Đề Xuất 2/2023 # Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa) # Top 3 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 2/2023 # Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa) # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa) mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁPDẠY HỌC TIỀNG VIỆT LỚP 5Trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã tiến hành cải cách đổi mới phương pháp dạy học ” Lấy học sinh làm trung tâm” “Thầy thiết kế, trò chủ đạo”. Vì vậy việc dạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng rất quan trọng. 1.Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt cần chú ý một số điểm cơ bản sau đây – Dạy Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp.– Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy Tiếng Việt , kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hóa và dạy văn .– Tích cực hóa hoạt động học tập , tận dụng những kinh nghiệm sử dụng Tiếng Việt của HS.– Nội dung môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS với trọng tâm là các kỹ năng đọc , viết , nghe , nói , trong đó tập trung vào kỹ năng đọc và viết .– Thời lượng dạy học : Mỗi tiết học trung bình 35 phút – Xây dựng thời khóa biểu khoa học , hợp lý .– Giáo viên biết cụ thể hóa được kế hoạch giảng dạy cho mình ở từng phân môn Tiếng Việt , từng lớp học mà mình phụ trách * Để dạy học môn Tiếng Việt có hiệu quả , cần sử dụng những phương pháp

dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS .-Nội dung và phương pháp dạy học có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Mỗi một nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp. Không thể đổi mới nội dung mà không thể đổi mới phương pháp hay ngược lại. Môn Tiếng Việt có đặc thù là môn dạy kĩ năng càng cần đổi mới cách dạy cách học thụ động hơn bao giờ hết. * Đổi mới PPDH thực chất là sự thay đổi về cách dạy và cách học:– Dạy Tiếng Việt không phải chỉ để giúp HS tiếp nhận kiến thức một cách đơn thuần mà thông qua đó còn giúp cho HS thay đổi cả cách nghĩ , cách làm , cách sống . Đặc biệt chú ý vận dụng tốt các tình huống giao tiếp , dạy học qua giao tiếp. – Đổi mới PPDH là phải đổi mới cách dạy, cách truyền đạt hệ thống kiến thức cho học sinh. Đổi mới PPDH, thêm vào đó là ứng dụng CNTT trong dạy học, sẽ là cách hiệu quả nhất để giúp học sinh nắm bắt kiến thức của bài học. – GV vẫn đóng vai trò quan trọng không gì thay thế . Song GV phải biết hướng dẫn HS hoạt động , người học phải là chủ thể của hoạt động .2.Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chủ yếu :+ Phương pháp :Các phương pháp đặc trưng của môn học là : PP thực hành giao tiếp , PP đóng vai , PP rèn luyện theo mẫu , PP phân tích ngôn ngữ . Các phương pháp có tình huống và giải quyết tình huống ; sử dụng trò chơi ; thuyết minh ; vấn đáp ; sử dụng phương tiện trực quan . vẫn cần được sử dụng trong dạy Tiếng Việt .+ Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu ( trong lớp , ngoài lớp ):– Hướng dẫn HS làm việc độc lập.– Làm việc theo nhóm .– Làm việc theo lớp.3.Các bước tiến hành đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt – Lớp 5 : Luyện đọc – Hiểu và cảm thụ bài văn ( thơ) ; rèn đọc lưu loát , diễn cảm .-Các giờ tập đọc ( hoặc tập đọc có yêu cầu học thuộc lòng ) có kết hợp dạy từ ngữ , ngữ pháp , bước đầu tìm hiểu giá trị nội dung , nghệ thuật bài văn nhằm nâng cao trình độ đọc và cảm thụ văn học cho HS .*CHÍNH TẢ – Kết hợp chặt chẽ với rèn cách phát âm , hiểu nghĩa của từ nhằm khắc phục lỗi chính tả ở các vùng phương ngữ .– Chú ý đến yêu cầu cung cấp tri thức ( quy tắc chính tả, quy định về cách trình bày văn bản .), đồng thời chú trọng yêu cầu luyện tập thực hành ( viết chính tả , làm bài tập , sửa lỗi viết chưa đúng ).* LUYỆN VIẾT CHỮ ĐẸP– Rèn kỹ năng viết chữ là chủ yếu . Phần lớn thời gian dành cho HS tập viết ( không giảng giải nhiều về lý thuyết ).– GV phải là gương sáng , mẫu mực về chữ viết , cách trình bày và luôn chú ý rèn nền nếp “Vở sạch – Chữ đẹp” cho HS.

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa) Doi Moi Pp Day Hoc Tieng Viet 09 2010 Doc

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC TIỀNG VIỆT LỚP 5

Trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã tiến hà nh cải cách đổi mới phương pháp dạy học ” Lấy học sinh làm trung tâm” “Thầy thiết kế, trò chủ đạo”. Vì vậy việc dạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng rất quan trọng.

1. Đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt cần chú ý một số điểm cơ bản sau đây – Dạy Tiếng Việt thông q ua hoạt động giao tiếp. – Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy Tiếng Việt , kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hóa và dạy văn . – Tích cực hóa hoạt động học tập , tận dụng những kinh nghiệm sử dụng Tiếng Việt của HS. – Nội dung môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS với trọng tâm là các kỹ năng đọc , viết , nghe , nói , trong đó tập trung vào kỹ năng đọc và viết . – T hời lượng dạy học : Mỗi tiết học trung bình 35 phút – Xây dựng thời khóa biểu khoa học , hợp lý . – Giáo viên biết cụ thể hóa được kế hoạch giảng dạy cho mình ở từng phân môn Tiếng Việt , từng lớp học mà mình phụ trách * Để dạy học môn Tiếng Việt có hiệu quả , cần sử dụng những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS .

-Nội dung và phương pháp dạy học có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Mỗi một nội dung đòi hỏi một phương p h áp thích hợp. Không thể đổi mới nội dung mà không thể đổi mới phương pháp hay ngược lại. Môn Tiếng Việt có đặc thù là môn dạy kĩ năng càng cần đổi mới cách dạy cách học thụ động hơn bao giờ hết. * Đổi mới PPDH thực chất là sự thay đổi về cách dạy và cách học: – Dạy Tiếng Việt không phải chỉ để giúp HS tiếp nhận kiến thức một cách đơn thuần mà thông qua đó còn giúp cho HS thay đổi cả cách nghĩ , cách làm , cách sống . Đặc biệt chú ý vận dụng tốt các tình huống gi ao tiếp , dạy học qua giao tiếp. – Đ ổi mới PPDH là phải đổi mới cách dạy, cách truyền đạt hệ thống kiến thức cho học sinh. Đổi mới PPDH, thêm vào đó là ứng dụng CNTT trong dạy học, sẽ là cách hiệu quả nhất để giúp học sinh nắm bắt kiến thức của bài học. – GV vẫn đóng vai trò quan trọng không gì thay thế . Song GV phải biết hướng dẫn HS hoạt động , người học phải là chủ thể của hoạt động . 2. Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chủ yếu : + Phương pháp : Các phương pháp đặc trưng của môn học là : PP thực hành giao tiếp , PP đóng vai , PP rèn luyện theo mẫu , PP phân tích ngôn ngữ . Các phươ ng pháp có tình huố ng và giải quyết tình huống ; sử dụng trò chơi ; thuyết minh ; vấn đáp ; sử dụng phương tiện trực quan . vẫn cần được sử dụng trong dạy Tiếng Việt . + Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu ( trong lớp , ngoài lớp ): – Hướng dẫn HS làm việc độc lập. – Làm việc theo nhóm . – Làm việc theo lớp. 3. Các bước tiến hành đổi mới phươ ng pháp dạy học môn Tiếng Việt – Lớp 5 : Luyện đọc – Hiểu và cảm thụ bài văn ( thơ) ; rèn đọc lưu loát , diễn cảm . – Các giờ tập đọc ( hoặc tập đọc có yêu cầu học thuộc lòng ) có kết hợp dạy từ ngữ , ngữ pháp , bước đầu tìm hiểu giá trị nội dung , nghệ thuật bài văn nhằm nâng cao trình độ đọc và cảm thụ văn học cho HS . * CHÍNH TẢ – Kết hợp chặt chẽ với rèn cách phát âm , hiểu nghĩa của từ nhằm khắc phục lỗi chính tả ở các vùng phương ngữ . – Chú ý đến yêu cầu cung cấp tri thức ( quy tắc chính tả, quy định về cách trình bày văn bản .), đồng thời chú trọng yêu cầu luyện tập thực hành ( viết chính tả , làm bài tập , sửa l ỗi viết chưa đúng ). * LUYỆN VIẾT CHỮ ĐẸP – Rèn kỹ năng viết chữ là chủ yếu . Phần lớn thời gian dành cho HS tập viết ( không giảng giải nhiều về lý thuyết ). – GV phải là gương sáng , mẫu mực về chữ viết , cách trình bày và luôn chú ý rèn nền nếp “V ở sạch – Chữ đẹp” cho HS. *LUYỆN TỪ VÀ CÂU

-Lớp 5, cần khắc sâu những tri thức sơ giản về từ ngữ nhằm phục vụ cho yêu cầu hệ thống hóa và thực hành từ ngữ tốt .

– Đặc biệt coi trọng phương pháp thực hành luyện tập , kích thích HS suy nghĩ , mở rộng vốn từ , tập sử dụng từ ngữ trong hoạt động nói , viết. Vận dụng linh hoạt các phương pháp: vấn đáp, gợi mở ( dẫn dắt HS tìm tòi, phát hiện, so sánh, liên tưởng .nhằm mở rộng vốn từ và dùng từ có hiệu quả ); sử dụng trực quan ( vật thật, tranh ảnh – mô hình, cử chỉ hay động tác , lời nói ) ; tổ chức trò chơi vui học ( tìm từ , điền từ , chọn lựa từ ) .

-Rèn cho học sinh kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ và diễn đạt …Hình thành nề nếp, thói quen tốt cho việc viết bài văn( quan sát, nhớ lại tưởng tượng , sắp xếp ý, trình bày bài nói, bài viết mạch lạc.

Tổ chức dạy học theo hướng hoạt động, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

-Đ ổi mới phương pháp dạy – học trên cơ sở đảm bảo Chuẩn kiến thức và kỹ năng các môn học, vận dụng linh hoạt, đảm bảo tính vừa sức phù hợp với trình độ và khả năng nh ận thức của học sinh. G iáo viên chủ động xây dựng kế hoạch giảng dạy bám sát yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng bài.

– Kế hoạch dạy – học phải thể hiện rõ những hoạt động của giáo viên và học sinh. Kết hợp hài hoà các hình thức và phương pháp tổ chức dạy học sao cho giờ học trên lớp nhẹ nhàng và có hiệu quả cao, tuyệt đối không dạy quá tải, giảm yêu cầu học thuộc lòng, nhớ máy móc nhiều sự kiện, số liệu, câu văn, bài văn mẫu; coi trọng thực hành vận dụng, khuyến khích khả năng sáng tạo của học sinh. G iáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kỹ năng ghi vở và khả năng tự học. X ây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng để giáo viên tham khảo, học sinh luyện tập và vận dụng sáng tạo các nội dung đã học.

Quan trọng cuối cùng vẫn là cách thức xâ y dựng một tiến trình giảng dạy thật hợp lý, thì mới mong đạt hiệu quả cao, và mới là đổi mới trong cách thức giảng dạy – học tập hiện nay.

Giáo viên xây dựng kế hoạch

Lê Thị Thanh Hoa

Đổi Mới Phương Pháp Và Hình Thức Dạy Học Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 5

Chuyên đề Luyện từ và câu lớp 5

Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc cho các thầy cô tham khảo nâng cao quá trình giảng dạy phân môn Luyện từ và câu – Tiếng Việt lớp 5, chuẩn bị cho các kì thi giáo viên giỏi, sáng kiến kinh nghiệm,…

Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5

I) LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc tiểu học nhằm hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Giúp HS có cơ sở tiếp thu kiến thức ở các lớp trên. Trong bộ môn Tiếng Việt phân môn luyện từ và câu có một nhiệm vụ cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về viết Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói – viết) kỹ năng đọc cho học sinh. Cụ thể là:

1- Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho HS một số hiểu biết sơ giản về từ và câu.

2- Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng dấu câu.

3. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.

Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho HS các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán…)

– Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó:

– Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt.

– Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: Có tri thức, biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này.

Tuy nhiên không phải người GV nào cũng giúp HS hình thành được tri thức một cách chủ động, sáng tạo. Làm sao để tiết học cuốn hút HS? Sử dụng phương pháp dạy học linh hoạt nhằm giúp học sinh nắm vững được kiến thức quả là một bài toán khó đối với người GV viên khi đứng trên bục giảng. Với những phương pháp và hình thức mà tổ khối 5 đưa ra không mới mẻ nhưng hiệu quả của tiết dạy cao hơn nếu người GV biết vận dụng linh hoạt, một số GV còn nhầm lẫn giữa phương pháp và hình thức dạy học. Chính vì vậy tổ khối 5 họp và lên chuyên đề ” Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5″.

1. Đối với giáo viên:

* Thuận lợi:

-100 % cán bộ giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn trở lên. Phần lớn giáo viên được phân công phụ trách khối lớp 5 có kinh nghiệm công tác nhiều năm và có vốn hiểu biết nhất định về kiến thức. Hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.

– Giáo viên nhiệt tình trong công tác, tận tụy với học sinh; luôn tích cực tự học và sáng tạo trong giảng dạy.

* Khó khăn:

– Hình thức dạy trong giờ Luyện từ và câu còn đơn điệu, Phương pháp truyền thụ lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, chưa thực sự sinh động, cuốn hút học sinh.

Ví dụ: Bài Mở rộng vốn từ: Tổ quốc (Tuần 2): bài 1, 2, 3, 4 GV hướng dẫn HS làm bài vào VBTTV. Hình thức: cá nhân xuyên suốt từ bài 1 đến bài 4. Phương pháp: hỏi đáp là chủ yếu.

– Trình độ GV chưa đồng đều đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ. Nên việc phân chia thời lượng lên lớp ở mỗi tiết dạy đôi khi còn dàn trải, hoạt động của thầy – trò có lúc thiếu nhịp nhàng.

– Tâm lí GV sợ hết giờ nên sử dụng phương pháp rèn theo mẫu cho nhanh, HS chưa phát huy được tính tích cực.

– Tranh ảnh cho tiết dạy luyện từ và câu còn ít

2. Đối với học sinh:

*Thuận lợi:

– HS được trang bị đầy đủ sách vở, ĐDDH. Hầu hết các em học sinh lớp 5 đã có những kiến thức sơ giản về ngữ âm và ngữ pháp đã được làm quen ở các lớp dưới. Một số em đã có ý thức tự học và tự rèn luyện.

– Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng học nói chung và môn TV nói riêng.

* Khó khăn:

– Các em ý thức học còn có thói quen chờ thầy cô làm rồi chép bài, khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn yếu. Học sinh còn học vẹt, nhớ máy móc khi học phân môn này.

– Các từ cần giải nghĩa đa số là các từ Hán Việt nên học sinh khó hiểu, khó giải thích. Diễn đạt thì lủng củng, tâm lí sợ sai, không mạnh dạn.

– Các từ, các thành ngữ, tục ngữ cần giải nghĩa, cần tìm có nghĩa gần giống nhau, học sinh khó phân biệt được nghĩa của chúng.

– Khoảng 1/3 HS là người dân tộc nên vốn từ còn hạn chế.

– Cách miêu tả, giải thích một số từ trong sách giáo khoa còn mang tính chất ngôn ngữ học, chưa phù hợp với lối tư duy trực quan của các em.

– Có một số bài tập yêu cầu chưa rõ ràng, không tường minh và khó thực hiện (BT dùng từ viết thành đoạn văn ngắn). Chính vì chưa nắm được nghĩa của từ, thành ngữ, tục ngữ nên khi đặt câu hoặc viết đoạn văn chưa phù hợp với nội dung và văn cảnh cụ thể.

Bên cạnh đó một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình còn có quan điểm ”Trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô” cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập bộ môn.

III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

1. Phương pháp dạy học:

– Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về TV bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng nói và viết cho học sinh. Chính vì thế, trong quá trình dạy Luyện từ và câu chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau để tích cực hóa hoạt động học tập, hình thành kiến thức và kĩ năng cho HS. Tuy các phương pháp này không mới mẻ nhưng ít GV sử dụng chưa đúng lúc, đúng bài, đúng hoạt động.

* Phương pháp thực hành:

– Dùng phương pháp thực hành để dạy tri thức, để rèn luyện khả năng cho học sinh. Hình thức phổ biến để hình thành kiến thức cho học sinh tiểu học là thông qua thực hành, có nghĩa là việc cung cấp kiến thức mới không phải là trực tiếp, thuần lí thuyết mà được hình thành dần dần, tự nhiên cho học sinh qua các bài tập cụ thể. Dạy thực hành Tiếng Việt trong giao tiếp là phải dùng phương pháp thực hành giao tiếp.

* Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề:

– Dạy học nêu vấn đề là đòi hỏi học sinh tham gia giải quyết các vấn đề do tình huống đặt ra. Tình huống có vấn đề đóng vai trò quan trọng trong dạy học nêu vấn đề. Phải có tình huống có vấn đề mới thực hiện được phương pháp dạy học nêu vấn đề. Thông qua việc giải quyết vấn đề trong tình huống cụ thể, học sinh vừa nắm tri thức, vừa phát triển tư duy sáng tạo. Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề có nhiều khả năng phát huy tính độc lập suy nghĩ và tính sáng tạo của học sinh.

* Phương pháp đàm thoại:

– Phương pháp đàm thoại nhằm gợi mở để học sinh làm sáng tỏ những vấn đề mới, rút ra những kết luận cần thiết từ những tài liệu đã học cũng như từ kinh nghiệm sống đã tích lũy. Tạo điều kiện để các em phát triển và củng cố khả năng giao tiếp với thầy (cô) và với bạn cùng học; gây hứng thú học tập, hình thành tính độc lập, óc phê phán, phát huy tính tích cực và tương tác trong học tập. Để đảm bảo kết quả việc tiến hành đàm thoại cần chú ý hai khâu quan trọng: thiết kế hệ thống câu hỏi và tổ chức việc đàm thoại ở lớp.

Có nhóm trưởng điều khiển hoạt động nhóm.

Kết quả làm việc nhóm còn được có ý kiến góp ý của nhóm khác..

* Phương pháp sử dụng trò chơi học tập:

– Trò chơi học tập thông qua trò chơi. Trò chơi học tập không chỉ nhằm vui chơi giải trí mà còn nhằm góp phần củng cố tri thức, kĩ năng học tập cho học sinh.

– Việc sử dụng trò chơi học tập nhằm làm cho việc hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh bớt đi vẻ khô khan, tăng thêm phần sinh động hấp dẫn.

– Điều kiện đảm bảo cho sự thành công của việc sử dụng trò chơi trong học tập là:

Nội dung trò chơi phải gắn với mục tiêu của bài học.

Luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.

Điều kiện và phương tiện tổ chức trò chơi phong phú, hấp dẫn.

Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ.

Số lượng học sinh tham gia: Vừa phải, không quá ít.

Kích thích sự thi đua giành phần thắng giữa các bên tham gia.

– Việc lựa chọn, phối hợp, vận dụng hợp lí các phương pháp dạy học ở từng tiết dạy Luyện từ và câu đều có những đặc điểm riêng, không thể áp dụng một cách máy móc, đồng loạt. Không có phương pháp nào là “vạn năng” là “tuyệt đối” đúng, là có thể phù hợp với mọi khâu của tiết dạy Luyện từ và câu. Chỉ có sự tìm tòi sáng tạo, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học mới đạt được thành công trong mỗi bài dạy. Vốn từ các em trở nên đa dạng, phong phú khi các em chủ động phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo, tinh thần hợp tác làm việc, cùng với sự chỉ đạo sáng suốt của người giáo viên sẽ đem lại một kết quả hoàn hảo nhất.

2/ Thường xuyên thay đổi các hình thức học tập cho học sinh:

– Hình thức dạy học: cá nhân, nhóm, cả lớp.

– Việc đổi mới phương pháp dạy học có thành công, hiệu quả hay không là một phần phải có hình thức tổ chức học tập phong phú và đa dạng. Hình thức phải xây dựng phù hợp với nội dung và đối tượng HS. Hình thức phù hợp thì tạo nên tiết học sinh động, đạt hiệu quả cao và phát huy được tính cực tự học, chủ động và tự sáng tạo của học sinh.

IV) GIÁO ÁN MINH HỌA CHUYÊN ĐỀ: LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 5

Tiết 15: Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên I. Mục tiêu:

– Hiểu nghĩa từ thiên nhiên (BT1); nắm được một số từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng thiên nhiên trong một số thành ngữ, tục ngữ (BT2); Tìm được từ ngữ tả không gian, tả sông nước và đặt câu với một từ ngữ tìm được ở mỗi ý a,b,c của bài tập 3, bài tập 4 .

* GDBVMT: GV cung cấp cho HS một số hiểu biết về môi trường thiên nhiên Việt Nam và nước ngoài, từ đó bồi dưỡng tình cảm yêu quý, gắn bó với môi trường sống.

II. Chuẩn bị:

– Giấy khổ khổ lớn ghi nội dung bài tập 3- 4, máy chiếu.

III. Các hoạt động dạy – học

– Gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi:

– Thế nào là từ nhiều nghĩa? Cho ví dụ minh họa .

– Nhận xét

– Giới thiệu bài, ghi bảng

– Gọi HS đọc yêu cầu của bài, sau đó làm bài

– Gọi hs trả lời

– Nhận xét, chốt kết quả

b.Tất cả những gì không do con người tạo ra.

Bài 3

– Gọi HS đọc yêu cầu bài và nội dung bài

– Theo dõi, giúp đỡ

– Gọi các nhóm trình bày

– Nhận xét, chốt ý đúng

– Yc hs đặt câu với các từ vừa tìm được

– Nhận xét

Bài 4

– Yêu cầu học sinh nêu đề

– Gọi các nhóm trình bày

– Nhận xét, tuyên dương

– Gọi học sinh đặt câu với từ ngữ em vừa tìm được

– Nhận xét, sửa chữa

Bài 2

– Gọi HS đọc yêu cầu bài

+ Gạch chân dưới các từ chỉ các sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên.

+ Tìm hiểu nghĩa của từng câu

– Gọi học sinh trình bày

– Nhận xét kết luận lời giải đúng.

– Yêu cầu học sinh tìm thêm các thành ngữ, tục ngữ khác

* GD MT: Nêu việc em đã làm để bảo vệ môi trường thiên nhiên?

– Nhận xét tiết học tiết học

– Dặn học sinh chuẩn bị bài tiếp theo

– 2 học sinh trả lời.

– Lớp nhận xét

– Lắng nghe, nhắc lại

– 1 học sinh đọc, lớp đọc thầm

– Làm bài

– Trả lời cá nhân

– Lớp nhận xét

– 1 học sinh đọc

-Dán kết quả lên bảng

– Lớp nhận xét, bổ sung

– Nghe, nhắc lại

– Đặt câu

– 1 HS nêu, lớp đọc thầm

– Trình bày

– Lớp nhận xét

– 1 học sinh đọc, lớp đọc thầm

– Cả lớp dùng bút chì gạch vào phiếu học tập

– Nêu cá nhân

– Lớp nhận xét

– Nối tiếp nêu

– Cá nhân nêu

– Nghe – Thực hiện

Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5 bao gồm các thực trạng phân môn và các biện pháp cụ thể chi tiết cho bài học giúp HS hình thành được tri thức một cách chủ động, sáng tạo. Sử dụng phương pháp dạy học này linh hoạt nhằm giúp học sinh nắm vững được kiến thức Luyện từ và câu vận dụng tốt cho các bài học. Các thầy cô tham khảo phần Giáo án lớp 5 để soạn bài và chuẩn bị bài giảng tốt hơn.

Đổi Mới Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Tiếng Việt Công Nghệ Giáo Dục 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ĐAM RÔNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐA KAO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Về đổi mới phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng việt CNGD 1

Tác giả: Ninh Thị Hà Chức danh: Giáo viên Năm học 2014 – 2015

………………………………….. 1 ……………………………………….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Sáng kiến kinh nghiệm Về đổi mới phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng việt CNGD 1. ( Đề nghị công nhận danh hiệu GV Giỏi cấp cơ sở Năm học 2014- 2015)

1. Họ và tên: Ninh Thị Hà 2. Chức vụ: Giáo viên 3. Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đa Kao. 4. Lý do chọn đề tài: Chúng ta đều biết, lớp 1 là lớp đầu cấp nên việc dạy đọc cho HS vô cùng quan trọng trong việc tạo nền tảng, tiền đề để các em tìm tòi, phát hiện kiến thức trước mắt cũng như trong tương lai. Ở lớp 1, các em học tốt thì khi chuyển sang học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn của môn Tiếng Việt, thuận lợi cho việc học tập các môn khác. Để HS lớp 1 đạt được điều đó thì người thầy cần phải có cách tổ chức, hướng dẫn HS học tập theo một qui trình khoa học, tích cực hóa được các hoạt động của các em nhằm khơi dậy sự tò mò, sáng tạo, chủ động của các em. Từ đó giúp các em từng bước tự điều chỉnh chính mình trong việc tự tìm tòi khám phá tri thức chứ không ai có thể làm thay được. Các em học sinh lớp 1 từ Mầm non lên, trong việc học tập cũng như các hoạt động thì các em còn rụt rè và việc thích ứng với môi trường học mới còn chậm, trong việc học tập của các em còn lúng túng, khó hiểu và chưa phát huy hết được năng lực học tập của học sinh. Trong năm học 2013 – 2014, chủ trương của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đam Rông triển khai chương trình Tiếng việt CNGD 1 cho các trường thuộc dự án Seqap. Để thực hiện tốt chương trình này thì giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu chương trình: Giúp các em đọc thông, viết thạo, không tái mù ………………………………….. 2 ……………………………………….

Nắm chắc luật chính tả, nắm chắc hệ thống ngữ âm của Tiếng Việt. Lần đầu tiên các em tiếp xúc với các môn học, đặc biệt là môn Tiếng việt CNGD 1. Ngay đầu năm học yêu cầu học sinh phải nắm chắc phần âm, vần, vẽ mô hình, phân tích tiếng, luật chính tả, nhận xét luồng hơi phát ra để phân biệt nguyên âm, phụ âm… .Vì vậy, học sinh chỉ ghi nhớ mô ôt cách máy móc bước đầu học đọc, học viết, học cách phân biệt nguyên âm, phụ âm, cách dùng mẫu, lập mẫu, luật chính tả, các em còn nhiều bỡ ngỡ và tiếp thu kiến thức thâ ôt khó khăn, một số em chỉ đọc vẹt chưa thuộc hết bảng chữ cái. Với đặc điểm HS chủ yếu là người dân tộc thiểu số của Trường Đa Kao nói chung và học sinh khối 1 nói riêng thì việc dạy các môn học đạt theo Chuẩn KT-KN là một vấn đề rất khó, đặc biệt ở môn Tiếng Việt. Chương trình tiếng việt mới càng khó khăn hơn đối với các em , 1 chương trình hoàn toàn mới dù sách thiết kế rất cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên việc vận dụng từ tài liệu vào thực tế của quá trình dạy học vẫn còn không ít khó khăn, vướng mắc nhất định. Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Tiếng Việt CNGD1 của khối 1 Trường Tiểu học Đa Kao , giúp các em: mỗi ngày đến trường là một ngày vui, tập cho các em tính mạnh dạn trong học tập và khả năng sáng tạo và học tốt môn CNDD 1 tôi đã nghiên cứu và đưa ra 1 số khó khăn mà khi chúng tôi dạy thực tế ở lớp và đề ra 1 số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học giúp các em tiếp cận với môn Tiếng việt công nghệ giáo dục 1 đạt hiệu quả như sau: Qua đợt kiểm tra cuối năm, năm học 2013 – 2014, và kết quả kiểm tra học kì I năm học 2014-2015, về chất lượng của khối 1, cũng như qua quá trình theo dõi học tập của học sinh, kết quả đạt được như sau: Năm học 2013-2014 TSHS

HSDT

Đầu năm HS Yếu

45

45

35

HS trên trung bình 10

Ghi chú

HS lên lớp thẳng 2 HS KT 43

………………………………….. 3 ……………………………………….

Năm học 2014-2015

TSHS

HSDT

Đầu năm HS cần HT

42

42

Ghi chú

HS hoàn thành

34

8

5. Nội dung của SKKN. 5.1. Một số thuận lơi, khó khăn. 1. Đối với GV a. Thuận lợi: – Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và các cấp Đảng uỷ đã tạo điều kiện tốt cho công tác giáo dục của trường học. Chi bộ và BGH nhà trường luôn chỉ đạo sát sao tới công tác dạy và học. – Cơ sở vật chất nhà trường có đủ phòng học 2buổi/ ngày. – Khối 1 có 3 giáo viên đề là những người nhiệt tình trong công việc, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn do phòng đề ra. – Về chương trình dạy CNGD việc sử dụng kí hiệu thay cho lời nói của GV đỡ mất thời gian. Quy trình đọc và phân tích tiếng rất kĩ, HS học sôi nổi. Hướng dẫn tập viết cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ giúp hs viết đúng độ cao chữ , viết đúng luật chính tả. – Gv không phải soạn bài, nên có thời gian nghiên cứu quy trình dạy nhiều hơn.. b. Khó khăn: – Do bất đồng ngôn ngữ giữa GV và HS. – Do đổi mới chương trình mới nên GV cũng gặp khó khăn trong việc nghiên cứu nội dung bài dạy. – Thời lượng dạy học trên lớp không nhiều về nhà PHHS không biết kèm thêm để học sinh học bài ở nhà, hs chỉ học được ở trên lớp là chính. – GV mới còn nhiều lúng túng trong cách phát âm giữa mới và cũ, đôi khi còn hay nhầm lẫn.

………………………………….. 4 ……………………………………….

– Kiến thức bài dài và khó, GV lại không khai thác tranh ảnh hay đồ dùng trực quan để HS hiểu. – Chưa có nhiều thời gian cho HS rèn kỹ năng luyện nói, luyện đọc. – Quy trình của bài dạy dài, thay đổi thường xuyên nên đôi khi GV chưa thuộc hết mà theo quy đỉnh phải dạy đúng theo sách thiết kế. 2. Đối với HS a. Thuận lợi: – Sách vở hs được cấp đầy đủ. – HS có độ tuổi đồng đều nhau, tập trung ở gần trường thuận tiện cho việc đi học – Hình thức: Học mà chơi , chơi mà học từ đó các em cảm thấy tự tin, mạnh dạn hơn khi tham gia học tập. – Trong quá trình học các em phân tích bằng thao tác vỗ tay làm cho tiết học vui và sôi nổi hơn, các em thuộc bài nhanh hơn. b. Khó khăn: – Các em từ trường mầm non lên chưa bắt kịp được môi trường học tập mới còn rụt rè, chậm chạp. Trong quá trình học còn mải chơi chưa chú ý học bài, học trước quên sau, nhanh chán. -Khối 1có 42 em đều là học sinh dân tộc thiểu số. Chưa nói thông thạo tiếng Việt. Bố mẹ chưa quan tâm đến việc học của các em, còn khoán trắng cho giáo viên và nhà trường. – Còn 1 số em nhà xa hay vắng học (Thôn Đa Kao 1) – Các em không có các đồ dùng cơ bản phục vụ cho việc học tập . – Trình độ dân trí trong địa bàn trường quản lí và các vùng phụ cận chưa cao dẫn tới việc quan tâm cho con em học tập còn hạn chế. – Một số em do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn; một số em do bố mẹ đi làm xa dẫn tới không có ai lo cho việc học hành của các em ở lớp và ở nhà,

………………………………….. 5 ……………………………………….

………………………………….. 7 ……………………………………….

………………………………….. 8 ……………………………………….

Tổng kết giới thiệu tên gọi. Hs tự mình phát âm, tự mình cảm nhận luồng hơi đi ra để có khái niệm ngữ âm đích thực. công đoạn lập mẫu phải làm thật kĩ thì trước hết cần phải làm kĩ nhất việc 1 1c: Vẽ mô hình. Việc 2: Viết. Là cách xử lí mối quan hệ âm/chữ. Mỗi chữ là 1 thể thống nhất toàn ven, dùng ghi 1 âm. Ví dụ: c,ch,ngh cũng chỉ là 1 chữ ( không phải như trước đây ngh là do 3 chữ n,g,h ghép lại). Trước khi viết hs nhắc lại cách phát âm và nhận xét luồng hơi di ra để củng cố lại nguyên âm hay phụ âm. 2a: Giới thiệu chữ in thường. 2b: Giới thiệu chữ viết thường. Gv phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ đường đi của bút: Điểm bắt đầu- điểm chuyển hướng- điểm kết thúc( trước đây gv chỉ hướng dẫn độ cao và các nét) Đưa chữ vào mô hình a Dùng mô hình để tạo tiếng mới Thêm dấu thanh trong mô hình, viết xong đọc đi, đọc lại nhiều lần cá nhân, nhóm, tổ và cả lớp để hình thành kĩ năng. Chú ý viết là thao tác bằng tay. GV huấn luyện viết theo 4 mức độ: Viết được, viết đúng, viết đẹp, viết nhanh. Quan trọng nhất là viết phải đúng. 2c: Viết tiếng có âm mới. 2d: Hướng dẫn viết vở ” Em tập viết”. Chú ý: Viết đúng chính tả: Có 2 loại luật chính tả 1.Luật ghi âm, xử lí quan hệ âm /chữ Âm 1 1 1

Ví dụ g/gh, ng/ngh, âm đệm o/u /c/- c, k, q /iê/- iê, yê, ia, ya

………………………………….. 9 ……………………………………….

2.Quan hệ chữ nghĩa Nói có thể khác nhau nhưng viết bắt buộc phải giống nhau Ví dụ: Gia (đình), da (thịt), ra( vào) Giấu/ dấu, cho/ tro, hiêu/ hươu, lăn/ lăng, mắt/ mắc, vô/ dô. Việc 3: Đọc 3a: Đọc chữ trên bảng. Viết xong chữ nào đọc trơn chữ ấy, bắt đầu bằng tiếng nguyên khối- phân tích tiếng để viết chữ- trở về tiếng ban đầu tức là đọc trơn. Đọc trơn tiếng thanh ngang là cơ sở để đọc tron các tiếng có thanh khác. Đánh vần theo cơ chế phân đôi: a. Lấy tiếng thanh ngang làm cơ sở: ba: /bờ/-/a/- /ba/ b. Quy về tiếng thanh ngang: /bà/- /ba/- /huyền/- /bà/ Cách đánh vần cổ truyền lúc nào cũng bắt đầu từ đầu: bờ- a- ba- huyền – bà. Đọc là thao tác chuyển từ chữ về âm vì vậy khi nói tiếng là 1 lần phát âm trọn vẹn thì chữ ghi tiếng cũng cũng đọc 1 lần trọn vẹn : nhìn chữ /bà/ đọc trơn /bà/ nếu không đọc trơn buộc phải đánh vần thì lùi 1 bước đánh vần mấp máy môi /bà/- /ba//huyền/- /bà/ * Cơ chế tách đôi: 1.Tạm thời bỏ thanh ngang- đọc trơn. 2.Trả lại thanh- đọc tiếng có thanh. 3.Đọc cả 4 mức độ âm thanh: To- nhỏ- nhẩm- thầm ( ngậm miệng) hay còn gọi đọc bằng mắt. 3b: Đọc sách Tiếng việt CNGD lớp1-tập 1. Thao tác 1: Trò tự đọc- đọc nhỏ, đọc tron Thao tác 2: Đọc theo mẫu của thầy- đọc trơn Thao tác 3: Đọc theo tổ để củng cố Thao tác 4: Đọc cá nhân để kiểm tra Thao tác 5: Nhận xét về chính tả Việc 4: Viết chính tả.

………………………………….. 10 ……………………………………….

Việc 4 là cơ hội kiểm tra đánh giá có phải: học gì được nấy, học đâu chắc đấy. Quy trình viết chính tả: Thầy đọc 1 lần 1-2 tiếng Trò làm 4 thao tác theo trật tự: 1. Nhắc lại tiếng 2. Phân tích tiếng 3. Viết (theo luật chính tả) 4. Đọc lại 4a: Viết bảng con: Viết chữ ở trang chẵn Viết từng tiếng rời ba/ bà Viết 2 tiếng liền nhau: ba bà, bà ba (mỗi chữ cách nhau bằng 1 chữ o) 4b: Viết vở chính tả(từ, câu ứng dụng). Viết chử ở trang lẻ. Mỗi khi có dịp thầy yêu cầu hs nhắc lại luật chính tả II. Công đoạn 2 – Dùng mẫu /ba/ QUY TRÌNH Mở đầu: Có 2 nhiệm vụ cơ bản a. Nhắc lại mẫu đang dùng b. Tạo cớ để thay 1 thành phần của mẫu ( đây là cách ôn tập tích cực, học có ý thức) Vẽ mô hình tiếng bài cũ b

a

Thay phụ âm đầu /b/ bằng /ch/ Ví dụ 2.Bài mới Chúng ta tiếp tục dùng mẫu Ba Yêu cầu thay âm b bằng các phụ âm khác: /c/, /ch/, /d/…. Hôm nay chúng ta thay a bằng nguyên âm mới /e/. Ta có tiếng be Tìm tiếng mới bằng cách thay âm /b/ bằng các phụ âm khác: ce,che, de, đe Đây là cơ hội đưa ra luật chính tả ………………………………….. 11 ……………………………………….

Tiếng/ce/, /ke/ đều đúng vì em chưa học luật chính tả Gv nêu luật chính tả : Âm /cờ/ đứng trước nguyên âm /e/ thì phải viết bằng con chữ k ( đọc là ca ) ke Đọc trơn ke Phân tích ke * Dùng mẫu để làm ra sản phẩm mới, bao hàm trong đó cả “Củng cố- ôn tập” những gì đã có. 1.Mỗi lần dùng mẫu chỉ thay 1 âm ( âm vị) 2. Để nắm chắc âm mới thì phải giữ lại nó ( trong mô hình) thay âm kia bằng những âm đã học. Viết vào bảng con những tiếng mới: Học chữ c thì gặp lại các chữ a,b Học chữ e thì gặp lại các chữ: a, b,c, ch, d, đ Các âm ( và chữ) xuất hiện lần lượt theo thứ tự bảng chữ cái abc. Nếu hàng ngày GV làm theo thứ tự này thì học hết lớp 1 các em sẽ học thuộc bảng chữ cái. Hết tiết học này đến tiết học khác, tiết học nào cũng thực hiện theo 4 quy trình cứng của sơ đồ 4 thì học sinh sẽ học được cách học bằng trí óc. Tiết học được tổ chức và kiểm soát trên cả 2 trang trong SGK. Trang chẵn: dành cho học sinh cả lớp đều đọc được. Trang lẻ dùng để phân hóa: Ai có sức đến đâu thì học tập đến đó. QUY TRÌNH DẠY VẦN Việc 1: Thao tác trên vật thật để rút ra âm vị Việc 2: nắm được âm vị HS biết thay thề âm vị để nắm chắc trong đầu âm vị đó và cụ thể hóa bằng chữ viết. Việc 3: Từ vật thay thế đó lại trở về với vật thật. Việc 4: Củng cố , đánh giá cả 3 việc trên bằng cách cho HS viết lại các tiếng, vần đã học bằng chữ từ cách đánh vần, phân tích và ghi lại bằng con chữ cụ thể. 1.Mở đầu: GV cho hs nhắc lại vần đã học theo mẫu nào ? Mẫu an, vần có âm chính và âm cuối ………………………………….. 12 ……………………………………….

* So sánh với tập 1 và tập 2 thì tập 3 quy trình có thay đổi như sau: Việc 1: Ôn tập dành cho ngữ âm- khái niệm ngữ âm và chính tả ( ở trang lẻ) Việc 2: Đọc: Đọc trơn , đọc cả 4 mức âm thanh. Chú ý hơn đọc bằng mắt ( để tăng tốc độ đọc) . Bài đọc ở trang chẵn Tập 1 và tập 2: Việc 1: Đọc, Việc 2: Viết vở : Em tập viết Việc 3: Đọc, Việc 4: Viết chính tả Tập 3:

Việc 1: Đọc, Việc 2: Đọc Việc 3: viết , Việc 4: Viết chính tả Thực hành Tuần 29 (tiết 9-10)

Việc 1: Phương pháp tách đôi 1a. Mẫu : Cành Bước 1: Tách thanh ra còn để lại tiếng thanh ngang: canh Bước 2: Tách đôi tiếng thanh ngang canh thành 2 phần: âm đầu c, phần vần anh Bước 3: Nếu chưa đọc được vần anh thì tiếp tục tách a-nh Bước 4: Trả lại thanh: canh – huyền- cành 1b. Tổng kết Việc 2: Đọc : Con chim manh manh Bước 1: chuẩn bị 1. Đọc nhỏ: Yêu cầu hs đọc nhỏ toàn bài 2. Đọc bằng mắt: Tự gạch chân 1 số từ khó: mảnh sành, liệng… 3. Đọc to: Đọc từ khó theo hướng dẫn của thầy Bước 2:Đọc bài: 1. Đọc mẫu: gv hoặc hs ( tùy theo lớp) Đọc to chú ý ngắt hơi ở cuối câu thơ ………………………………….. 14 ……………………………………….

2. Đọc nối tiếp: Nối tiếp từng dòng thơ, nối tiếp theo 2 đoạn. 3. Đọc đồng thanh: Đọc to- nhỏ- mấp máy môi Đọc vỗ tay theo nhịp thơ. Bước 3: Tìm hiểu cách gieo vần Tìm những cặp tiếng ăn vần với nhau Chanh- sành, lốc- chốc, đầy -thầy, hai- tai, cốt – một Gv nêu chốt ý: bài đồng giao thường có những cặp tiếng ăn vần với nhau để đọc dễ thuộc Cho hs đọc thuộc bài ( hs cần hỗ trợ thuộc 2-4 dòng ) Việc 3: Viết 3a. Viết trên bảng con Viết chữ I hoa, I-ta-li-a, Im hơi lặng tiếng. 3b.Viết vào vở em tập viết Việc 4: Viết chính tả. Bước 1: Chuẩn bị: GV đọc cho hs Viết bảng con từ khó Viết bảng con hoặc viết vào vở nháp từ: manh, sành, lông lốc… Cho hs đọc lại từ vừa viết (đồng thanh) Hướng dẫn cách trình bày bài thơ: Mỗi câu thơ viết 1 dòng. Chữ đầu tiên của mỗi câu thơ đều viết hoa. Hết khổ thơ thứ nhất cách 1 dòng rồi viết khổ thơ thứ 2. Bước 2: Nghe -viết: Viết đoạn 1 bài thơ: Con chim manh manh Viết vở chính tả (Theo 4 bước ) 1. Nhắc lại tiếng 2. Phân tích tiếng 3. Viết (theo luật chính tả) 4. Đọc lại Gv đọc soát bài Thu vở chấm bài, nhận xét rút kinh nghiệm. GV lưu ý 1 số từ hs hay viết sai.

* Một số yêu cầu chủ yếu khi thực hiện ………………………………….. 15 ……………………………………….

1. Đối với GV Tác phong lời nói , cử chỉ, điệu bộ của GV cần phải chuẩn mực, thân thiện. Giáo viên gương mẫu trong cách phát âm và viết mẫu Khi đọc bài gv cần hướng dẫn cụ thể và phát âm chuẩn, cho hs đọc lại nhiều lần ( tăng cường đọc cá nhân) Khi viết mẫu cần cụ thể từng nét, hướng dẫn đúng độ cao con chữ. Quy trình 4 việc cần phải thực hiện theo trình tự. Câu lệnh của giáo viên cần phải dứt khoát, rõ ràng. HS thực hiện theo đúng yêu cầu của giáo viên hoạt động giữa GV- HS cần diễn ra nhịp nhàng. Các hoạt động của lớp cần phải thực hiện theo “ký hiệu” trên bảng hoặc ký hiệu bằng tay của giáo viên. Giáo viên không phải nói nhiều mà phải ưu tiên các hoạt động cho học sinh. Giáo viên cần phải thuộc các việc cơ bản ở mỗi bài. Cần phải nhẹ nhàng, thân thiện và linh hoạt tổ chức các hoạt động trong từng việc, có tổ chức chuyển tiết trong mỗi buổi dạy. 2. Đối với HS * Yêu cầu đối với học sinh là thuộc bảng chữ cái, âm tiếng việt. Biết kết hợp đọc và viết được âm khi học, tập ghép vần và phân tích. * Nắm được kĩ năng về các âm, vần trong tiếng việt 1, biết phân biệt nguyên âm và phụ âm, biết cách lập mẫu và dùng mẫu, phân tích vần, tiếng, đọc được theo các mức độ to – nhỏ – nhẩm – thầm theo lệnh và ký hiệu của giáo viên. Biết phân biệt đâu là âm đệm, âm chính đâu là âm chính và đâu là âm cuối, học về luật chính tả biết phân biệt được luật chính tả về âm đệm, nguyên âm đôi. Chủ động, tích cực tham gia học tập cùng cô và các bạn. 2.Phân loại đối tượng học sinh: Chúng ta tiến hành phân loại Hs, tìm hiểu tình hình từng nhóm. Nguyên nhân nhóm HS cần hỗ trợ chủ yếu do không thuộc bảng chữ cái, thái độ học tập

………………………………….. 16 ……………………………………….

không đúng còn mải chơi, sự phát triển trí tuệ chậm, phụ huynh HS chưa quan tâm, gia đình còn khó khăn…Từ đó GV có biện pháp giáo dục phù hợp. Dạy đâu chắc đó, học sinh phải nắm được bài, không để học sinh ngoài lề lớp học. Cần nắm chắc trình độ nhận thức của từng HS nhất là HS cần hỗ trợ để giúp đỡ HS kịp thời trong từng tiết học và phụ đạo vào buổi chiều. Vừa học bài mới kết hợp ôn tập bài cũ. HS chưa đọc được tiếng GV cần cho HS phân tích lại phần vần rồi mới kết hợp ghép tiếng. Phân loại đối tượng HS theo nhóm và đặt tên nhóm khi tổ chức trò chơi( thi đọc trong nhóm). Có những bài tập phù hợp với trình độ từng nhóm HS để nhóm HS học tốt phát huy hết khả năng của mình( Đọc bài cả trang chẵn và trang lẻ), nhóm HS khác chỉ yêu cầu đọc 1 số tiếng có vần mới. Sắp xếp chỗ ngồi của học sinh trong lớp để các em hỗ trợ nhau. Quan tâm khích lệ học sinh, tạo cơ hội để học sinh được chủ động tích cực thông qua giờ học và thực hành. Kiểm tra thường xuyên để uốn nắn cho học sinh: Thường xuyên kiểm tra, gần gũi các em học sinh hay mắc lỗi để động viên, khuyến khích các em, không để các em chán nản và phối hợp cùng với gia đình tìm biện pháp rèn riêng cho từng em. Rèn kĩ năng đọc đúng, đọc thật chuẩn và chính xác bài đọc . Cho cả lớp đọc, đọc cá nhân để phát hiện lỗi sai chỉnh sửa kịp thời . Lồng ghép các trò chơi học tập trong các tiết học. Tổ chức cho các em hoạt động chuyển tiết bằng nhiều hình thức phong phú tránh mỏi mệt sau mỗi tiết học. Làm tốt công tác duy trì sĩ số hàng ngày, nề nếp của hs. Mỗi ngày làm ra 1 sản phẩm mới cho chính mình thì: Mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui. Đi học là hạnh phúc. Yêu cầu hs học thuộc bảng chữ cái, GV viết và in bảng chữ cái có phiên âm cách đọc phát về cho PHHS dạy thêm cho con đọc và viết ở nhà: a, b (bờ), c, k, q(cờ),d,gi,r(rờ)…

………………………………….. 17 ……………………………………….

3. Phân loại hệ thống cấu trúc vần gắn với luật chính tả. Ở giai đoạn này, học sinh được học cấu trúc vần – chữ theo nguyên tắc: phụ âm ghép với nguyên âm để tạo thành tiếng (ba, bà, bá, bả…). Gồm 22 phụ âm và 11 nguyên âm . Phụ âm đầu ghép với các vần theo mẫu tạo thành tiếng( ba, loa, lan, loan) ghép với 6 dấu thanh, 1 số nguyên âm đôi. Lưu ý luật chính tả: Âm /c/ đứng trước âm đệm ghi bằng con chữ q, âm đệm ghi bằng con chữ u: quai, quê… Âm /cờ/ đứng trước e,ê,i viết bằng con chữ /ca/ : ki, ke, kê Âm /gờ/, /ngờ/ đứng trước e,ê,i viết bằng con chữ /gh/, /ngh/. Dấu thanh được đặt trên đầu âm chính. Luật chính tả nguyên âm đôi /uô/, ươ/, /iê/ khi viết 1 mình dấu thanh được đặt ở âm thứ nhất, khi có âm cuối thì dấu thanh được đặt ở âm thứ 2…(nguyên âm đôi được viết iê hoặc ya: tiên, khuya… Thường xuyên nhắc lại luật chính tả khi đọc hay viết gặp lại những từ có liên quan đến luật chính tả. GV cho hs đọc luật chính tả đến đâu thực hành viết vào bảng con đúng chữ đó ( Âm /cờ/ đứng trước âm đệm ghi bằng con chữ q, HS viết chữ q…), Hoặc cho HS nhận diện luật chính tả sau khi GV viết xong. 4. Rèn kĩ năng viết chính tả Muốn viết chính tả tốt trước hết HS phải được luyện đọc nhiều và đọc đúng (tăng cường đọc cá nhân để sửa lỗi) Xác định rõ từng em học sinh hay viết sai chính tả và các lỗi sai hay mắc phải , xếp những em này ngồi ở những vị trí bàn đầu để dễ quan sát và kiểm tra trong khi các em viết bài. Sắp xếp những em hay viết sai chính tả ngồi gần những em HS đọc chuẩn, viết đúng chính tả để có thể giúp đỡ cho bạn. Trong các buổi phụ đạo học sinh viết yếu chỉ chú trọng phần luyện viết và đọc . Trước khi HS viết chính tả nên cho HS nêu lại tư thế ngồi viết cho chuẩn mới cho HS viết để tránh cho các em bị cong vẹo cột sống.

………………………………….. 18 ……………………………………….

Cuối học kì I HS cần HT HS hoàn thành

Ghi chú

6. Bài học kinh nghiệm và đề xuất: – Để thực hiện có hiệu quả , trong khối cần có sự thống nhất ngay từ tuần đầu của năm học để có sự chuẩn bị kịp thời. Chuyên môn trường , tổ cần có sự phân công thao giảng , lên chuyên đề rút kinh nghiệm trước khi tiến hành dạy đại trà; – GV cần có sự nghiên cứu nội dung bài dạy, nắm vững mục tiêu từng tiết dạy từ đó vận dụng cho phù hợp đối tượng HS lớp mình phụ trách;

………………………………….. 19 ……………………………………….

………………………………….. 20 ……………………………………….

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Lớp 5(Hoa) trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!