Đề Xuất 12/2022 # Gìn Giữ Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Pakô / 2023 # Top 17 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 12/2022 # Gìn Giữ Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Pakô / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Gìn Giữ Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Pakô / 2023 mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Với trái tim đầy nhiệt huyết, luôn mong muốn giữ gìn, phát huy những nét đẹp truyền thống về văn hóa đẹp đẽ của đồng bào dân tộc Pakô, ông Kray Sức (1964), xã Tà Rụt, huyện Đakrông (Quảng Trị) ngày ngày cần mẫn sưu tầm, gìn giữ những nét đẹp văn hóa và truyền dạy cho thế hệ mai sau…

Dưới ánh lửa bập bùng, giữa căn nhà sàn đơn sơ, trong đêm khuya thanh vắng, tiếng hát của Kray Sức cùng với điệu cồng chiêng bập bùng của già làng Hồ Văn Ing như hòa quyện với âm thanh của núi rừng vang xa: “Đêm thanh trăng sáng giục tìm ai/Một mình trong đêm dưới bóng cây/Sao vắng vẻ chỉ nghe tiếng dế kêu/Em còn ở nhà sao không thấy ra…”.

Những lời ca, tiếng hát là nỗi lòng, và cũng là tinh hoa của biết bao thế hệ người Pakô đi trước truyền lại cho thế hệ mai sau. Những lời yêu thương ca ngợi về tình yêu đôi lứa, về đất trời vũ trụ, về quê hương, sông suối, gia đình…, tất cả đã hòa quyện trong những âm thanh khi trầm, khi bổng, lúc rộn rã vui tươi, khi đượm buồn ai oán, đưa con người chìm lắng vào những giai điệu khác nhau của các cung bậc cảm xúc.

Sinh ra và lớn lên trên vùng biên giới giáp Lào, từ khi còn nhỏ, những làn điệu dân ca, những điệu múa mê hoặc lòng người, cùng với những phong tục, tập quán của đồng bào đã in sâu vào tiềm thức của cậu bé Kray Sức. Niềm đam mê ấy cứ lớn dần lên, mơ ước có thể lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình ngày càng sâu sắc. Trong những buổi sinh hoạt tập thể, với năng khiếu cũng như sự am hiểu của mình, Kray Sức đã thể hiện những tiết mục văn nghệ đặc sắc, thu hút nhiều người xem.

Sau khi học xong, năm 1983, Kray Sức về công tác tại xã Tà Rụt, tham gia nhiều công việc khác nhau, cho đến năm 2004 ông chính thức phụ trách lĩnh vực văn hóa của xã. Cũng từ đây, cuộc đời ông sang một trang mới, và niềm đam mê của ông như được chắp cánh. Hàng ngày, trên những ngọn đồi xa xôi, ông tìm đến từng căn nhà sàn để tìm hiểu, sưu tầm, ghi chép những làn điệu dân ca, những câu chuyện cổ tích, các phong tục, tập quán; các dụng cụ, nhạc cụ truyền thống… Đêm về dưới mái nhà sàn, bên ánh sáng của ngọn lửa cháy bập bùng ông bắt đầu nghiên cứu, tổng hợp và dịch các bản nhạc từ tiếng Pakô sang tiếng Việt, biên soạn giáo án để dạy lại cho thế hệ trẻ.

Với sự nhiệt tình, tận tâm cùng tình yêu sâu sắc của mình, đến nay ông đã nghiên cứu cho ra đời nhiều tác phẩm văn hóa đặc trưng có giá trị, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, ông đã thuyết phục vận động bà con thực hiện nếp sống văn hóa, lưu giữ những phong tục tập quán tốt đẹp không để mai một. Nhờ đó, đến nay xã Tà Rụt đạt 100% làng văn hóa và gia đình văn hóa, trong đó 7 thôn là làng văn hóa cấp huyện và 1 thôn được công nhận làng văn hóa cấp tỉnh…

Ông Kray Sức cho biết, đồng bào dân tộc Pakô có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Pul Boh (lễ giữ rẫy), Aya (ngày hội mùa) và Ariêu Pling (lễ bốc mả)… nhưng hiện nay ít ai có thể hiểu được hết ý nghĩa sâu xa của những lễ hội này. Thời gian trôi nhanh, những người am hiểu văn hóa Pakô ngày càng ít. Sau này khi những nghệ nhân lớn tuổi mất đi, e rằng những nét đẹp văn hóa này cũng vì thế mà mai một…

Trăn trở của Kray Sức cũng chính là suy nghĩ chung của những người đam mê văn hóa dân tộc Pakô nói riêng và văn hóa đất nước Việt Nam nói chung. Bằng công sức của mình, đến nay ông đã sưu tầm được gần 100 cồng, chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống như trống Toong, sáo Khui, khèn Bè, sáo Tirel… Đặc biệt, ông đã dìu dắt và đào tạo 12 người trẻ tuổi biết đánh cồng chiêng, 8 người biết đánh đàn Âmpreh, 5 người biết thổi khèn, 14 người biết hát các làn điệu dân ca dân tộc Pakô… Ông cho biết, hiện nay đang hoàn thiện tác phẩm nghiên cứu mang tên “Tìm đến người Pakô” giới thiệu lịch sử, đặc điểm văn hóa và con người, cũng như những thành tựu của người Pakô đã đạt được để giới thiệu trong lễ hội Ariêu Pling sắp tới…

Với những đóng góp của mình, trong nhiều năm liền Kray Sức luôn được chọn làm Trưởng đoàn văn hóa, nghệ thuật truyền thống của người Pakô tham gia biểu diễn ở các hội thi lớn được tổ chức tại miền Trung – Tây Nguyên hay Hà Nội. Bản thân ông cũng vinh dự được nhận Bằng khen của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng nhiều huy chương khác trong việc giữ gìn, lưu giữ và phát huy vốn bản sắc riêng của dân tộc Pakô mình.

Ông Trần Văn Chạy, Trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện Đakrông, Quảng Trị cho biết: Kray Sức là một cán bộ văn hóa có nhiều đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, giữ gìn, truyền dạy cho thế hệ trẻ về những nét đẹp phong tục, tập quán, lễ hội và các làn điệu dân ca dân tộc Pakô. Ông luôn nhiệt tình, không quản ngại khó khăn, tích cực đóng góp cho văn hóa, văn nghệ của địa phương và huyện nhà, góp phần quảng bá hình ảnh quê hương. Hiện nay, Kray Sức tuy chưa được phong là nghệ nhân nhưng trong lòng đồng bào và những người yêu quý văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Pakô đều xem ông là một nghệ nhân lớn của buôn làng…

Giữ Gìn Ngôn Ngữ Là Bảo Tồn Văn Hóa Tộc Người Dao Tiền / 2023

Bố mẹ tôi sinh được ba người con, nhưng cả ba anh em chúng tôi đều không thể sử dụng thành thạo một loại tiếng Dao nào. Vậy điều gì khiến thế hệ thứ ba chúng tôi mất đi tiếng nói của dân tộc mình? Ðể gìn giữ ngôn ngữ của dân tộc, chúng tôi phải làm gì? Ðó vẫn là những câu hỏi lớn mà anh em tôi đang phải tìm câu trả lời. Vì ngôn ngữ không chỉ là một thành tố cơ bản của văn hóa, một biểu hiện của những giá trị nhân văn, mà còn là phương tiện để hình thành và lưu truyền các hình thái quan trọng nhất trong đời sống văn hóa của người Dao Tiền. Giữ được ngôn ngữ của dân tộc mình cũng là góp phần bảo tồn và phát triển sự đa dạng trong văn hóa của người Dao Tiền nói riêng và cộng đồng dân tộc Dao nói chung.

Theo chúng tôi, dù là tiếng Dao Tiền, tiếng Mông hay tiếng Kinh thì môi trường giao tiếp là điều kiện tiên quyết để ngôn ngữ đó tồn tại hay không tồn tại. Muốn giữ được tiếng mẹ đẻ tất yếu phải giữ được những làng bản riêng của từng dân tộc, nếu việc “cộng cư, cộng sinh” có diễn ra thì khi đi học, đi làm có thể giao tiếp bằng tiếng Việt nhưng lúc trở về với gia đình, cha mẹ phải giao tiếp với con bằng ngôn ngữ của dân tộc mình. Làm được điều đó, chắc chắn ngôn ngữ mẹ đẻ của mỗi dân tộc không dễ gì mà mất đi được.

Trong xu thế hội nhập về văn hóa và ngôn ngữ, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số, tiếng Dao nói chung và tiếng Dao Tiền nói riêng đã có những thay đổi nhanh chóng trên nhiều phương diện. Một trong những thay đổi dễ nhận thấy nhất và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm đó là tiếng Kinh sử dụng rộng rãi trong làng bản của người Dao dẫn đến tình trạng ngôn ngữ Dao đang dần bị mất đi. Ðể gìn giữ tiếng mẹ đẻ của người Dao, theo chúng tôi cần ba điều kiện cơ bản:

Thứ nhất là điều kiện tự nhiên: Ðịa bàn sinh sống của người Dao nói chung và người Dao Tiền nói riêng phải mang đậm tính chất tộc người, khi sống xen kẽ với các dân tộc khác vẫn phải duy trì ngôn ngữ của dân tộc mình, không để ngôn ngữ phổ thông và ngôn ngữ của các dân tộc khác chi phối.

Thứ hai là điều kiện xã hội: Ngôn ngữ dân tộc Dao (cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết) phải được đưa vào dạy trong các trường phổ thông dân tộc nội trú; cần có những biện pháp cụ thể để khích lệ được đồng bào sử dụng rộng rãi tiếng mẹ đẻ trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc mình.

Và thứ ba là điều kiện gia đình: Các gia đình người Dao phải là nơi lưu giữ và duy trì ngôn ngữ của dân tộc mình, cha mẹ chính là người giúp các em có nhiều cơ hội sử dụng tiếng mẹ đẻ cũng như khơi dậy lòng tự hào về ngôn ngữ của dân tộc, lấy ngôn ngữ dân tộc làm gốc, từ đó các em nhỏ có vốn ngôn ngữ cơ bản tiếp thu, học tập tiếng phổ thông.

Trước thực trạng tiếng nói và chữ viết của người Dao đứng trước nguy cơ mai một, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng người Dao cần có những chương trình hành động mạnh mẽ hơn. Thí dụ như khuyến khích, vận động người Dao ở các bản làng giao tiếp hằng ngày bằng tiếng dân tộc mình; tuyên truyền cho đồng bào hiểu giá trị của ngôn ngữ mẹ đẻ để họ thấy tự hào, từ đó ý thức hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa dân tộc, tránh tình trạng sử dụng thiên lệch ngôn ngữ của dân tộc khác trong đời sống tộc người.

Tiếp tục thu thập, bảo tồn và phổ biến các văn bản viết bằng chữ Nôm Dao để nâng cao trình độ thưởng thức cũng như giáo dục cho đồng bào biết quý trọng những di sản văn hóa của dân tộc của mình. Ngay bây giờ, chúng ta cần có chính sách lưu giữ, dịch thuật các văn bản văn học của người Dao trước khi những người biết chữ Nôm Dao mất đi. Trên truyền thông đại chúng, nên có thêm thời lượng phát sóng chương trình tiếng Dao với nội dung tuyên truyền, giáo dục ý thức gìn giữ ngôn ngữ của dân tộc mình.

Căn cứ vào những chính sách ngôn ngữ đúng đắn của Ðảng và Nhà nước, chúng ta cần sớm xây dựng một bộ từ điển Dao – Việt và dạy tiếng Nôm Dao rộng rãi trong các trường phổ thông dân tộc nội trú, khuyến khích giới công chức, viên chức người Dao làm việc tại địa phương học và sử dụng tiếng Dao.

Bản thân là người dân tộc Dao Tiền, chúng tôi luôn mong muốn, dù sống ở xa quê hương nhưng ngôn ngữ Dao của thế hệ chúng tôi không bị mất đi để mỗi lần trở về quê sẽ được nghe con cháu người Dao Tiền nói đúng tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng làng bản của mình.

Phong Tục Văn Hóa Dân Tộc Mạ / 2023

(VOV5) -Cũng như nhiều dân tộc khác, ngày nay do nhiều lý do khách quan và chủ quan, một số phong tục văn hóa truyền thống của bà con có phần bị mai một.

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt nam, đồng bào Mạ là dân tộc thiểu số  với dân số khoảng trên 40 nghìn người, cư trú ở 34 tình thành phố trong cả nước, song phần lớn cư trú tại các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai. Từ bao đời nay, người Mạ sống chủ yếu làm nương rẫy, vì vậy đồng bào còn giữ được nhiều phong tục tập quán tín ngưỡng văn hóa mang đậm dấu ấn của dân tộc mình.   

Cũng giống như các tộc người sinh sống ở cao nguyên Tây Nguyên hùng vĩ, người Mạ sinh sống tập trung theo từng làng gọi là Bon. Trước đây, mỗi Bon có từ 5-10 nhà sàn dài, là nơi cứ trú của gia đình lớn hay nhiều gia đình nhỏ có cùng quan hệ huyết thống. Mỗi gia đình đều có kho lúa và bếp ăn riêng. Tuy nhiên cuộc sống ngày nay đã có nhiều thay đổi , những ngôi nhà sàn dài không còn nhiều mà thay vào đó là những ngôi nhà sàn ngắn dành cho các gia đình nhỏ. Cũng như các  dân tộc ở Tây Nguyên, người Mạ có nét bản sắc  riêng, thể hiện trước hết ở các bộ trang phục truyền thống dệt bằng vải thổ cẩm.

 Người Mạ còn có một thể loại văn học truyền miệng là những truyện rừng- Ảnh: Báo Dân tộc miền núi

Theo phong tục truyền thống, những cô gái Mạ lên 9, lên 10 tuổi đã được Bà, Mẹ truyền nghề, dạy cách dệt thổ cẩm. Để dệt nên tấm thổ cẩm đẹp mắt, người Mạ phải thực hiện rất nhiều công đoạn, từ trồng bông, xe sợi, nhuộm màu, lên khung rồi mới ngồi vào dệt. Chỉ với một bộ khung gồm nhiều thanh gỗ và tre đơn sơ, gọn nhẹ nhưng người Mạ đã tạo nên những tấm thổ cẩm với những đường nét hoa văn sinh động, màu sắc bắt mắt. Trên tấm thổ cẩm, bà con thường chọn dệt những hình thù đặc trưng của đồng bào như: cây cối, chim, muông thú, nhà sàn, cây nêu… Ngày nay, dù chỉ màu công nghiệp đã trở nên phổ biến nhưng bà con vẫn giữ cách trồng bông, xe sợi, nhuộm màu và dệt hoa văn truyền thống của ông, bà để lại.

Chị Ka Thoa, dân tộc Mạ ở Bon  Đạ Nghịch, xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, cho biết: “Lên lớp 4 em đã được mẹ truyền lại nghề dệt thổ cẩm. Bây giờ hầu như đã biết hết rồi, còn những cái công phu thì phải học hỏi thêm từ những người cao tuổi, những người già làng. Bởi vì dệt thổ cẩm, nghề truyền thống thì mình không thể bỏ, phải bảo tồn nghề của ông bà và giữ lại nét văn hóa của cha ông.”

Trang phục và Cồng chiêng của người Mạ ở huyện Bảo Lâm tham gia biểu diễn nhiều nơi.-Ảnh Dulich.vn

Sự đa dạng về màu sắc, phong phú về hoa văn đã tạo nên nét đặc sắc trong trang phục thổ cẩm của đồng bào Mạ. Đó cũng là nét đẹp riêng có của thổ cẩm Mạ so với thổ cẩm của đồng bào các dân tộc khác trong cả nước.

Ông Nguyễn Đắc Lộc nhà nghiên cứ văn hóa dân tộc ở tỉnh Lâm Đồng cho biết: “Lễ vật gồm các con dê, gà, vịt và các ché rượu cần. Theo quan niệm của người Mạ : dê là đại diện cho rừng thiêng, vịt đại diện cho nước và gà đại diện cho cuộc sống thường nhật, vì thế 3 lễ vật này không thể thiếu trong lễ cúng.”

Cộng đồng người Mạ có vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là “tam bớt”.

Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6 chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng sừng trâu.Những sinh hoạt văn hóa văn nghệ thông qua những nhạc cụ độc đáo như: chiêng, trống, khèn bầu…trong đó nghệ thuật đánh cồng chiêng có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tinh thần của bà con, theo quan niệm của người Mạ xưa, các chiêng cũng có đời sống tinh thần như con người  có luc vui, lúc buồn,,,giống như con người,

Cũng như nhiều dân tộc khác, ngày nay do nhiều lý do khách quan và chủ quan, một số phong tục văn hóa truyền thống của bà con có phần bị mai một. Trước đây, bà con theo tín ngưỡng đa thần nên thường có nhiều lễ nghi theo thời vụ, vòng đời con người. Hiện nay, nhiều hộ không theo tín ngưỡng đa thần nữa nên có rất nhiều nghi lễ, lễ hội mất dần.

Những năm gần đây, được sự giúp đỡ của ngành văn hóa các tỉnh nà con người Mạ cũng đã chú trọng vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, nhất là các lễ nghi và nghề truyền thống. Tại các tỉnh có đồng bào Mạ sinh sống, với việc thực hiện đề án “Bảo tồn lễ hội, hoa văn, cồng chiêng và nhạc cụ các dân tộc tại chỗ” nhiều phong tục văn hóa tốt đẹp của bà con đã được quan tâm, bảo tồn bền vững.

Người Giữ Gìn Văn Hóa Và Tiếng Việt Cho Việt Kiều Ở Thái Lan / 2023

(HNMO) – “Với tôi dạy tiếng Việt cho người Việt ở Thái chính là cách học tập, và làm việc theo tấm gương của Bác một cách thiết thực nhất”, bà Nguyễn Thị Xuân Oanh chia sẻ.

Cơ duyên cho tôi gặp bà Nguyễn Thị Xuân Oanh – một Việt kiều Thái sinh sống ở tỉnh Udon Thani (Thái Lan), người có thâm niên hàng chục năm dạy tiếng Việt miễn phí cho người Việt ở Thái. Với dáng người bé nhỏ và luôn tươi cười, bà Xuân Oanh toát lên vẻ hiền từ của một cô giáo luôn cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người.

Bà Xuân Oanh tại buổi “Giao lưu điển hình tiêu biểu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” ngày 12-5 tại Hà Nội.

Bà Nguyễn Thị Xuân Oanh (sinh năm 1948 tại Thái Lan) luôn gương mẫu, tận tuỵ trong mọi hoạt động của Việt kiều tại Thái Lan. Bà từng được Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài mời về nước, đại diện cho Việt kiều Thái Lan dự các sự kiện quan trọng. Bà Xuân Oanh là Việt kiều duy nhất dạy tiếng Việt miễn phí cho con em kiều bào liên tục từ năm 2004 đến nay.

Bà luôn đi đầu, động viên nhiều cựu giáo viên Việt kiều dạy miễn phí tại Trường tiếng Việt Khánh An ở chùa Khánh An, Udon Thani và được Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh tặng bằng khen vì thành tích xuất sắc trong giảng dạy tiếng Việt, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.

Mặc dù rất bận rộn với việc dạy học, bà Xuân Oanh vẫn dành thời gian cho đam mê thơ văn của mình. Bà là tác giả nhiều bài thơ ý nghĩa về Bác Hồ, Việt Nam và Việt kiều. Năm 2016, bà còn tìm hiểu và sưu tập được nhiều tư liệu, hình ảnh xác thực về vị hoà thượng người Thái có công giúp đỡ “Thầu Chín” – bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người hoạt động ở Udon Thani năm 1928.

Ảnh chụp bà Xuân Oanh năm 1962, năm đầu tiên đi dạy, lúc 14 tuổi.

Chia sẻ về quá trình tham gia dạy tiếng Việt cho con em Việt kiều Thái, bà Xuân Oanh cho biết: “Tôi tham gia giảng dạy tiếng Việt cho Việt kiều từ năm 14 tuổi (1962). Đến năm 1976, các lớp học tiếng Việt ở Thái Lan phải tạm dừng. Mãi đến năm 2004, có dịp về TP Hồ Chí Minh, tôi mua được một số sách giáo khoa và quyết định mở lại lớp tiếng Việt ở tỉnh Udon Thani”. Tuy nhiên, vì trẻ em người Việt Nam ở Thái Lan biết ít về Việt Nam nên bà đã phải biên soạn lại giáo trình để dạy cho các cháu. Lúc đầu, chỉ có vài cháu theo học. Sau này, nhiều phụ huynh biết đến lớp học nên đã gửi con em cho bà dạy.

Thực hiện lời kêu gọi của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài là “giữ gìn văn hoá và tiếng Việt trong cộng đồng người Việt”, tháng 1 vừa qua, Trường tiếng Việt Khánh An tại chùa Khánh An, Udon Thani chính thức khánh thành từ ý tưởng của bà Xuân Oanh. Bà đã thuyết phục được nhiều cựu giáo viên tình nguyện quay trở lại trường, bởi họ cũng có chung mối lo con em người Việt không biết tiếng Việt. Hiện nay, trường có 12 cô giáo và hơn 60 học sinh.

Bà Xuân Oanh cũng cho biết thêm, ngày 19-5 tới, bà cùng nhà trường sẽ tổ chức Lễ kỉ niệm 127 năm Ngày sinh của Bác cho các em học sinh, để các em có dịp biểu diễn các bài hát tiếng Việt, đọc các bài thơ tiếng Việt…

Bà Xuân Oanh chia sẻ, việc noi theo gương Bác xuất phát từ những việc làm bình thường như kể các câu chuyện về Bác, về quá trình Người hoạt động cách mạng ở Paris hay gần gũi hơn là những hoạt động của Người khi ở tỉnh Udon (Thái Lan), được vị hoà thượng tỉnh Udon giúp đỡ như thế nào…; đọc thơ về Bác cho các cháu nghe…

“Sinh thời, Bác từng dạy “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”. Nhiều người nghĩ rằng sống, làm việc, học tập theo gương Bác phải là làm những việc “đội đá, vá trời”, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Việc nhỏ mà mình làm tròn cũng là làm theo gương Bác”, bà Xuân Oanh kết luận.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Gìn Giữ Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Pakô / 2023 trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!