap the board (giải thích - ví dụ) 3. What and where (giải thích - ví dụ) 4. Matching (giải thích - ví dụ) 5. Bingo (giải thích - ví dụ) 6. Lisle order vocabulary (giải thích - ví dụ). 1.5 Các kỹ năng kiểm tra Kiểm tra từ vựng của học sinh cũng là một phần quan trọng trong quá trình dạy học. Nó xác định xem học sinh nắm được từ ở mức độ nào. Việc kiểm tra thường diễn ra dưới hai cấp độ; Đơn giản và hoàn thiện. a. Kiểm tra đơn giản. Kiểm tra đơn giản là việc kiểm tra từ vựng riêng lẻ, kiểm tra ngay sau khi hoàn thành việc giới thiệu từ vựng. Các hoạt động kiểm tra ở từng bài giảng thường được giáo viên nêu ra dưới dạng các trò chơi khiến học sinh thích thú, say mê với bài học, kích thích sự ganh đua trong học tập. Ví dụ: Rub out and remember: Xóa phần từ đã giới thiệu trên bảng và yêu cầu học sinh tái tạo lại ở trên bảng Slap the board: Viết phần từ vừa giới thiệu hoặc dán tranh thể hiện từ trên bảng. Yêu cầu học sinh vỗ tay vào phần từ hoặc tranh khi nghe giáo viên đọc từ đó (từ trên bảng bằng tiếng Anh thì đọc bằng tiếng Việt và ngược lại) What and Where: Viết từ vừa giới thiệu vào các vòng tròn trên bảng, cho học sinh đọc và xóa dần các từ, sau đó yêu cầu học sinh viết lại từ đúng vị trí cũ của nó. Jumbled words: Giáo viên viết các từ với các chữ cái xáo trộn, sau yêu cầu học sinh viết lại từ cho đúng. Word square: Giáo viên chuẩn bị ô chữ có chứa các từ đã giới thiệu, yêu cầu học sinh khoanh tròn các từ mà các em tìm thấy. Netword: Học sinh viết mạng từ theo chủ điểm Bingo: Học sinh chọn 5 từ trong số các từ mà giáo viên gợi ý trên bảng, sau khi nghe giáo viên đọc, nếu học sinh nào nghe có được 5 từ trước nhất thì hô to "bingo" Guessing game: Một học sinh viết từ vào một tờ giấy hoặc sử dụng hình ảnh từ, sau đó dùng các từ khác miêu tả, diễn đạt từ đó cho các học sinh khác đoán. Matching: Một cột giáo viên viết từ, còn cột thứ hai viết khái niệm hoặc định nghĩa không theo thứ tự của cột thứ nhất, sau yêu cầu học sinh nối từ với khái niệm hoặc định nghĩa của chúng. Ordering: Giáo viên yêu cầu học sinh viết các từ vào vở, sau đó giáo viên đọc một đoạn văn ngắn có chứa các từ đó, học sinh nghe và đánh dấu thứ tự các từ theo trình tự đọc. Các kĩ năng kiểm tra được thực hiện ở mỗi giờ dạy khác nhau để tạo ra sự mới mẻ, không gây nhàm chán cho học sinh. Song ta cũng cần chú ý đến đối tượng học sinh, hay chính là trình độ nhận thức của học sinh nhanh hay chậm để đảm bảo việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên và với mọi học sinh. Đối với các học sinh khá, tiếp thu nhanh giáo viên sử dụng các kĩ năng thường mang tính chất yêu cầu học sinh tái tạo lại phần từ đã học như ; Rubout and remember, slap the board, what and where, net word ... Đối với học sinh yếu, tiếp thu chậm hơn thì sử dụng các cách kiểm tra mang tính gợi mở từ như: jumbled words, wordsquare, matching, ordering ... b. Kiểm tra hoàn thiện. Bên cạnh việc kiểm tra đơn giản, còn có kiểm tra hoàn thiện. Kiểm tra hoàn thiện được thực hiện sau khi phần từ vựng được thực hành, ôn luyện và củng cố trong các giờ thực hành nói - viết, giờ luyện kĩ năng nghe, đọc, viết. Loại kiểm tra này thường diễn ra dưới dạng kiểm tra nói hoặc viết. Giáo viên có thể thực hiện ngay trong phần "warm up" của bài dạy hoặc dưới dạng kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút, 45 phút hoặc kiểm tra học kỳ. Ví dụ: Gap fill: Học sinh điền từ vào chỗ trống để hoàn thiện một câu hoặc một đoạn văn. Choose the best anwser: Học sinh chọn đáp án đúng nhất trong các đáp án gợi ý. Put words in the right order: Học sinh sắp xếp các từ xáo trộn thành câu hoàn chỉnh. Write sentence from the words given: Học sinh viết câu từ các từ gợi ý. Chain game: Học sinh làm việc trong nhóm, người sau bổ sung ý thêm vào câu của người trước. Dictation: Học sinh nghe và chép chính tả. Nought and crosses: Học sinh thực hiện kiểm tra từ vựng dưới dạng các mẫu câu thực hành giao tiếp. Pyramid: Học sinh viết các câu theo chủ điểm dưới hình thức tổ chức từ cá nhân đến nhóm nhỏ, nhóm lớn để dần bổ xung ý cho nhau. Mục đích của việc kiểm tra hoàn thiện này nhằm kiểm tra học sinh có hiểu và sử dụng đúng từ trong các tình huống giao tiếp cụ thể không, và bên cạnh đó còn nhằm giúp học sinh xây dựng được vốn từ vựng đầy đủ và phong phú, việc kiểm tra có thể thực hiện theo từng yêu cầu cụ thể hoặc tổng hợp chung trong bài kiểm tra 45 phút hoặc kiểm tra học kỳ. - Kiểm tra nghe: Gap fill, Choose the best answer, dictation. - Kiểm tra nói : Chain game, nought and crosses - Kiểm tra đọc: Gap fill, choose the best answer. - Kiểm tra viết: Put words in the right order, write sentence from the words given, pyramid. 1.6. Hướng dẫn học sinh cách học từ vựng có hiệu quả Là giáo viên, khi dạy bất cứ môn học nào cũng mong muốn cho học sinh hiểu bài, hướng dẫn các em biết cách học một cách đạt hiệu quả cao nhât. Đối với môn Anh văn thì việc ấy lại càng quan trong hơn. Chính vì vậy tôi đã hướng dẫn cho học sinh: Học từ vựng là một sự đầu tư về thời gian và công sức mang lại niềm vui thích và lợi ích thiết thực. Ít nhất mỗi ngày dành ra 15 phút tập trung vào học từ vựng có thể cải thiện nhanh chóng vốn từ vựng của các em. Nhờ đó các em có thể tăng khả năng giao tiếp, nắm vững vốn từ sau khi học xong một bài, sau khi kết thúc chương trình của một lớp. Sở hữu vốn từ vựng phong phú sẽ giúp ích cho các em rất nhiều trong học tập, công việc cũng như ngoài xã hội sau này. Vì những điều vừa nêu ở trên, tôi đã áp dụng và hướng dẫn các em 4 bước cơ bản để tăng vốn từ vựng a. Hướng dẫn các em nhận biết từ vựng Muốn hướng dẫn các em có ý thức tự học, tự tìm tòi những từ vựng mới, tôi đã hướng dẫn các em thấy chỉ việc học trên lớp thôi là không đủ để tìm và học được từ mới. Ví dụ: khi đọc đoạn văn bản các em thường có một mong muốn nhanh chóng kết thúc văn bản đó và bỏ qua những từ không quen thuộc. Rõ ràng là khi gặp 1 từ hoàn toàn không biết, các em sẽ phải đặc biệt chú ý tới những từ dường như quen thuộc với các em nhưng lại không biết nghĩa chính xác của nó. Thay vì việc tránh những từ đó, các em cần phải nghiên cứu chúng kĩ hơn. Đầu tiên, cố gắng đoán nghĩa của từ trong văn cảnh- hay nghĩa của đoạn văn có từ đó. Thứ hai, nếu có trong tay 1 cuốn từ điển thì hãy tra nghĩa của nó ngay. Điều này có thể làm chậm quá trình đọc nhưng việc hiểu rõ nghĩa của từ hơn sẽ giúp các em đọc nhanh hơn và hiểu nhanh hơn những đoạn tiếp theo. Hãy luyện tập từ vựng hàng ngày, bất cứ khi nào các em đọc sách, nghe đài, xem ti vi hay nói chuyện với bạn bè. b. Đọc Khi đã nhận biết được từ vựng rồi thì việc đọc là bước quan trọng tiếp theo để tăng vốn từ của các em. Bởi các em sẽ thấy hầu hết các từ đều cần học. Đó cũng là cách tốt nhất để kiểm tra lại những từ mà các em đã học. Khi bạn gặp lại từ đó, bạn sẽ hiểu nó. Điều này chứng tỏ bạn đã biết được nghĩa của từ. Người giáo viên cần hướng cho các em biết nên đọc những gì? Bất cứ cái gì gây hứng thú cho các em - bất cứ cái gì làm các em muốn đọc. Nếu các em thích thể thao, có thể đọc các trang thể thao trên các báo, tạp chí, hoặc những cuốn sách về những vận động viên yêu thích. Phải cho các em thấy được rằng: người có vốn từ vựng ít thường không thích đọc chút nào cả bởi họ không hiểu nghĩa của nhiều từ. c. Dùng từ điển Có riêng một cuốn từ điển Hãy để nó ở nơi mà các em thường xuyên đọc. Khoanh tròn từ cần tìm Sau khi khoanh tròn, mắt các em sẽ tự nhiên di chuyển tới những từ mà các em vừa khoanh tròn bất cứ khi nào mở từ điển ra. Việc này sẽ giúp các em ôn tập nhanh hơn. Đọc tất cả các nghĩa của từ Hãy nhớ là 1 từ có thể có nhiều hơn 1 nghĩa, và nghĩa mà các em tìm có thể không phải là nghĩa đầu tiên xuất hiện trong từ điển. Thậm chí nếu như vậy thì nghĩa khác của từ cũng giúp các em hiểu thêm cách sử dụng của từ đó. Và trong mỗi phần giải nghĩa của từ, sẽ có thể cho các em biết thêm về quá trình phát triển tới nghĩa hiện tại của từ. Điều này có thể sẽ làm tăng hứng thú học từ vựng cũng như sẽ giúp các em nhớ lâu hơn. d. Học và ôn luyện thường xuyên Khi đã biết từ rồi, việc xây dựng vốn từ vựng đơn giản là ôn luyện từ thường xuyên cho tới khi nó nằm trong trí nhớ của các em. Tốt nhất là các em tự đề ra 1 khoảng thời gian nhất định trong ngày để học từ mới. Trong thời gian này, các em có thể tra từ điển nghĩa các từ mà các em gặp và ôn lại những từ cũ trong quá trình học. Đặt mục tiêu về số lượng từ mà các em sẽ học trong 1 ngày. 15 phút mỗi ngày sẽ mang lại kết quả tốt hơn là nửa tiếng một tuần hoặc tương tự thế. 1.7. Dạy học bằng hình thức tổ chức trò chơi: Trò chơi là hình thức giúp học sinh thư giãn đồng thời trò chơi cũng rất hữu ích trong việc thực hành nói tiếng Anh. Vì tính năng động của trò chơi, các em sẽ hăng hái phát biểu, các em vui, các em mạnh dạn trong hoạt động, các em có tính ganh đua nhau để giành phần thắng cho mình cũng như cho đội mình . Tôi cho các em xem tờ giấy gồm 10 hình về các loại thức ăn và thức uống trong thời gian 30 giây và đặt câu hỏi cho học sinh. (Trò chơi này được gọi là "Kim's Game" ) T: How many pictures are there ? S 1: 8 S 2: 9 S 3: 10 T: Ok .You're are very good. T: Tell me about the name of each picture. S 4: There are some fish, some rice, some oranges S 5: There are some fish, some rice, some oranges, some fruit, some meat S 6: There are some fish , some rice , some oranges, some fruit , some meat, some chicken. S 7: There are some fish , some rice , some oranges, some fruit, some meat, some chicken, some milk, some bananas S 8: There are some fish, some rice, some oranges, some fruit, some meat, some chicken, some milk, some bananas, some vegetables, some apples. T: Allright. You're good. You are winner Như chúng ta thấy đó chỉ có trò chơi đơn giản thôi nhưng rất sinh động và náo nhiệt, thông qua trò chơi các em được giao tiếp, được thực hành nói tiếng Anh và tìm hiểu nghĩa của từ một cách nhanh nhất và có hiệu quả nhất.. III/. KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN: 1/. KẾT QUẢ Qua quá trình áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh ngày càng có nhiều tiến bộ về học tập: Học sinh có hứng thú và tích cực hơn trong mọi hoạt động. Các tiết học trở nên sôi nổi và sinh động hơn. Học sinh hầu như đã thuộc gần hết các từ mới ngay tại lớp học. Vốn từ vựng của các em tăng lên rõ rệt. Các em học sinh yếu kém có thể sử dụng được từ vựng vào những câu đơn giản. Những học sinh khá có thể sử dụng từ vựng trong những câu phức tạp hơn. Kết quả đánh giá bằng điểm số qua các bài kiểm tra: ĐỐI CHỨNG (TRƯỚC VÀ SAU KHI ÁP DỤNG SKKN) TỔNG SỐ HỌC SINH ĐƯỢC KHẢO SÁT Học sinh hứng thú trong học tập, tiếp thu bài nhẹ nhàng Học sinh ít hứng thú trong học tập, có biểu hiện lười học. KẾT QUẢ HỌC TẬP 0 - 4 5- 6 7- 8 9 - 10 SL % SL % SL % SL % SL % SL % Trước khi áp dụng SKKN 105 58 40 87 60 54 37.2 49 34 23 15.8 19 13 Sau khi áp dụng SKKN 105 103 71 42 28.9 23 15.8 51 35.1 41 28.3 30 20.8 Chất lượng môn Tiếng Anh lớp 6 các năm do tôi phụ trách đều đạt từ 98 - 100%. Trong đó tỷ lệ khá giỏi môn hằng năm đều năm sau cao hơn năm trước. Năm học Số lượng KẾT QUẢ XẾP LOẠI MÔN TIẾNG ANH GIỎI % KHÁ % TB % YẾU % 2009 - 2010 118 19 16.1 34 28.8 45 38.1 11 17 2010 - 2011 122 23 18.8 45 36.9 43 35.2 11 9.1 2011 - 2012 105 25 23.8 40 38.1 32 30.4 8 7.7 2/. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Qua việc áp dụng thành công sáng kiến kinh nghiệm "Giúp học sinh học tốt từ vựng tiếng Anh", bản thân tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm sau: 2/. Trong một tiết chương trình giáo viên cần lựa chọn 5 - 8 từ để dạy. Các từ này phải thuộc loại hoạt động (active vocabulary) - nghĩa là các từ này học sinh sẽ sử dụng thường xuyên ở trên lớp nhằm rèn luyện các kỹ năng cơ bản. Các từ này cần có tần suất cao nghĩa là chúng xuất hiện thường xuyên trong văn bản. 3/. Không nên cho học sinh lặp lại từ quá nhiều lần vì việc lặp lại từ một cách máy móc nhiều lần sẽ không mang lại hiệu quả trong việc tiếp thu bài mà có thể làm cho bài học trở nên nhàm chán và lãng phí sức của học sinh cũng như người dạy. 5/. Cách học từ vựng của học sinh cũng là điều đáng được quan tâm, học sinh thường học từ vựng bằng cách đọc từ bằng tiếng Anh và cố nhớ nghĩa bằng tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với giáo viên, chứ chưa có ý thức tự kiểm tra lại mình, để khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có. Vì thế, các em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác. Do vậy, nhiều học sinh đâm ra chán học và bỏ quên, giáo viên cần chú ý đến tâm lý này của học sinh. Để thực hiện giảng dạy tốt từ vựng, không chỉ cần có sự đầu tư vào bài giảng, vào các bước lên lớp của giáo viên, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của học sinh. KẾT LUẬN Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình. Về phía học sinh, bên cạnh một số em học hành nghiêm túc, có không ít học sinh chỉ học qua loa, không khắc sâu được từ vựng vào trong trí nhớ, không tập đọc, tập viết thường xuyên, không thuộc nghĩa hai chiều nên giáo viên cần khuyến khích và hướng các em tích cực tham gia vào quá trình học tập. Để đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục ở cấp THCS, ngoài những yếu tố ngoại cảnh như chương trình, thời gian, trình độ của học sinh, khả năng chuyên môn của giáo viên. Điều quan trọng nhất là phương thức tổ chức của giáo viên trong một tiết dạy. Để hưởng ứng phong trào đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông, với tư cách là một giáo viên dạy bộ môn ngoại ngữ tôi rất mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình cùng với các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp xây dựng phương pháp dạy học mới ngày càng chuẩn mực, có hiệu quả hơn giúp cho các em học sinh ngày càng thích học ngoại ngữ, có thể học tập chủ động, giao tiếp tự tin bằng chính khả năng của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn. Nhận xét của Hội đồng sáng kiến trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai .... ..................................................................... An Hải, ngày 12 tháng 03 năm 2013 NGƯỜI THỰC HIỆN Trần Thị Thu Hiền MỤC LỤC NỘI DUNG Trang I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 1/. Cơ sở lý luận 1 2/. Cơ sở lý luận thực tiễn 2 II. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN 4 1.1 Xác định vai trò người giáo viên 4 1.2 Xác định vai trò của học sinh 6 1.3 Các kỹ năng giới thiệu từ vựng 8 1.4 Các thủ thuật củng cố từ mới 8 1.5 Các kỹ năng kiểm tra 9 1.6 Hướng dẫn học sinh cách học từ vựng có hiệu quả 11 1.7 Dạy học bằng hình thức tổ chức trò chơi 13 III. KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ 14 1. KẾT QUẢ. 15 2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 16 KẾT LUẬN 16

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Vài Kinh Nghiệm Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Cho Học Sinh Lớp 9 / 2023 trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!