Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. / 2023 # Top 18 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 12/2022 # Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. / 2023 mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trình Bày: Ngô Thị Quý Linh

NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM – CÁCH PHÁT ÂM 29 MẪU TỰ, NHẬN CHỮ, NHẬN ÂM, ĐÁNH VẦN

I. Các chữ cái

Chữ in hoa

A       Ă              B       C       D       Đ       E       Ê       G       H       I        K 

L       M      N       O       Ô       Ơ       P       Q       R       S       T       U       Ư

V       X       Y

Chữ in thường

a        ă        â        b        c        d        đ        e        ê        g        h        i         k

l         m       n        o        ô        ơ        p        q        r        s        t         u        ư

v        x        y

*10 nguyên âm: đó là những chữ cái đọc lên tự nó có thanh âm: a, e, i, o, u, y, và các biến thể ê, ô, ơ, ư. Tên chữ và âm chữ đọc giống nhau.

2 bán nguyên âm: ă, â. Hai chữ này không đứng riêng một mình được, phải ghép với một trong các phụ âm c, m, n, p, t.

Vần ghép từ nguyên âm: ai, ao, au, ay, âu, ây, eo, êu, ia, iu, oa, oe, oi, ôi, ơi, ua, ưa, uê, ui, uy, ưi, iêu, yêu, oao, oai, oay, uôi, ươi, ươu, uya, uyu…

Vần ghép từ một hay hai nguyên âm hợp với một hay hai phụ âm: ac, ăc, âc, am, ăm, âm, an, ăn, ân, ap, ăp, âp, at, ăp, ât, em, êm, en, ên, ep, êp, et, êt, …, inh, iêng, uông, …

*Phụ âm là những chữ tự nó không có âm, ghép vào nguyên âm mới có âm được.

15 phụ âm đơn: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, r, s, t, v, x.

2 phụ âm không đứng một mình được: p và q. Chúng ta chỉ có chữ bắt đầu bằng ph và qu, không có chữ bắt đầu bằng p hay q đứng một mình trong tiếng Việt. Ví dụ: quà, phở, quê, cà phê.

Ghi chú: Chữ “p” có thể dùng để phiên âm hay ký âm những danh từ riêng hay danh từ chung của dân sắc tộc thiểu số hay người ngoại quốc. Ví dụ: pin (từ chữ “pile” tiếng Pháp).

11 phụ âm ghép: ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, qu, th, tr.

II. Cách phát âm.

Chữ viết      Tên chữ     Phát âm            

A                a                      a                                             

Ă                ă                      á                                             

                â                      ớ

B                bê                    bờ

C                 xê                    cờ

D                dê                    dờ

Đ                đê                    đờ

E                e              e

Ê                ê              ê

G                giê                    gờ

H                hát                   hờ

I                  i                       i

K                ca                     cờ

L                el-lờ                  lờ

M               em-mờ             mờ

N                en-nờ               nờ

O                o                      o

Ô                ô                      ô

Ơ                ơ                      ơ

P                 pê            pờ

Q                cu/quy             cờ

R                 e-rờ                  rờ

S                 ét-sì                  sờ

T                 tê             tờ

U                u                      u

Ư                ư                      ư

V                vê                    vờ

X                ích-xì               xờ

Y                i- gờ-rếch         i

III.       Đánh vần

Với cách đánh vần tiếng Việt, ngay từ bài học tiếng Việt đầu tiên, học sinh bắt đầu từ một tiếng đơn giản là nguyên liệu tạo nên các từ đơn và từ phức tạp trong tiếng Việt. Cũng vì vậy, học sinh chỉ học ít tiếng nhưng lại biết được nhiều từ những tiếng mà các em đã biết.

Ai và ay, ui và uy đọc khác nhau.

I hay Y đứng sau một phụ âm có thể tùy nghĩa của chữ mà dùng “i” hay” y”.

Khi chữ “i” đứng liền ngay trước phụ âm: ch, m, n, p hay t, thì viết “i”.

Hai chữ cái “c” (xê), “k” (ca) đều đọc là “cờ”.

  – Chữ “c” đi với các nguyên âm: a, o, u và các biến thể nguyên âm: ă, â, ô, ơ, ư.

  – Chữ “k” đi với các nguyên âm: e, i, y và biến thể nguyên âm: ê.

Chữ “g” và “gh” đọc là “gờ”.

  – Chữ “g” đi với các nguyên âm: a, o, u và biến thể nguyên âm: ă, â, ô, ơ, ư.

  – Chữ “gh” đi với các nguyên âm: e, i và biến thể nguyên âm: ê.

Chữ “ng” và “ngh” đọc là “ngờ”.

  – Chữ “ng” đi với các nguyên âm: a, o, u và các biến thể: ă, â, ô, ơ, ư.

  – Chữ “ngh” đi với các nguyên âm: e, i và biến thể: ê.

Chữ “gi” phát âm là “giờ”. Nếu vần ghép bắt đầu bằng “i” thì vì trùng với “i” của phụ âm đầu từ “gi” nên đơn giản bớt một “i”.

Ví dụ: gi + iếng = giếng

Khi đọc tắt những chữ cái tên của một hãng hay là bảng số xe, ví dụ: ABC, chúng ta đọc tên chữ là “a”, “bê”, “xê”, chứ không đọc là “a”, “bờ”, “cờ”.

Âm và thanh –

Âm là tiếng phát ra của một chữ: a, o, u, …

Thanh là giọng lên xuống làm cho âm đó biến ra tiếng khác: á, ò, ũ, …

Một âm có thể biến đổi do sáu thanh:

Hai thanh bằng: đoản bình thanh, tràng bình thanh.

Bốn thanh trắc: thượng thanh, hạ thanh, khứ thanh, hồi thanh.

đoản bình thanh không có dấu

tràng bình thanh có dấu huyền

thượng thanh có dấu sắc

hạ thanh có dấu nặng

khứ thanh có dấu ngã

hồi thanh có dấu hỏi

Trong sáu thanh ấy, một thanh không có dấu giọng và năm thanh có dấu giọng.

Dấu giọng – Năm dấu giọng này rất quan trọng đối với tiếng Việt. Nếu dấu giọng bị bỏ sót hay sai dấu thì nghĩa của chữ bị thay đổi.

Năm dấu giọng là:

 dấu huyền (à)

dấu sắc (á)

dấu hỏi (ả)

dấu ngã (ã)

dấu nặng (ạ)

Tiếng nào viết không có dấu giọng thì giọng tự nhiên bằng phẳng.

Những tiếng không có dấu giọng hay có dấu huyền thuộc về âm bằng.

Những tiếng có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã và dấu nặng thuộc về âm trắc.

Một tiếng đầy đủ có 3 thành phần: âm đầu – vần – thanh, luôn luôn phải có: vần – thanh, có tiếng không có âm đầu.

Ví dụ 1. Tiếng on có vần “on” và đoản bình thanh (không dấu), không có âm đầu. Đánh vần: o – nờ – on.

Ví dụ 2. Tiếng òn có vần “on” và tràng bình thanh (dấu huyền), không có âm đầu. Đánh vần: o – nờ – on – huyền – òn.

Ví dụ 3. Tiếng còn có âm đầu là “c”, có vần “on” và tràng bình thanh (dấu huyền). Đánh vần: cờ – on – con – huyền – còn.

Ví dụ 4. Tiếng ngọn có âm đầu là “ng”, có vần “on” và hạ thanh (dấu nặng). Đánh vần: ngờ – on – ngon – nặng – ngọn.

Vần đầy đủ có âm đệm, âm chính và âm cuối.

Ví dụ 1. Tiếng Nguyễn có phụ âm đầu là “ng”, có vần “uyên” và khứ thanh (dấu ngã). Vần “uyên” có âm đệm là “u”, âm chính là “yê”, âm cuối là “n”. Đánh vần “uyên” là: u – i – ê – nờ – uyên hoặc u – yê – nờ – uyên. Đánh vần “Nguyễn” là: ngờ – uyên – nguyên – ngã – nguyễn.

Ví dụ 2. Tiếng ảnh, không có phụ âm đầu, có vần “anh” và hồi thanh (dấu hỏi). Vần “anh” có âm chính “a”, âm cuối là “nh”. Đánh vần: anh – hỏi – ảnh.

Ví dụ 3. Tiếng nóng có phụ âm đầu là “n”, vần là “ong” và thượng thanh (dấu sắc). Đánh vần “ong”: o – ngờ – ong. Đánh vần tiếng “nóng”: nờ – ong – nong – sắc – nóng.

Ví dụ 4. Tiếng nghiêng có phụ âm đầu là “ngh”, có vần “iêng” và đoản bình thanh (không dấu). Vần “iêng” có âm chính “iê” và phụ âm cuối là “ng”. Đánh vần tiếng nghiêng: ngờ – iêng – nghiêng. Đây là tiếng có nhiều chữ cái nhất của tiếng Việt.

Ví dụ 5. Với từ có 2 tiếng Con cò, ta đánh vần từng tiếng: cờ – on – con – cờ – o – co – huyền – cò.

Một chút lịch sử về cách dạy đánh vần tiếng Việt

Trước năm 1935, các phụ âm gọi theo tên chữ, ví dụ: “b” là “bê”, “l” là “en-lờ”, “ngh” là “en-nờ-dê-hát”. Từ năm 1935 trở đi, có quy định mới cho chương trình học từ lớp đồng-ấu như sau:

“Học quốc-ngữ, cấm không được đánh vần theo lối cũ, nghĩa là không được gọi tên chữ mà phải gọi âm chữ”.

Do đó, “b” đọc là “bơ”, “l” đọc là “lơ”, “t” đọc là “tơ”, “ngh” đọc là “ngơ”, …

“gh” gọi là “gơ kép” để phân biệt với “g” gọi là “gơ đơn”;

“ngh” gọi là “ngơ kép” để phân biệt với “ng” gọi là “ngơ đơn”.

Người Việt từ xưa quen học chữ nho là một thứ chữ tượng hình, cho nên khi học tiếng Việt, các sách dạy vần ngày trước đều bắt đầu dạy bằng những chữ có nét giản dị, gạch một nét, hai nét, đường thẳng, đường tròn, rồi từ từ mới đến các chữ phức tạp khác.

Ví dụ: khi bắt đầu thì học chữ i, chữ u, chữ ư, chữ o, chữ e, chữ t, chữ l.

Sau đó, đến một giai đoạn, có thể là trong khoảng 1945 đến 1956, vì lý do chính trị, thay đổi chính phủ và nền hành chánh, từ một nước thuộc địa của Pháp thành ra một quốc gia độc lập, cho nên cách dạy đánh vần tiếng Việt đã trở lại như trước, không theo cách dạy thời thuộc Pháp (sách Quốc-văn Giáo-khoa Thư). Cách đọc các phụ âm khi đánh vần là “bê”, “xê”, “dê”.

Năm 1956, sau khi nền Đệ-nhất Cộng-hòa được thành lập, nghị định và định chế về ngôn ngữ của Bộ Quốc-gia Giáo-dục miền Nam Việt-Nam thay đổi cách đọc các phụ âm cho phù hợp với cách phát âm của âm vị.

Ví dụ: “b” phát âm là “bờ”, “c” phát âm là “cờ”.

Học sinh ghép vần trước, sau đó ghép phụ âm đầu vào với vần và thanh.

Các nhà ngôn ngữ học cho là theo cách này dễ ghép âm hơn là cách đánh vần theo kiểu cũ.

Ví dụ:

Trước năm 1956: từ BÀN, đánh vần là “bê-a-ba-en-nờ-ban-huyền-bàn”.

Sau năm 1956: từ BÀN, ghép vần như sau: “a-nờ-an-bờ-an-ban-huyền-bàn”.

Trong tiếng Việt cũng như mọi ngôn ngữ, mỗi một tiếng có một nghĩa khác nhau, đọc và viết khác nhau. Tuy nhiên, có nhiều tiếng đọc hơi giống nhau và cách viết khác đi. Do đó, chúng ta cần phải biết đọc và viết cho đúng để khỏi nhầm lẫn chữ nọ với chữ kia.

Theo học giả Lê Ngọc Trụ thì “Vấn-đề chánh-tả Việt-ngữ là vấn-đề tự-nguyên-học. Muốn viết trúng một tiếng, ngoài cách phát-âm đúng, phải biết nghĩa-lý hoặc nguồn-gốc của tiếng đó.” Muốn viết đúng chính tả, ông nói nên chú ý ba điểm sau:

Không viết sai phần âm khởi đầu;

Không viết sai các vận cuối;

Luật hỏi ngã.

Tiếng Việt cũng có hệ thống mạch lạc và hợp lý, có nguyên tắc cốt yếu là “luật tương-đồng đối-xứng của các âm-thể”, có nghĩa là “các âm-thể đồng tánh-cách phát-âm và đồng chỗ phát-âm đi chung nhau và đổi lẫn cho nhau.” Nếu hiểu được nguyên tắc này và hiểu được nguồn gốc tiếng Việt thì ta sẽ hiểu được nghĩa lý của mỗi tiếng, từ đó việc thống nhất chính tả và điển chế văn tự sẽ dễ dàng hơn.

Tham khảo:

Việt-Nam Văn-Phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm

Tiểu-học Việt Nam Văn-Phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Quang Oánh

Quốc-văn Giáo-khoa-thư, Lớp Đồng-Ấu, Việt-Nam Tiểu-Học Tùng-Thư, do Nha Học-chính Đông-pháp giao cho Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận soạn.

Chánh Tả Việt Ngữ của Lê Ngọc Trụ

Học đọc tiếng Việt của Đỗ Quang Vinh

Vần Việt ngữ, Nhóm Lửa Việt thực hiện

Văn Phạm Tiếng Việt, Nguyễn Ngọc Lan, cựu giáo sư

NGÔ THỊ QUÝ LINH

Tháng Bảy Năm 2019

Nhà giáo Ngô Thị Quý Linh

* Đã xuất bản một số sách soạn cho thanh thiếu niên từ năm 1990.* Tác giả một số tác phẩm về lịch sử và văn hóa Việt Nam:

  – Sử Xanh Lưu Truyền (1991) – Lời Mẹ Hiền qua tục ngữ ca dao (1993) – Lược sử Triết lý Giáo dục Việt Nam (1997) – Lịch sử Việt Nam từ thuộc Pháp đến Độc Lập, 1858-1945 (2002) – Việt Nam và Công cuộc Duy Tân (2019)

* Cố vấn cho Viện Bảo Tàng Thiếu Nhi tại Houston (Children’s Museum of Houston) năm 2004 để thực hiện triển lãm “Con Rồng Cháu Tiên”.

* Thành lập Trường Truyền Thống Việt từ năm 2006.

* Phụ trách chương trình Văn Hóa Việt trên đài Saigon Houston từ năm 2007.

* Cộng tác từ năm 2014 với Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam tại Hải Ngoại do Giáo sư Nguyễn Song Thuận chủ trương.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Cách Đánh Vần Tiếng Việt, Bảng Âm Vần Theo Chương Trình Mới Vnen Và Gi / 2023

Hiện nay, đoạn clip giáo viên dạy tiếng Việt lớp 1 có cách vần lạ đang gây xôn xao trong cộng đồng mạng khiến cho nhiều bậc phụ huynh cũng như người xem cảm thấy hoang mang, lo lắng. Tuy nhiên, được biết, đây là cách đánh vần tiếng Việt theo Cải cách Giáo dục, hiện cách đánh vần này đang được áp dụng, triển khai ở 49 tỉnh thành trên cả nước.

Để các bậc phụ huynh có con nhỏ học lớp 1 nói riêng và mọi người nói chung biết được cách đánh vần này, chúng tôi xin hướng dẫn cách đánh vần tiếng Việt áp dụng theo bộ sách Cải cách Giáo dục.

Bảng âm vần theo chương trình Giáo dục công nghệ

– Các chữ đọc như cũ: a, ă, â, b, ch, e, ê, g, h, i, kh, l, m, n, ng, ngh, nh, o, ô, ơ, ph, s, t, th, u, ư, v, x, y

– Các chữ đọc là “dờ” nhưng phát âm có phần khác nhau: gi; r; d

– Các chữ đều đọc là “cờ”: c; k; q

Các âm vẫn phát âm như cũ bao gồm:

i, ai, ôi, ơi, ui, ưi, ay, ây, eo, ao, au, âu, iu, êu, ưu, on, an, ăn, ân, ơn, ưn, ôn, in, un, om, am ăm, âm, ôm, ơm, êm, em, im, um, ot, at, ăt, ât, ôt, ơt, et, êt, ut, ưt, it.

Bảng âm vần theo chương trình VNEN

– Các âm giữ nguyên cách đọc như cũ: a, ă, â, b, ch, e, ê, g, h, I, kh, I, m, n, ng, ngh, nh, o, ô, ơ, ph, s, t, th, u, ư, v, x, y

Các âm vẫn giữ cách phát âm như cũ bao gồm:

oi, ai, ôi, ơi, ui, ưi, ay, ây, eo, ao, au, âu, iu, êu, ưu, on, an, ăn, ân, ơn, ưn, ôn, in, un, om, am, ăm, âm, ôm, ơm, êm, e, im, um, ot, at, ăt, ât, ôt, ơt, et, êt, ut, ưt, it.

1. Phân biệt tên gọi và âm đọc của chữ cái

Chắc chẳn, ngày trước các bạn học cách đánh vần chữ cái trong tiếng Việt có nhiều cách phát âm cho một chữ cái. Chẳng hạn như chữ “b”, bạn có thể đọc là “bờ” và có thể đọc là “bê”. Tuy nhiên ở trong sách Cải cách Giáo dục thì chữ “b” phân chia ra thành âm đọc và tên gọi. Âm đọc là “bờ”, còn “bê” là tên gọi. Do đó, chữ “Bê” (b) là đúng, còn chữ “bờ” là sai. Các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt cũng như thế, đều chia thành cách gọi và cách đọc.

Bảng chữ cái tiếng Việt theo Cải cách Giáo dục

Đặc biệt, 3 chữ cái như “C”, “K”, “Q” theo cách đánh vần cũ thì “C” đọc là “Cê”, “K” đọc là “Ca”, “Q” đọc là “Quy”, còn theo sách Cải cách Giáo dục thì cả ba chữ cái này lại đọc là “cờ”. Đặc biệt thể hiện rõ ở chữ Q, cách đọc cũ là “cu” nhưng cách đọc mới lại là “quy”. Tại sao lại như thế? Chẳng hạn:

– Ca theo đánh vần cũ là cờ-a-ca, đánh vần mới là– Ki theo đánh vần cũ là kờ-i-ki, đánh vần mới là cờ-i-ki– Qua theo đánh vần cũ là quờ-a-qua, đánh vần mới là cờ-oa-qua.– Quê theo đánh vần cũ là quờ-ê-quê, đánh vần mới là cờ-uê-quê.

Nguyên tắc cơ bản nhất khi học tiếng Việt thì các học sinh cần phải phân biệt được Âm/Chữ – Vật thể/Vật thay thế.

Theo quy tắc chính tả thì âm chỉ có một nhưng 1 âm được ghi bằng nhiều chữ khác nhau: 1 âm có thể ghi bằng 1 chữ, 2 chữ, 3 chữ hoặc 4 chữ. Chẳng hạn như:

– 1 âm ghi bằng 1 chữ: Âm /a/ ghi bằng chữ a, âm /e/ ghi bằng chữ e, âm /hờ/ ghi bằng chữ h …– 1 âm ghi bằng 2 chữ: Âm /ngờ/ ghi bằng chữ ng, ngh– 1 âm ghi bằng 3 chữ: Âm /cờ/ ghi bằng chữ c, k, qu– 1 âm ghi bằng 4 chữ: Âm /ia/ ghi bằng chữ ie, ia, yê, ya

2. Đặc điểm ngữ âm và đặc điểm chữ viết tiếng Việt

Do tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập nên có ảnh hưởng tới việc chọn nội dung cũng như phương pháp dạy đánh vần tiếng Việt.

Xét về ngữ âm thì tiếng Việt là ngôn ngữ gồm có nhiều âm điệu, âm tiết được viết rời và nói rời nên bạn rất dễ để nhận diện ra. Bên cạnh đó, ranh giới âm tiếng Việt trùng ranh giới hình vị nên hầu hết âm tiếng Việt đều mang nghĩa. Do đó, tiếng được chọn làm đơn vị cơ bản để đưa ra chương trình dạy cho các học sinh để học sinh biết đọc và biết viết ở trong phần môn Học vần.

Đối với cách lựa chọn này thì ngay ở trong bài học tiếng Việt đầu tiên, học sinh nhanh chóng tiếp cận với một tiếng tối giản, nguyên liệu tọ ra từ đơn, từ phức ở trong tiếng Việt. Do đó, học sinh chỉ học ít nhưng lại biết được nhiều từ.

3. Cách đánh vần tiếng Việt một tiếng

1 tiếng bắt buộc có vần và thanh, còn âm đầu có hoặc không có trong tiếng cũng cũng được. Chẳng hạn:

– Tiếng /Anh/ đánh vần tiếng Việt là a-nhờ-anh, có vần “anh” và thang ngang, còn lại không có âm đầu.– Tiếng /Ái/ đánh vần là a-i-ai-sắc-ai gồm có vần “ai” và thang sắc.– Tiếng /đầu/ đánh vần là đờ-âu-đâu-huyền-đầu, gồm có âm đầu là “đ”, vần “âu”, thanh huyền.– Tiếng /ngã/ đánh vần là ngờ-a-nga-ngã-ngã, gồm có âm đầu là “ng”, vần “a” và thanh ngã.– Tiếng /Nguyễn/ đánh vần là ngờ-uyên-nguyên-ngã-nguyễn, gồm có âm đầu là “ng”, có vần “uyên”, thanh ngã. Vần “uyên” có âm đệm “u” còn âm chính là “yê”, âm cuối là “n” nên bạn có thể đánh vần “uyên” là u-i-ê-nờ-uyên hoặc có thể đánh vân u-yê(ia)-nờ-uyên.

https://thuthuat.taimienphi.vn/huong-dan-danh-van-tieng-viet-theo-cai-cach-giao-duc-37235n.aspx Soạn Tiếng Việt lớp 3 – Hai Bà Trưng là một trong những bài tập mà các học sinh lớp 3 cần làm khi học tiếng Việt, các em có thể tham khảo bài viết soạn tiếng Việt lớp 3 Hai Bà Trưng, Chính tả nghe và viết của chúng tôi để hiểu bài và làm bài tốt.

Phương Pháp Đánh Vần Tiếng Anh Giúp Cải Thiện Phát Âm Hiệu Quả / 2023

Hôm qua Tường có tư vấn cho một bạn học tiếng Anh. Tường hỏi “Can I help you?”. Một câu tưởng chừng rất đơn giản nhưng bạn lại nghe không hiểu. Hỏi ra thì mới biết bạn nghe tưởng là “Can I health you?” và bạn cũng bối rối do thấy nó vô nghĩa. Tường liền hiểu ngay bộ lọc âm thanh của bạn có vấn đề vì input tiếng Anh sai từ thời đi học. Trong bản đồ âm thanh của bạn, từ help được liên kết với âm tiếng Việt là “hép hép“.

Bạn còn kể hồi đó chơi game bắn súng giải cứu con tin gì đó thì toàn nghe được là “Hép mi“. Ngộ cái là khi biết được mặt chữ là “help” rồi, bạn có thể phát âm đúng là /help/ nhưng về phản xạ thì nó vẫn là hép.

Xem cách phát âm help me đúng ở đây

Tường thấy bạn là một trường hợp điển hình của việc mất căn bản trong học phát âm. Có rất nhiều bạn ngoài kia gặp khó khăn trong việc học tiếng Anh cũng vì vậy. Nguyên nhân đơn giản là vì bạn đã học tiếng Anh SAI từ nhỏ.

Tường nghĩ thầm trong đầu “Thà bạn chưa biết gì về tiếng Anh, bây giờ mới bắt đầu học, bắt đầu tiếp xúc thì còn dễ học hơn rất nhiều. Đằng này, nó cần nỗ lực rất lớn để vừa UNLEARN những cái sai trong quá khứ vừa LEARN những cái đúng ở hiện tại“.

Vậy làm sao để có thể giúp bạn này phát âm đúng và tốt hơn? Theo nghiên cứu rất nhiều tài liệu về ngôn ngữ và trải nghiệm giảng dạy thực tế, Tường nghĩ chỉ có thể dùng phương pháp đánh vần tiếng Anh (phonic) mới có thể giúp được bạn.

Học đánh vần tiếng Anh tại Simple English như thế nào?

Sự thật là học đánh vần nó có phần thử thách ở chỗ cảm xúc: dễ chán. Nó cần sự kiên nhẫn và luyện tập rất nhiều từ học viên. Để hỗ trợ học viên tốt hơn, Simple English đã thiết kế cách giảng dạy đánh vần tiếng Anh như sau:

– Tactile reinforcement (hướng dẫn khẩu hình miệng):

Để học viên cảm nhận được môi răng lưỡi của mình phải ở đâu, lấy hơi từ bụng thế nào, thanh quản có rung không,… đặc biệt hiệu quả với các bạn chưa quen với phát âm tiếng Anh.

– Visual reinforcement (mô tả bằng hình ảnh):

Kỹ thuật này hiệu quả để giúp người lớn tập nhấn nhá và luyện ngữ điệu, do khả năng nhạy cảm với âm thanh không còn nhạy bén như của trẻ em. Giáo viên sẽ dùng các ký hiệu như viết hoa, mũi tên lên xuống, chấm tròn to nhỏ để giúp học trò luyện âm.

VD: aMAzing, PUZzle,… hoặc “how are YOU doing?” vs “how are you DOING?”

– Drama voice (cường điệu hóa):

Kỹ thuật này bao gồm sử dụng Tongue twisters, hát rap, nói theo vần điệu, bài hát, giả giọng hài hước,… để giúp học viên nhận ra những khác biệt trong phát âm tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời tạo không khí vui vẻ trong lớp

– Film & TV show reinforcement (hấp thụ trực tiếp qua film và tiếng Anh):

Phim và TV là những nguồn học tiếng Anh rất tốt, vừa vui, vừa thực tế và tạo cảm xúc cao.

– Video recording (quay video phát âm):

Bạn sẽ giao 1 đoạn video phát âm về nhà. Bạn về nghe, lặp đi lặp lại ít nhất 5 ngày và quay video nói lại, yêu cầu phát âm đúng và bắt chước y chang ngữ điệu, thần thái của người bản xứ.

Quy trình giảng dạy kết hợp cả trên lớp (trực tiếp) và ở nhà (gián tiếp) liên tục suốt khóa học để đảm bảo bạn có thể nắm vững cách đánh vần tiếng Anh và có được thời gian luyện tập nhiều nhất có thể. Từ đó mang đến sự tiến bộ và kết quả mong muốn cho học viên.

LỢI ÍCH CỦA ĐÁNH VẦN TIẾNG ANH

1. Sửa sai thành đúng

Bắt bệnh dễ thấy nhất đối với những bạn phát âm sai là vì bạn đã nạp input (nghe) sai từ nhỏ. Đối với mấy bạn 8x, 9x, hồi cấp 2 khi mới học tiếng Anh, các thầy cô giáo trường làng thường không chú trọng việc phát âm đúng. Chúng ta học phát âm tiếng Anh bằng cách ghi phiêm âm tiếng Việt.

Bạn nhớ lại coi để đọc từ beautiful thì hồi nhỏ mình ghi sao? Có phải là /bíu-ti-phun/. Dù nó sai hoàn toàn nhưng chúng ta còn chưa đủ nhận thức để biết, mà đành ngoan ngoãn học theo và TIN RẰNG ĐÓ LÀ CÁCH PHÁT ÂM ĐÚNG.

Hơn 10 năm được học và phát âm như vậy, chúng ta đã hoàn toàn xác nhận và tin tưởng như đinh đóng cột rằng beautiful phát âm là /bíu-ti-phun/.

Về cơ chế hoạt động thì não bộ luôn biết cách tiết kiệm năng lượng cao nhất có thể. Để làm được điều đó, nó cần đi theo NHỮNG THÓI QUEN. Do đó dù có thể nghe loáng thoáng là lạ khi nghe phát âm đúng thì nó vẫn lười nhác mà lựa chọn thông tin (sai lệch) cũ để tin theo.

Giờ đây cho dù được nghe phát âm ĐÚNG (/ˈbjuːtɪf(ə)l/) từ người bản xứ hay giáo viên đi nữa thì bộ lọc âm thanh vẫn bẻ cong nó thành /bíu-ti-phun/ mà thôi.

Chứng “bệnh” này sẽ làm bạn rất khó khăn để học cái đúng. Bạn nào may mắn được input nghe đúng ngay từ đầu thì bộ lọc âm thanh của họ chuẩn, có thể không cần học đánh vần tiếng Anh vẫn nghe và phát âm nhái theo lại được.

Bạn nào không may thì cần phải học đánh vần tiếng Anh thông qua bảng phiên âm quốc tế IPA để “chữa trị”.

Khi bạn đã tận mắt chứng kiến ký hiệu phiên âm IPA và nghe được từng âm tiết khác nhau, tiến trình sửa sai (unlearn) và học cái đúng mới (learn) được hình thành. Bạn được biết rằng beautiful bao gồm các âm tiết (phonemes) /ˈb-juː-tɪ-f(ə)l/ hợp lại thành.

Chính quá trình nhận thức lại này thông qua input (đọc – thấy mặt chữ IPA và nghe các âm tiết của nó) sẽ giúp bạn sửa lại bản đồ âm thanh từ sai thành đúng.

2. Phân biệt phiên âm tiếng Anh và tiếng Việt

Vấn đề nữa là chính vì cách học sai đó nên ta lẫn lộn giữa phiên âm tiếng Anh và tiếng Việt. Từ THE trong tiếng Anh dễ dàng được đọc y như âm ĐỜ hay chữ Đ trong tiếng Việt. Bạn khó thể nào tưởng tượng ra còn cách phát âm khác có thể tồn tại được. Điều nhầm lẫn này làm hình thành nên một chất giọng Vinglish.

Việc bạn phát âm sai có ảnh hưởng gì trong giao tiếp không? Sự thật là nó sẽ không phiền hà nhiều, miễn là bạn có thể diễn tả trọn ý để người nghe hiểu được. Có rất nhiều người phát âm sai nhưng vẫn tự tin và làm việc trong môi trường quốc tế. Tiêu biểu là Ấn Độ – chất giọng cực kỳ khó nghe nhưng địa vị của họ ở thế giới nói chung hay ở Mỹ thì không thể bàn cãi.

Tuy nhiên nó sẽ khó khăn và ảnh hưởng nghiêm trọng nếu bạn KHÔNG THỂ NGHE HIỂU NGƯỜI TA NÓI GÌ. Đây là vấn đề chính yếu đối với người học ngoại ngữ Việt Nam. Được tiếp xúc tiếng Anh sai từ nhỏ (nghe thầy cô phát âm sai), được học phiên âm sai (phiên âm bằng tiếng Việt) nên giờ đây khi nghe giọng thực sự của người bản xứ hay người phát âm đúng, bạn không tài nào hiểu được.

Nhờ phương pháp đánh vần tiếng Anh phonic, bản đồ âm thanh của bạn được sửa dần từ sai thành đúng.

Bạn sẽ dần dần phân biệt được sự khác nhau giữa cách phiên âm tiếng Anh và tiếng Việt.

Bạn sẽ hiểu và biết được rằng /ðə/ khác với /đờ/ như thế nào. Chính nhờ sự phân biệt ấy, khả năng nghe của bạn sẽ tiến bộ dễ dàng. Bạn không còn phải khó nhọc để nhận diện được health /hɛlθ/ và help /hɛlp/ khác nhau về âm cuối (ending sound) như thế nào.

Đó sẽ là một bước tiến to lớn trong hành trình học tiếng Anh của bạn đấy. Bạn sẽ không ngờ để cải thiện kỹ năng nghe chỉ cần học phát âm lại cho chuẩn thôi, đúng không nào!

3. Biết cách phát âm bất cứ từ vựng nào

Có từ nào trong tiếng Việt mà bạn không biết đọc không? Có chăng nó chỉ hiếm hoi những từ dễ nhầm lẫn mà thôi. Trong khi đó, tiếng Anh là có cả hơn một triệu từ vựng. Sẽ thật bất khả thi để có thể ghi nhớ cách đọc của cả núi từ vựng đó.Với phương pháp đánh vần tiếng Anh, bạn chỉ cần biết cách đọc 44 phiên âm quốc tế IPA. Từ 44 phiên âm này, bạn dễ dàng đọc được toàn bộ các từ tiếng Anh còn lại. Bởi vốn dĩ, tất cả các từ đều được phát âm từ 44 âm tiết này.

Bởi vậy, lựa chọn học đánh vần với IPA là cách học đơn giản và mang lại lợi ích rất to lớn sau này cho bạn đó!

Tại sao Tường dành thời gian viết bài dài và chất lượng như vậy chỉ để giới thiệu phương pháp đánh vần tiếng Anh tưởng chừng đơn giản?

Bởi vì Tường biết có rất nhiều bạn dễ dàng bỏ qua cái bước quan trọng và thiết yếu này. Đánh vần nó như nền móng của cái nhà vậy. Tâm lý chúng ta dễ tập trung vào ngôi nhà – là khả năng nghe nói. Cái sự hào nhoáng của việc nghe nói giao tiếp thành thạo dễ khiến ta chăm chăm vào việc tập trung vào nó.

Ta dễ rơi vào bẫy cứ tập trung vào nghe nói. Không tiến bộ. Lại tập trung vào nghe nói. Lại không tiến bộ. Mà không tìm được hướng đi mới. Dần dần sinh ra chán nản và không có niềm tin về việc học tiếng Anh. Vì thiếu cái nền thì cái nhà không thể vững chãi được. Không ai xây nhà từ nóc cả. Trong khi đó, chỉ cần dành thời gian 1-2 tháng để fix sửa lại nền móng là phát âm – thì bạn sẽ tiến bộ một cách vượt bậc đến không ngờ.

Hãy tìm hiểu bộ phiên âm quốc tế IPA. Học cách đọc đúng và chính xác tất cả 44 phiên âm này. Sự học tiếng Anh của bạn sẽ trở nên đơn giản và dễ dàng hơn rất nhiều đấy! Chưa kể phát âm đúng thì bạn sẽ tự tin hơn rất nhiều rồi. Rất nhiều lợi lạc từ việc học đơn giản này.

Trần Trinh Tường

44 Ngữ Âm Trong Tiếng Anh Và Cách Phát Âm Đúng (Phần 1) / 2023

– Môi không tròn, miệng mở rộng sang hai bên. Khoảng cách môi trên và môi dưới hẹp.

– Lưỡi: Mặt lưỡi đưa ra phía trước khoang miệng. Đầu lưỡi cong, lưỡi chạm vào

– Môi: Môi không tròn, miệng mở rộng sang hai bên nhưng không rộng bằng âm /i:/, khoảng cách môi trên và môi dưới mở hơn một chút so với âm /i:/

– Lưỡi: Đặc trước khoang miệng nhưng hơi lùi về sau so với âm /i:/. Phía đầu lưỡi cong nhẹ, đưa lưỡi lên cao.

– Miệng mở khá rộng, hàm dưới đưa xuống thoải mái, tự nhiên.

– Lưỡi nên để tự nhiên, thoải mái khi phát âm. Nhưng hơi đưa về phía sau so với âm /æ/.

– Môi: Môi khá tròn, môi dưới dướng ra ngoài và hàm dưới đưa xuống.

– Lưỡi: Mặt lưỡi đưa sâu vào trong khoang miệng

– Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi ra tự do không bị cản.

– Lưỡi: Đưa lưỡi ra phía trước khoang miệng, cuống lưỡi đưa thấp gần với ngạc dưới.

– Âm này có độ dài ngắn, dây thanh rung, luồng hơi đi ra tự do và không bị cản.

– Độ dài của âm: Âm ngắn. Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi ra tự do không bị cản.

– Miệng: mở khá rộng sang hai bên, hàm dưới đưa xuống một chút.

– Lưỡi: Mặt lưỡi đưa ra phía trước khoang miệng

– Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi ra tự do không bị cản.

– Môi, miệng mở tự nhiên, thoải mái.

– Lưỡi để tự nhiên, thoải mái như khi phát âm các nguyên âm trong tiếng Việt

– Âm dài. Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi ra tự do không bị cản, có thể kéo dài

– Môi, miệng mở tự nhiên và thoải mái. Hình dáng của môi: Môi, miệng và hàm mở tự nhiên, thoải mái

– Lưỡi để tự nhiên và thoải mái khi phát âm.

– Mặt lưỡi nằm khoảng giữa trong khoang miệng, thấp hơn một chút so với âm /ɜː/

– Môi mở tròn và hướng ra ngoài.

– Mặt lưỡi đưa sâu vào trong khoang miệng

– Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi từ phía trong miệng ra tự do không bị cản, có thể kéo dài

– Môi mở khá tròn, hướng ra ngoài, bè hơn một chút so với âm /u:/

– Lưỡi đưa sâu vào trong khoang miệng nhưng không sâu bằng âm /u:/

– Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi từ phía trong miệng ra tự do không bị cản.

– Môi mở thật tròn, cả môi trên và môi dưới hướng ra ngoài, hàm dưới đưa xuống

– Mặt lưỡi đưa sâu vào trong khoang miệng

– Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi từ phía trong miệng ra tự do không bị cản, có thể kéo dài.

– Môi mở thật rộng, hàm dưới đưa xuống một chút

– Hướng đưa của lưỡi: Mặt lưỡi đưa sâu vào trong khoang miệng. Phía cuống lưỡi đưa xuống thấp gần ngạc dưới.

– Khi phát âm, dây thanh rung, luồng hơi đi từ phía trong miệng ra tự do không bị cản, có thể kéo dài.

– Miệng: Khi bắt đầu, miệng mở rộng sang hai bên, ngay sau đó, miệng hơi khép lại, môi mở ra tự nhiên.

– Lưỡi: mặt lưỡi đưa ra phía trước khoang miệng và hướng lên trên, ngay sau đó, đưa lưỡi lùi vào giữa khoang miệng.

– Miệng mở rộng sang hai bên, hàm dưới đưa xuống chút, miệng hơi khép lại mà môi mở ra tự nhiên.

– Khi bắt đầu, mặt lưỡi đưa ra phía trước và nằm ở giữa khoang miêng, ngay sau đó, đưa lưỡi lùi vào giữa khoang miệng.

– Môi: mở khá tròn, hơi bè, hướng ra ngoài, ngay sau đó, miệng hơi mở ra.

– Khi bắt đầu, mặt lưỡi đưa vào phía trong khoang miệng và hướng lên gần ngạc trên, ngay sau đó, đưa lưỡi lùi về giữa khoang miệng.

– Miệng mở rộng sang hai bên, hàm đưa xuống dưới một chút.

– Lưỡi đưa ra phía trước và nằm ở giữa khoảng miệng.

– Hình dáng của miệng: Chuyển từ âm sau /a:/ sang âm trước /ɪ/

– Khi bắt đầu, mặt lưỡi đưa vào trong khoang miệng và phía cuống lưỡi đưa xuống thấp gần ngạc dưới, ngay sau đó, đưa lưỡi ra phía trước khoang miệng và hướng lên gần ngạc trên.

– Khi bắt đầu, miệng mở thật tròn, hàm dưới đưa xuống, ngay sau đó, hàm dưới khép lại, miệng mở rộng sang hai bên.

– Mặt lưỡi đưa vào trong khoang miệng và nằm ở giữa khoang miệng, ngay sau đó, đưa lưỡi ra phía trước khoang miệng và hướng lên gần ngạc trên.

– Khi bắt đầu, miệng mở rộng sang hai bên hết cỡ, hàm dưới đưa xuống hết cỡ, ngay sau đó, hàm dưới khép lại, miệng mở tròn.

– Mặt lưỡi đưa ra phía trước khoang miệng và đưa xuống thấp gần ngạc dưới, ngay sau đó, đưa lưỡi vào trong khoang miệng và hướng lên gần ngạc trên.

– Khi bắt đầu, môi, miệng và hàm mở tự nhiên, thoải mái, ngay sau đó, hàm dưới khép lại, miệng mở tròn.

– Mặt lưỡi nằm ở khoảng giữa trong khoang miệng, ngay sau đó, đưa lưỡi vào trong khoang miệng và hướng lên gần ngạc trên.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. / 2023 trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!