Đề Xuất 1/2023 # Học Vấn Trong Tiếng Tiếng Anh # Top 3 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 1/2023 # Học Vấn Trong Tiếng Tiếng Anh # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Học Vấn Trong Tiếng Tiếng Anh mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

“Hãy cố gắng có được một học vấn.

“Work for an education.

LDS

Đối với người khác thì sự học vấn đã tỏ ra là một cạm bẫy.

(1 Timothy 6:9) For others, secular education has proved to be a snare.

jw2019

Nơi ông sống không có trường trung học, và ông muốn có được học vấn.

There were no high schools where he lived, and he wanted an education.

LDS

Bây giờ là lúc để theo đuổi học vấn của các em—từng bước một.

The time is now to pursue your education—drop by drop.

LDS

Học vấn rất quan trọng.

Secular education is important.

jw2019

Đạt Được một Học vấn Cao

Secure a Good Education

LDS

Tôi chưa đủ học vấn để có thể khám phá câu hỏi đó.

I have not the studies to begin to explore such questions.

OpenSubtitles2018.v3

Các bậc cha mẹ nên quan tâm đến học vấn của con cái họ

Parents should take an interest in the education of their children

jw2019

Hãy tự hỏi: “Mục tiêu của nền học vấn tốt là gì?”.

Ask yourself this, ‘What is the goal of a good education?’

jw2019

What about secular goals associated with education and a career?

jw2019

Học vấn của cổ.

Her education.

OpenSubtitles2018.v3

Một số người đang học đường lối Đức Chúa Trời có học vấn giới hạn.

Some who are learning God’s ways have had a limited education.

jw2019

Ông có gốc gác, học vấn và địa vị như thế nào?

What were his family background, education, and status?

jw2019

Theo họ, có trình độ học vấn tốt thường đồng nghĩa với việc học lên cao.

To such parents, a good education often means higher education.

jw2019

Giờ đây là lúc để chuẩn bị cho sự huấn luyện, học vấn, và một nghề nghiệp.

Now is the time to prepare for training, education, and an occupation.

LDS

Khôn ngoan trong việc hoạch định học vấn của bạn

Discernment in Planning Your Education

jw2019

Tỷ lệ tử vong ở trẻ em gắn liền với trình độ học vấn của phụ nữ

Child Mortality Closely Linked To Women ‘s Education Levels

EVBNews

Phải chăng đó là một nền học vấn cao, tài sản vật chất và đông bạn bè?

jw2019

Các em phải có được tất cả học vấn mà mình có thể đạt được.

You must get all of the education you can.

LDS

Một số người có trí nhớ rất tốt, kể cả nhiều người có trình độ học vấn thấp.

Some excel at this, including many with little if any secular schooling.

jw2019

Học vấn?

Secular education?

jw2019

Bà có trình độ học vấn là Cử nhân Luật.

His true vocation was teaching.

WikiMatrix

Tôi không có học vấn và thiếu kinh nghiệm”.

‘I am uneducated and inexperienced.’

jw2019

Họ hoạch định công việc truyền giáo, lễ hôn phối trong đền thờ, và học vấn.

They plan for missions, temple marriages, and education.

LDS

Thông Tin Quá Trình Học Vấn Trong Cv

Trong mỗi CV xin việc, phần thông tin học vấn của ứng viên là nội dung không thể thiếu và là một trong các yếu tố quan trọng để nhà tuyển dụng đánh giá được năng lực của ứng viên. Vậy bạn có hiểu được chính xác trình độ học vấn là gì để có thể ghi thông tin về quá trình học vấn trong CV nhằm thể hiện được năng lực chuyên môn của bản thân một cách hiệu quả nhất?

Học vấn được hiểu là những hiểu biết, tri thức mà mỗi cá nhân có được nhờ học tập qua những cấp bậc khác nhau (Tiểu học, Trung học, Đại học, Cao học…). Mỗi cấp độ học vấn đạt được chính là trình độ của mỗi người. Vậy trình độ học vấn có thể hiểu một cách tổng quát chính là trình độ học tập cao nhất mà mỗi cá nhân đã hoàn tất và đạt được chứng nhận trong hệ thống giáo dục.

Để làm tốt công việc trong bất cứ lĩnh vực ngành nghề nào chắc chắn chúng ta phải có kiến thức chuyên môn về ngành nghề đó. Vì vậy, khi đặt ra các tiêu chí tuyển dụng, học vấn chuyên môn của ứng viên là yêu cầu đầu tiên và bắt buộc mà nhà tuyển dụng đặt ra để tìm được những ứng viên phù hợp với vị trí công việc tuyển dụng.

Do đó, quá trình học vấn ghi trong CV là những thông tin quan trọng. Chính vì vậy, bạn cần có sự chăm chút và nêu thật cẩn thận những yếu tố về quá trình học vấn của bạn cũng như những bằng cấp mà bạn đã đạt được để có thể thực hiện mục tiêu chinh phục nhà tuyển dụng một cách hiệu quả.

Bắt đầu với trình độ học vấn cao nhất của bạn, sau đó là những cấp bậc khác theo thứ tự thời gian từ gần nhất đến xa hiện tại nhất.

Đối với mỗi trình độ, bạn cần nêu chi tiết các thông tin: Tên trường học, Chuyên ngành, Bằng cấp, Khoá học. Hãy sử dụng gạch đầu dòng hoặc bullet cho mỗi thông tin được nêu ra.

Có thể chia thành các mục nhỏ trong phần quá trình học vấn để chuyên nghiệp hoá việc trình bày giúp CV nhìn bắt mắt, rõ ràng, mạch lạc (mục Học vấn chuyên môn, mục Thành tích/Giải thưởng, mục Chứng chỉ nghiệp vụ…)

Có thể bạn nghĩ viết về quá trình học vấn trong CV cũng không có gì quá khó và chỉ là công việc liệt kê tên ngành học, bằng cấp, thời gian tốt nghiệp của bản thân. Tuy nhiên, việc viết ra những thông tin về quá trình học vấn như thế nào để ấn tượng trên CV và làm nổi bật được kiến thức chuyên môn của bản thân là điều bạn nên cân nhắc kỹ trước khi viết về các thông tin này.

Đối với sinh viên mới ra trường: Vì chưa có kinh nghiệm làm việc thực tiễn để chứng minh được năng lực làm việc của bản thân nên bạn hãy linh hoạt một chút trong việc tận dụng giá trị của những kiến thức chuyên môn về ngành nghề mà bạn đã được học, bằng cấp bạn có được và những giải thưởng trong quá trình học tập bằng cách sắp xếp thông tin quá trình học vấn của bạn lên phần đầu của CV. Những thông tin này nên nằm trên phần kinh nghiệm làm việc trong CV vì lúc này nhà tuyển dụng sẽ dễ bị thuyết phục bởi quá trình học vấn của bạn hơn kinh nghiệm làm việc.

Đối với ứng viên đã có nhiều kinh nghiệm làm việc: Lúc này, những kinh nghiệm làm việc thực tiễn của bạn phù hợp với vị trí tuyển dụng sẽ có giá trị thuyết phục nhà tuyển dụng hữu hiệu hơn trình độ học vấn với những thông tin vắn tắt. Vì thế, khi trình bày CV, bạn nên sắp xếp mục quá trình học vấn nằm sau mục kinh nghiệm làm việc sẽ dễ thuyết phục và gây ấn tượng với nhà tuyển dụng hơn.

Bỏ qua những chi tiết không hữu ích: Nếu nhà tuyển dụng không yêu cầu bạn cung cấp thông tin về bảng điểm thì bạn cũng không nên đưa chi tiết này vào phần quá trình học vấn. Đôi khi kết quả học tập của bạn được thể hiện qua những con số không được tốt cũng sẽ ảnh hưởng đến CV của bạn. Bạn có thể cân nhắc thay thế những thông tin này bằng các thông tin về giải thưởng, thành tích hay chứng chỉ chuyên môn sẽ hiệu quả hơn nếu bạn là sinh viên mới ra trường. Ngoài ra, bạn cũng có thể bỏ qua thông tin về các cấp học thấp nếu như bạn đã đạt được trình độ Đại học hoặc Sau Đại học.

So Sánh Câu Nghi Vấn Trong Tiếng Việt Và Tiếng Xơ Đăng

SO SÁNH CÂU NGHI VẤN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG XƠ ĐĂNG Vietnamese QUESTION SENTENCES IN COMPARISON WITH XODANG ones

Nguyễn Ngọc Chinh 1, Bùi Thị Dịu 2 1 Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng; nnchinh@ufl.udn.vn, HVCH ngành Ngôn ngữ, Đại học Tây Nguyên, K2016-2018; buihuyendiu@gmail.com

1.Đặc điểm tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng

1.1.Đặc điểm tiếng Việt

Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập [5], tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng…

Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là “tiếng”. Về mặt ngữ âm, mỗi tiếng là một âm tiết [3]. Hệ thống âm vị tiếng Việt phong phú và có tính cân đối, tạo ra tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa. Nhiều từ tượng hình, tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc. Khi tạo câu, tạo lời, người Việt rất chú ý đến sự hài hoà về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn.

1.3.Từ vựng

Mỗi tiếng, nói chung, là một yếu tố có nghĩa. Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt [4]. Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng…, chủ yếu nhờ phương thức ghép và phương thức láy.

* Phương thức ghép: Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật kết hợp ngữ nghĩa, ví dụ: đất nước, vợ chồng, nhà cao cửa rộng, tan cửa nát nhà… Hiện nay, đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng. Theo phương thức này, tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn từ các ngôn ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới, ví dụ: tiếp thị, karaoke, thư điện tử (e-mail), thư thoại (voice mail), phiên bản (version), xa lộ thông tin, siêu liên kết văn bản, truy cập ngẫu nhiên, v.v…

* Phương thức láy: Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ âm chi phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng, chẳng hạn: vớ va vớ vẩn, chỏng chơ, đỏng đa đỏng đảnh, thơ thẩn, lúng la lúng liếng, v.v… Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết, một tiếng). Sự linh hoạt trong việc sử dụng, tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ, vừa phong phú về số lượng, vừa đa dạng trong hoạt động. Cùng một sự vật, hiện tượng, một hoạt động hay một đặc trưng, có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị. Tiềm năng của vốn từ ngữ tiếng Việt được phát huy cao độ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của khoa học-kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, thì tiềm năng đó còn được phát huy mạnh mẽ hơn. 2.Đặc điểm tiếng Xơ Đăng Theo các nhà ngôn ngữ học, xét về quan hệ thân thuộc cội nguồn thì ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc Xơ Đăng thuộc ngữ hệ Nam Á, chi Môn – Khơme, nhánh Ba Na, nhóm Ba Na – Xơ Đăng (còn gọi là nhóm Ba Na Bắc) và thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập [1].

Ngữ âm

Trong tiếng Xơ Đăng, từ có thể có hình thức đơn tiết (chỉ có một âm tiết), hoặc có thể song tiết (gồm hai âm tiết: một tiền âm tiết và một âm tiết chính). Âm tiết (còn gọi là “tiếng”) trong từ đơn tiết là âm tiết mang trọng âm (cũng như âm tiết chính trong từ song tiết).

Tiền âm tiết (còn gọi là “âm tiết phụ”, “âm tiết yếu”, “âm tiết mờ”…) trong từ song tiết, là âm tiết đứng ở vị trí thứ nhất, đứng trước (trong mối tương quan với âm tiết chính, vì thế gọi là “tiền âm tiết”). Đây là âm tiết không mang trọng âm, được phát với lực âm học yếu, lướt, không được nhấn mạnh… so với âm tiết chính đi sau nó.

Từ vựng

Trong từ vựng Xơ Đăng có thể phân biệt các từ đơn và từ phức. Từ đơn là từ được cấu tạo chỉ bằng một yếu tố, hay nói cách khác: Không thể phân tích nó được ra thành các yếu tố nhỏ hơn nó về hình thức, mà có nghĩa. Từ phức là từ có cấu tạo bằng hai hoặc hơn hai yếu tố, hay nói cách khác có thể phân tích nó ra được thành các yếu tố nhỏ hơn, mà lại có nghĩa.

Ví dụ: các từ đơn (chỉ được cấu tạo bằng một yếu tố) [1]:

Á Tôi

Pún Bốn

Tơpui nói

Pơlê làng

Bô ‘dôi bộ đội

Từ các ví dụ trên ta thấy các từ đơn có thể có hình thức đơn tiết hoặc song tiết. Trong các từ đơn tiếng Xơ Đăng, các từ vay mượn có một vị trí đặc biệt, do số lượng không nhỏ, nhất là các từ thuộc lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa… đây là các từ đã đi vào tiếng Xơ Đăng trực tiếp qua đường khẩu ngữ hoặc chữ viết và cũng có thể đi vào tiếng Xơ Đăng qua ngôn ngữ thứ ba (chẳng hạn như mượn từ tiếng Ba Na qua tiếng Việt…) trong ngôn ngữ gốc nó có thể là từ đơn, có thể là từ phức nhưng được mượn vào tiếng Xơ Đăng nguyên khối, vì thế thường được nhận thức như một từ đơn.

Ví dụ: các từ phức

Từ phức có thể chia làm ba trường hợp như sau:

Phương thức phụ tố: các từ phức thuộc phương thức này gồm hai yếu tố trong đó có căn tố (còn gọi là từ căn, gốc từ, chính tố…) và phụ tố ( còn gọi là yếu tố phụ) là yếu tố không có khả năng đứng một mình mà chỉ có thể tồn tại khi được chắp vào căn tố.

Ví dụ: các từ rơpa rơpêh, ngéam ngêh… đều có nét chung là “rất, ở mức rất cao” (đối với các tính chất “rẻ” hoặc ngọt). Các từ xáng xếng và kơchoh kơchếng… có nét chung là “nhiều vật, nhiều thứ” (có tính chất “đắng” hoặc “ướt”).

Các yếu tố gốc, yếu tố láy trong từ láy có thể có hình thức đơn tiết, hoặc có thể song tiết.

Phương thức ghép: các từ phức thuộc phương thức này gồm hai yếu tố hoặc có thể trên hai yếu tố:

Ví dụ: – Ai làm vỡ cửa kính của lớp?

– Tại sao em làm thế?

* Câu hỏi không lựa chọn có một số tiểu loại sau:

a. Hỏi về người

b. Hỏi về vật:

c. Hỏi về cách thức, địa điểm, tính chất

e. Hỏi về thời gian

-Trong câu hỏi về thời gian, từ để hỏi có thể kết hợp với từ chỉ địa điểm, thời gian bắt đầu.

Ví dụ: – Cậu ta trở nên hư hỏng như thế từ bao giờ? – Vào lúc nào chúng ta sẽ gặp nhau?

g. Hỏi về số lượng Câu hỏi lựa chọn: Là kiểu câu hỏi trong đó có các khả năng lựa chọn, tức là điểm mốc đánh dấu phạm vi dao động bấp bênh trong nhận thức của người nói cũng được biểu hiện trên bề mặt câu.* Câu hỏi lựa chọn có một số tiểu loại sau:

a. Câu hỏi lựa chọn cấu tạo với: hay/hay là

Chúng ta nên đi xe máy hay xe buýt?

– Khả năng lựa chọn được nêu rõ đó là: mình/cậu, xe máy/xe buýt. Hoặc cũng có cả khả năng gộp cả cậu cả mình, cả xe buýt cả xe máy. Hoặc lựa chọn lần lượt cậu rồi mình, xe máy rồi xe buýt.

Ví dụ: Nó mà xinh à? (Tỏ ý ngờ vực)

Hay: Cậu có thể lấy hộ tôi cây bút được không? (mục đích cầu khiến)

4. Quan niệm và một số loại câu nghi vấn trong tiếng Xơ Đăng– Câu nghi vấn là kiểu câu dùng để biểu hiện dạng mục đích phát ngôn, trong đó, người ta nêu ra một điều coi là chưa biết, chưa rõ hoặc chưa hoàn toàn tin tưởng là đúng; người nói mong muốn và tác động để người tham gia giao tiếp hình thành câu trả lời nhằm sáng tỏ điều chưa biết, chưa rõ đó [1]. Có thể phân ra một số dạng câu nghi vấn như sau: Câu hỏi không lựa chọn: Là dạng câu hỏi có đại từ hỏiTrong tiếng Xơ Đăng cũng như trong tiếng Việt, trật tự từ không tham gia vào việc biểu hiện tình thái hỏi cho nên trong câu hỏi chứa đại từ nghi vấn, đại từ nghi vấn là yếu tố duy nhất thực hiện vai trò đó.

Cấu tạo của những câu hỏi dạng này, đại thể cũng giống như trong tiếng Việt. Vị trí của đại từ nghi vấn tương ứng với vị trí của thành tố chưa biết (tức là tương ứng với thành phần câu mà ý hỏi rơi vào).

Các đại từ nghi vấn: Trong tiếng Xơ Đăng trừ kơbố (ai), các yếu tố còn lại đều được cấu tạo trên cơ sở ghép một thành tố có ý nghĩa phạm trù chung, rất khái quát nào đó… (kiểu như nơi chốn, cách thức…) với yếu tố lai (mang ý nghĩa như gì, nào trong tiếng Việt). Như vậy ta sẽ có những tổ hợp ổn định thường dùng cả khối với chức năng hỏi theo cùng một mẫu, kiểu la lai, ti lai, u lai…cụ thể như sau:

a. Kơbố: (Hỏi về người)

Dùng để hỏi về người chưa biết (ai).

Ví dụ: – Kơbố cho pa gá? (Ai là bố nó?) – Eh va eng kơbố? (Anh hỏi ai?)

b. Klai: (Hỏi về chủng loại)

Tương tự như gì của tiếng Việt, yếu tố này nhằm hướng tới những thông tin yêu cầu chỉ rõ tên gọi, đặc trưng chủng loại của sự vật. Nó thường xuất hiện trong kiklai (cái gì), hoặc đứng ở vị trí hạn định cho các danh từ. Cụ thể như sau:

Ví dụ: – Ka kơchai klai? (Ăn rau gì?) – Roê mam klai? ( mua thịt gì?) – Pet lóang klai? (trồng cây gì?)

c. Kilai: (tách đối tượng quy chiếu cụ thể ra khỏi phạm vi sự vật đã biết)

Cách dùng như klai song nghĩa của nó là nào của tiếng Việt, khi đặt câu hỏi dạng này người hỏi nhằm hướng tới những thông tin để tách một đối tượng quy chiếu cụ thể ra khỏi một phạm vi sự vật đã biết, hay hình dung như đã biết nào đó.

Ví dụ:

Ếu kilai ó rơhú ta? (Áo nào em thích hơn?) Hỏi trong tình huống đang chọn lựa giữa một số cái áo cụ thể.

– Ái pơtám to lóang chêh, eh xo kilai? (có năm cái bút, anh lấy cái nào?)

Eh rah hlong kilai? – á xo to hlong kố. (anh chọn con dao nào? – tôi lấy con dao này)

d. To lai: (Hỏi về lượng)

Dùng để hỏi về lượng chưa biết của sự vật. Nghĩa là về vị trí, nó tương ứng với số từ trong tổ hợp số từ + danh từ. Do đó bối cảnh xuất hiện của nó thường đứng trước danh từ. Cũng có trường hợp danh từ đi sau có thể bị tỉnh lược đi khi hoàn cảnh đã rõ.

To lai có thể dùng để hỏi về số lượng bất kì. Nghĩa là nó có thể hỏi bất kì đối tượng nào cùng một câu hỏi. Ví dụ có thể dùng câu hỏi hỏi tuổi của một em bé để hỏi cụ già, ví dụ: eh to lai hơnám? (cháu mấy tuổi rồi?). Còn tiếng Việt thì phân biệt rất rõ đối tượng. Ví dụ: Cụ bao nhiêu tuổi ạ? Cháu mấy tuổi?

U lai là từ để hỏi về nơi chốn chưa biết.

Ví dụ: – Pa ó lám u lai? – Bố em đi đâu?

– Tíu vai te phái u lai? – Chỗ người ta bán gạo ở đâu?

f.Ti lai: (Câu hỏi dùng để hỏi về thông tin miêu tả định tính và nguyên nhân)

+ Nghĩa hỏi thông tin miêu tả định tính. Ti lai tương tự như những tổ hợp ra sao, thế nào của tiếng Việt. Vị trí của ti lai luôn đứng sau các vị từ hoặc các từ đảm nhận chức năng vị ngữ. Câu hỏi với ti lai, người hỏi chờ đợi được cung cấp những thông tin mang tính miêu tả, đánh giá.

Ví dụ: – Gá chai ti lai? – Ông ấy đau thế nào?

– Pa á chai ko, chai ó! – Bố tôi đau đầu, đau lắm!

+ Nghĩa hỏi về nguyên nhân: dùng với nghĩa này vị trí của ti lai luôn đầu câu.

Ví dụ: – Ti lai pó trôh a kố?– Vì sao hai anh đến đây?

– Xúa á ối a pơlê ê, á nếu trôh a kố. – Vì tôi ở làng khác, tôi mới đến đây.

g. Câu hỏi có dùng tiểu từ há ở cuối câu. (Há tương tự như yếu tố hở, nhỉ trong tiếng Việt)

Trong trường hợp muốn nhấn mạnh, há có thể đứng ngay sau đại từ hỏi. Thậm chí kèm theo đó đại từ hỏi có thể tách ra khỏi vị trí bình thường để đứng đầu câu.

Câu hỏi lựa chọn

a. Câu hỏi có khung trả lời có – không, đã – chưa.

Dạng câu hỏi này trong tiếng Xơ Đăng được cấu tạo bằng những phương tiện riêng, có đặc điểm cấu tạo riêng chứ không sử dụng các cặp từ có cấu tạo sóng đôi kiểu đối lập như tiếng Việt. Cụ thể như sau:

b. Câu hỏi có khung trả lời tuyển chọn giữa những khả năng cụ thể được nêu trong câu.

Để đặt câu hỏi này chỉ cần đặt yếu tố biểu thị quan hệ tuyển chọn lo ở giữa các khả năng cụ thể mà người nói đề xuất.

Ví dụ: Eh trôh a hngêi hngêi gá hôm cho? – Anh đến nhà nó có phải không?

Ví dụ: – Eh trôh a gá hôm ‘lo? – Anh đến nhà nó có phải không?/ anh đến nhà nó có phải chăng?

Ví dụ: Á hlogá krôu. Gá hing klea ‘lo? – Tôi thấy nó khóc. Nó đói chăng?/ nó đói hẳn?

+ Ẽ là những tiểu từ tình thái cuối câu, có phân biệt ít nhiều sắc thái cảm xúc. Ẽ tương tự như à, ư của tiếng Việt. Nó thường thể hiện cảm xúc mạnh hơn của người nói, ít nhiều có sự ngạc nhiên do những điều mà anh ta có thể nghĩ xuất phát từ khách quan biết được vào lúc phát ngôn là nằm ngoài chờ đợi.

Ví dụ: – Lám ulai me? – á trôh hngêi eh, eh athế lám ulai me ẽ? – Đi đâu đấy?- tôi đến nhà anh, mà anh lại phải đi đâu à?

Trong nội dung của bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ đề cập tới sự tương đồng và khác biệt trong câu nghi vấn trong tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng.

6. Sự tương đồng giữa câu nghi vấn trong tiếng Việt và tiếng Xơ Đănga. Mục đích: Câu nghi vấn là kiểu câu dùng để biểu hiện dạng mục đích phát ngôn, trong đó, người ta nêu ra một điều coi là chưa biết, chưa rõ hoặc chưa hoàn toàn tin tưởng là đúng; người nói mong muốn và tác động để người tham gia giao tiếp hình thành câu trả lời nhằm sáng tỏ điều chưa biết, chưa rõ đó [1].

b. Chức năng: Chức năng chính của câu nghi vấn là dùng để hỏi, tuy nhiên bên cạnh những câu hỏi chính danh thì còn có kiểu câu hỏi không chính danh mà cả ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng đều có.

c. Các kiểu câu nghi vấn:

Trong tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng, về cơ bản cùng có một số kiểu câu nghi vấn giống nhau, đó là câu hỏi lựa chọn và câu hỏi không lựa chọn, câu hỏi toàn bộ. Về cơ bản thì cấu trúc cũng như cách sử dụng câu nghi vấn của cả hai ngôn ngữ này đều giống nhau.

Ví dụ:

*Câu hỏi không lựa chọn: Xem bảng 1

Bảng 1. So sánh câu hỏi không lựa chọn của tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng

* Câu hỏi lựa chọn: Xem bảng 2

Bảng 2. Câu hỏi lựa chọn trong tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng

7. Sự khác biệt giữa câu nghi vấn trong tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng

Ngoài những điểm tương đồng thì câu nghi vấn trong tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng cũng có những điểm khác biệt như sau:

a. Câu hỏi không lựa chọn: Ở dạng câu hỏi này điểm khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng là ở tiểu loại câu hỏi dùng tiểu từ.

* Câu hỏi có dùng tiểu từ: há trong tiếng Xơ Đăng và hở, nhỉ trong tiếng Việt ở cuối câu.

Ví dụ: – Cha em đi đâu + (tiểu từ)?

Có thể biểu đạt sự khác nhau ở trên bằng bảng 3.

Pa o lám u lai Bảng 3. So sánh tiểu từ há (tiếng Xơ Đăng) và hở, nhỉ trong tiếng Việt há? /

* Câu hỏi lượng độ nhưng không gắn với danh từ mà gắn với tính từ: Xem bảng 4.há

Bảng 4. So sánh câu hỏi lượng độ nhưng không gắn với danh từ mà gắn với tính từ

b. Câu hỏi lựa chọn: Sự khác biệt giữa câu nghi vấn trong tiếng Việt và tiếng Xơ Đăng ở tiểu loại này thể hiện ở một số điểm sau, trong bảng 5.

Bảng 5. So sánh câu hỏi lựa chọn

8. Kết luận

N.V.Xtankevich, Loại hình các ngôn ngữ, Nhà xuất bản Đại học và THCN, H., 1982.

Поделитесь с Вашими друзьями:

10 Câu Tiếng Nhật Bạn Nên Sử Dụng Trong Buổi Phỏng Vấn

Cách nhanh nhất để gây ấn tượng với nhà tuyển dụng khi phỏng vấn ở công ty Nhật là sử dụng chính ngôn ngữ này trong suốt quá trình giao tiếp. Dù trình độ của bạn chỉ ở mức giao tiếp cơ bản hay bạn đã có thể nói chuyện lưu loát như người bản địa nhưng nếu bạn có thể nhanh trí đệm thêm 10 câu nói “cộp mác” người Nhật thì buổi phỏng vấn chắc chắn sẽ dễ thở hơn và kết quả cũng sẽ thành công như bạn mong đợi.

1. Cảm ơn vì đã dành thời gian để phỏng vấn tôi ngày hôm nay

本日はお時間をいただき、ありがとうございます。

Kyo wa o-jikan o itadaki, arigato gozaimasu.

Gửi lời cảm ơn đến nhà tuyển dụng đã sắp xếp thời gian cho cuộc phỏng vấn là câu nói thể hiện sự tôn trọng và phong thái lịch sự, chúng sẽ giúp bạn ghi điểm ngay lập tức. Nét văn hóa “cảm ơn” đã ăn sâu vào trong phong cách sống và làm việc của người Nhật, vậy nên nếu bạn sử dụng chúng đúng lúc thì càng chứng tỏ bạn hiểu người bản địa, dễ hòa nhập với môi trường mới.

仕事を覚えるのは早い方だと思います。

Shigoto wo oboeru nowa hayaikata da to omoimasu.

Sếp Nhật rất đề cao tinh thần học hỏi của nhân viên và cũng như ở nhiều đất nước khác, họ cũng không muốn mất quá nhiều thời gian chỉ để chứng kiến nhân viên của mình tiến lên chậm rãi. Nếu bạn thể hiện được sự quyết đoán, khả năng nắm bắt vấn đề và cho nhà tuyển dụng thấy bạn luôn hào hứng với những điều mới mẻ thì bạn sẽ có cơ hội đậu phỏng vấn.

3. Tôi đã làm trong lĩnh vực này nhiều năm rồi

この分野なら、長年の経験があります。

Kono Bun-ya nara, naganen no keiken ga arimasu.

Còn gì tuyệt vời hơn khi bạn đã có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực, vị trí mà bạn đang ứng tuyển, đừng quên thông báo điều đó với nhà tuyển dụng. Nếu họ cảm thấy ấn tượng với bạn, họ sẽ đưa ra những câu hỏi sâu hơn để khai thác thêm thông tin cần thiết.

4. Tôi có mang theo hồ sơ năng lực (portfolio) phòng trường hợp bạn muốn xem

これまでの実績をまとめた資料を持参しました。こちらです。

Kore made no jisseki o matometa shiryo o jisan shimashita. Kochira desu.

Câu nói này cho thấy bạn có sự chuẩn bị kỹ càng và niềm đam mê bạn dành cho công việc là vô cùng lớn, đó là lý do bạn sẽ chiến thắng cơ hội này.

5. Tôi có thể làm việc rất tốt với các bản thảo

原稿の整理や校正もできます。

Genko no seiri ya kosei mo dekimasu.

6. Tôi đang tìm kiếm một thử thách thực sự

やりがいのある仕事を求めています。

Yarigai no aru shigoto o motomete imasu.

Câu nói này cho thấy bạn đánh giá cao công ty và bạn nhận thấy công ty sẽ mang lại những thử thách thực sự cho bạn, giúp bạn phát triển bản thân cũng như con đường sự nghiệp.

7. Tôi tin rằng mình có thể nâng cao tinh thần đoàn kết của cả đội

チームワークを育てることがとても重要だと考えています。

Chi-mu wa-ku o sodateru kotoga totemo juyo da to kangaete imasu.

Tinh thần đoàn kết, làm việc theo nhóm là một yếu tố bắt buộc phải có nếu như bạn muốn gắn bó lâu dài ở công ty Nhật, đặc biệt khi bạn ứng tuyển các vị trí leader, manager trở lên thì kỹ năng kết nối mọi người và phát triển tinh thần đội nhóm lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.

8. Tôi có thể bắt đầu công việc ngay

今すぐ、始められます。

Ima sugu, hajimeraremasu.

Bất cứ nhà tuyển dụng nào cũng mong được nghe câu nói này từ miệng của các ứng viên. So với những ứng viên bắt đầu công việc sau 1 tháng, nếu bạn có thể ngay lập tức hỗ trợ công ty thì bạn đã nắm khoảng 70% chiến thắng.

9. Tôi luôn sẵn sàng học hỏi để cải thiện tiếng Nhật của mình

日本語が上達するよう努力を続けてまいります。

Nihongo ga jotatsu suru yo doryoku o tsudukete mairimasu.

Tiếng Nhật là một công cụ giúp kéo gần khoảng cách giữa bạn và sếp, muốn được trọng dụng và thăng tiến trong công ty Nhật thì việc học tập, trau dồi tiếng Nhật là việc làm hết sức cần thiết. Không cần đợi đến khi được tuyển làm nhân viên chính thức thì bạn mới bắt đầu làm điều đó mà ngay từ buổi phỏng vấn này, hãy thể hiện rõ quyết tâm.

10. Tôi dự định sẽ sống ở Nhật trong một vài năm tới

当面は日本にいるつもりです。

Tomen wa Nihon ni iru tsumori desu.

Định hướng sống và làm việc ở Nhật trong một vài năm tới cho thấy bạn yêu nước Nhật và có tính thích nghi cao. Nhà tuyển dụng chẳng những cảm thấy yêu quý bạn, muốn tuyển dụng bạn mà rất có thể sẽ tạo điều kiện cho bạn được chuyển công tác sang Nhật trong tương lai.

Mọi thông tin liên hệ:

Việc làm chúng tôi Website tuyển dụng nhân sự tiếng Nhật, tìm việc làm tiếng Nhật uy tín tại Việt Nam. Chuyên tuyển dụng các Jobs tiếng Nhật cấp cao cho các Cty tầm cỡ của Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Học Vấn Trong Tiếng Tiếng Anh trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!