Đề Xuất 1/2023 # Dân Tộc Học Như Một Chủ Nghĩa Nhân Bản Mới (C. Lévi # Top 2 Like | Maytinhlongthanh.com

Đề Xuất 1/2023 # Dân Tộc Học Như Một Chủ Nghĩa Nhân Bản Mới (C. Lévi # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dân Tộc Học Như Một Chủ Nghĩa Nhân Bản Mới (C. Lévi mới nhất trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

DÂN TỘC HỌC NHƯ MỘT CHỦ NGHĨA NHÂN BẢN MỚI (C. LÉVI-STRAUSS, 1953)

Cập nhật ngày 12-3-2019Từ khóa : Nhân học ; Dân tộc học ; Nhân bản (Chủ nghĩa) ; Lévi-Strauss – Trích đoạn C2

DÂN TỘC HỌCNHƯ MỘTCHỦ NGHĨA NHÂN BẢN MỚI(1953)

Tác giả: Claude Lévi-Strauss[1]*Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

*

Ở Phương Tây, bên cạnh xu hướng cho rằng sự phân chia dân tộc học thành một số khu vực cụ thể – tuy vẫn giữ liên hệ với các bộ môn khoa học xã hội khác và xã hội học nói chung – là một yêu cầu thời thế thiết yếu, thì một xu hướng khác lại muốn nhìn thấy dân tộc học như một hình thức mới của chủ nghĩa nhân bản, với khác biệt duy nhất là nó chỉ tập trung trên các nhóm văn hóa xa lạ với nền văn minh cơ giới của họ. Trong chừng mức mà các nước Âu Mỹ đã bác bỏ học thuyết của Lucien Lévy-Bruhl về đặc trưng, và nhất là tính không thể giản quy của «não trạng sơ khai (mentalité primitive)», thì nỗ lực gắn kết những công trình nghiên cứu dân tộc học vào truyền thống nhân bản, như tại «Trường Đông Phương Và Phi Châu Học (School of Oriental and African Studies*[2])» ở London, là điều tất nhiên.

Ở các trang chúng tôi trích dịch dưới đây, Claude Levi-Strauss*, một trong những bậc thầy người Pháp hiện nay của khoa học này, cũng quan niệm thiên chức «nhà dân tộc học» của ông theo cùng định hướng «chủ nghĩa nhân bản mới».

So với bản gốc, ngoài việc thêm một hai chú thích cho những độc giả không chuyên, bản dịch tiếng Việt này còn có một thay đổi nhỏ về hình thức: mọi quy chiếu của Lévi-Strauss về các tác giả được ông nhắc tới hay trích dẫn đều được đưa xuống phần chú thích ở cuối bài, thay vì đặt ngay trong bài như ở bản tiếng Pháp.

*

Như chúng ta đều nhận thấy mỗi ngày một rõ nét hơn, ngành dân tộc học đang tự di chuyển dần vào vị thế có thể trở thành biểu hiện của một thứ chủ nghĩa nhân bản mới, do được thúc đẩy bởi một yêu cầu cấp bách, vừa đòi hỏi nhiều về phẩm chất, vừa hầu như chưa ý thức được rõ ràng về cả đối tượng của mình. Dù sao, có thể nói rằng sự kiện thời Phục Hưng khám phá lại nền văn hóa cổ đại – với sự hợp tác của người Ả Rập – tự nó đã là một công trình dân tộc học được thiết kế trên một cơ sở hạn chế. Tuy bao quát hơn về tham vọng, thật ra trào lưu Hiện Đại căn bản cũng không khác mấy với thời trước về phương pháp: chủ đích vẫn là làm sao đạt tới sự hiểu biết thấu đáo về con người, nhờ sự nghiên cứu và so sánh một lượng lớn những kinh nghiệm nhân sinh tập thể. Tuy rằng, ở đây, sự tìm tòi không được thực hiện thông qua những cuộc phiêu lưu tinh thần của các đầu óc xuất chúng – thi sĩ, nhà hùng biện, triết gia – mà qua sự lao động cần cù và tầm thường của những tập hợp vô danh gọi là xã hội; và cũng ở đây, thay vì chỉ tập trung trên một giới tinh hoa (luôn luôn được chọn ra và giữ lại trên một vài tiêu chuẩn chủ quan), ta phải dần dần tự thuyết phục mình rằng chẳng một kết luận nào là có giá trị cho một số người mà lại không được khơi mở từ kinh nghiệm của tất cả.

Có lẽ chưa bao giờ một tham vọng cao như thế lại được phát biểu bởi chỉ một môn học duy nhất: bởi vì xuyên suốt mọi kinh nghiệm xã hội của loài người, đích nhắm của nó chính là đạt tới con người toàn diện chứ không thấp hơn. Nhà dân tộc học có thể cảm thấy nản chí trước nhiệm vụ, nếu cùng một lúc với sự ước lượng tầm mức này, ông ta không nhìn thấy cái khả năng đơn giản hóa các phương pháp của mình, nhằm nắm bắt cái chủ yếu từ khối tài liệu khổng lồ trong mỗi trường hợp. Những công trình nghiên cứu rất xa cách nhau, như việc xây dựng dự án Dữ Liệu Về Khu Vực Quan Hệ Con Người (Human Relations Area Files*)[3] của Đại học Yale, các cuộc điều tra đã đặt nền cho loại ý niệm như «nhân cách cơ bản* (personnalité de base)», «bản sắc dân tộc (caractère national)», và những phân tích cấu trúc… tất cả thật ra đều nhằm giải đáp – bằng các phương tiện khác nhau, thậm chí đôi khi với những yêu cầu lý thuyết tương kị – cho cùng một quan tâm là rút ra từ những phong tục, tín ngưỡng, thiết chế… cái chất kết tủa vô cùng nhỏ nhưng chứa đựng bên trong nó một ý nghĩa.

Song song với nhận thức về sứ mệnh đặc thù của mình, dân tộc học cũng đồng thời giữ lại đặc tính lai tạp và nước đôi mà nó thừa hưởng từ nguồn gốc lịch sử: nó đã tiếp thu một cách rất lộn xộn những quan sát mà không một khoa học nhân văn truyền thống nào sẵn sàng thu nạp – hoặc vì những sắc dân đối tượng có vẻ như nằm ngoài mọi hệ thống quy chiếu sẵn có, bởi sự kì lạ của phong tục và mức sống quá thấp của họ; hoặc vì các lý do còn tầm thường hơn, như sự thiếu vắng những đền đài và kiến trúc, sự thiếu thốn chữ viết… đã buộc các nhà khảo cổ và sử gia phải bỏ cuộc; hoặc thậm chí bởi vì, như trường hợp của châu Mỹ thời trước Cristoforo Colombo*, cuối cùng cũng cần phải có những bia đá Rosetta*[4] mới đánh thức được các Champollion*[5]. Từng là kẻ mót lượm trong số các khoa học xã hội ngay từ buổi đầu, ngày nay ngành dân tộc học tin tưởng là nó đã tìm thấy, trong đống vật liệu phế thải chồng chất trước cửa các môn học khác, bộ khóa then chốt để mở ra những bí ẩn của con người. Nhưng song song với việc bắt đầu tra chìa khóa vào ổ, với tất cả sự chậm rãi và thận trọng thích hợp, nó vẫn tiếp tục làm cái nhiệm vụ khiêm tốn của mình, và chắc chắn là không ít hơn trước, là tháo dỡ và lựa lọc trong các đống phế thải vẫn được tích lũy thêm mỗi ngày ấy.

[…]

Dân tộc học đang trải qua một cuộc khủng hoảng ý thức có thể chỉ là  một thời khủng hoảng tăng trưởng. Các khoa học xã hội truyền thống (xã hội học, chính trị học, luật học, kinh tế học) dường như không thể làm gì khác hơn là xử lý những trừu tượng, dân tộc học cảm thấy ngày càng nặng trĩu trên vai các nhiệm vụ gắn liền với cái tên truyền thống của nó, là phải đơn độc và tự tay tạo ra một khoa học về con người, một nhân học (anthropo-logie). Như vậy, nhiệm vụ của dân tộc học, trước hết là quan sát và mô tả, sau đó là phân tích và phân loại, và cuối cùng là rút ra những nét thường hằng và xác lập các quy luật. Thế nhưng, tuân theo một cách tiếp cận tương tự như ở các ngành khoa học tự nhiên[6], mặc dù phải tập trung trên một thời gian ngắn hơn nhiều, nó cũng dần dần nhận thấy rằng ta không thể nào đạt được những nét không đổi nói trên ở mức độ quan sát cụ thể, rằng các khía cạnh có thể đo lường được của những hiện tượng xã hội vẫn còn cách quá xa với các khía cạnh có thể thấy được trong kinh nghiệm – một khoảng cách cũng lớn như từ những dữ liệu về địa chất học và khoáng vật học tới các kết luận của khoa vật lý hạt nhân! Sự kiện này khiến một số nhà dân tộc học nản lòng, và nỗ lực hạn chế một lĩnh vực mà sự mênh mông làm họ kinh hoảng. Thái độ của họ có thể sẽ khác đi, nếu họ  nhận thức được rằng, không hề chỉ là một khoa học xã hội và nhân văn bên cạnh rất nhiều bộ môn khác, nội dung của dân tộc học chính là mặt khoa học của mọi nghiên cứu về con người mà mỗi lĩnh vực khác chỉ là một kinh nghiệm cục bộ[7]. Những công trình của Georges Dumézil[8]* cũng cho thấy rằng lịch sử có thể mang tính cấu trúc. Vì vậy, ta không nên cố gắng hạn chế phạm vi dân tộc học, mà nên phân nhánh nó thành nhiều phân khu với chuyên môn khác nhau, như điều tra thực địa với phương pháp quan sát, và làm việc văn phòng với phương pháp phân tích – giống như khoa vật lý học của thế kỷ thứ XVII, nay đã được phân chia thành rất nhiều ngành nghiên cứu cần đến sự đóng góp của, vừa công việc phòng thí nghiệm quen thuộc với các nhà thực nghiệm, vừa những giả thuyết sâu sắc của giới lý thuyết gia vậy. Nói cách khác, dân tộc học không cần phải giảm thiểu tham vọng của mình; nhưng một cách thực hành nó lành mạnh hơn sẽ phá đổ sự phân biệt và đối lập truyền thống giữa các khoa học nhân văn với khoa học tự nhiên, bởi vì mọi khoa học đều là tự nhiên5. Sự phân biệt không hề được đặt trên sự độc lập của hai lĩnh vực, mà chỉ do sự thiếu thốn năng lực tạm thời của chúng ta nhằm xử lý những sự kiện thuộc phạm vi đầu một cách khoa học. Nếu chúng ta đạt tới khả năng xử lý các khoa học về con người một cách khoa học, sự phân biệt và đối lập truyền thống sẽ không còn nổi bật lên nữa5.

Phần đóng góp của dân tộc học vào tiến trình này là sự phát hiện ra rằng, trong trình tự của những sự kiện nhân văn, chính sự quan sát cụ thể nhất, chất lượng nhất và giới hạn nhất dường như lại có thể dẫn ta tới việc xây dựng những định luật tổng quát một cách nhanh chóng nhất – một khám phá mà các nhà dân tộc học chỉ mới dần dần ý thức được! Theo phát biểu của một nhà vật lý, dù rằng suy tư của ông là có giá trị cho mọi ngành khoa học, thì con người là một sinh vật «vi mô»[9]. Một ví dụ cho phép ta kết luận, tuy nó cũng chỉ có giá trị như một minh họa: mọi xã hội loài người đều dựa trên sự hiệp thông, dân tộc học dần dần nhận ra rằng nó cần phải nghiên cứu và học hỏi, không chỉ từ những hình thức hiện đại nhất của ngôn ngữ, như âm vị học và ngôn ngữ học cấu trúc[10], mà cả từ những công trình vật lý học và toán học về những sự kiện truyền thông[11]. Nhìn từ quan điểm này, tác phẩm mới xuất bản gần đây của nhà ngôn ngữ học vĩ đại Roman Jakobson[12], đồng sáng lập viên của Trường phái Praha với Troubetskoï, đã chứng minh một cách thuyết phục rằng, ngay từ bây giờ, các nhà ngôn ngữ học và thậm chí cả các nhà lô-gic học nữa, đều có thể cầu viện tới loại kỹ thuật của giới kỹ sư để kiểm tra một cách nghiêm ngặt các giả thuyết của họ.

Claude Levi-StraussNhìn Toàn Cảnh Về Dân Tộc Học(Panorama de l’Ethnologie,Trg : Diogène, số 2, 1953.

[1] Claude Lévi-Strauss (1908-2009), nhà nhân học, dân tộc học, triết gia người Pháp, một trong các nhân vật chính của trào lưu cấu trúc luận với ảnh hưởng rất lớn trên các khoa học nhân văn và xã hội trong nửa sau của thế kỷ XX. Ông thường được xem là «cha đẻ của khoa nhân học hiện đại» cùng với James George Frazer và Franz Boas. Tác phẩm tiêu biểu:  Les Structures élémentaires de la parenté (1949, 1967); Race et Histoire (1952); Tristes Tropiques (1955, 2005); Anthropologie structurale (1958, 2012); Le Totémisme aujourd’hui (1962); La Pensée sauvage (1962, 1990, 2014); Mythologiques (4 q., 1964-1971); Race et Culture (1971); Anthropologie structurale II (1973, 2009);  La Voie des masques, (1975, 2004); Myth and Meaning (1978); Le Regard Eloigné (1983); Paroles données (1984); La Potière jalouse (1985); Des symboles et leurs doubles (1989); Histoire de Lynx (1991); Regarder, écouter, lire (1993); Le Père Noël supplicié (1952, 1996); L’Anthropologie face aux problèmes du monde moderne (2011); L’autre face de la lune (2011); Nous sommes tous des cannibales (2013). NVK

[2] Trường Đông Phương Và Phi Châu Học (SOAS) thuộc Đại học Luân Đôn ra đời năm 1916 dưới tên là Trường Đông Phương Học (School of Oriental Studies), chỉ từ năm 1938 mới mang tên mới như hiện nay. Đây là một trong các trung tâm đào tạo chuyên gia danh tiếng nhất về Á châu, Phi châu và Trung Đông. NVK

[3] Dữ Liệu Về Khu Vực Quan Hệ Con Người (Human Relations Area Files – HRAF,  New Haven, Connecticut) là một tập đoàn quốc tế phi lợi nhuận có trên 300 hội viên tại Hoa Kỳ và ở hơn 20 quốc gia khác. Một cơ quan nghiên cứu tự trị về tài chính được đặt tại Đại học Yale từ năm 1949, với sứ mệnh là khuyến khích và tạo điều kiện cho những công trình nghiên cứu so sánh trên toàn thế giới về văn hoá, xã hội và hành vi của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Nó theo đuổi nhiệm vụ này chủ yếu bằng cách tạo ra và phân bố hai cơ sở dữ liệu toàn văn trên mạng,  là  eHRAF Văn Hóa Thế Giới (tên trước: Bộ Sưu Tập Dân Tộc Học của eHRAF) và eHRAF Khảo Cổ Học (tên trước: Bộ Sưu Tập Khảo Cổ Học của eHRAF). HRAF còn đỡ đầu và xuất bản tam cá nguyệt san Nghiên Cứu Xuyên Văn Hóa: Tạp Chí Khoa Học Xã Hội So Sánh (Cross-Cultural Research: The Journal of Comparative Social Science), đồng thời sưu tập và xuất bản các tập bách khoa toàn thư của tập hợp. NVK

[4] Rosetta là tên gọi tiếng Anh của thành phố Rashid ở châu thổ sông Nile. Phiến đá Rosetta (Rosetta Stone, là một tấm bia Ai Cập cổ đại làm bằng đá granodiorit, trên có khắc một sắc lệnh của vua Ptolemaios V ban hành tại Memphis năm 196 tCn. Sắc lệnh này được viết bằng ba loại chữ: trên cùng là chữ tượng hình Ai Cập Cổ đại, ở giữa là ký tự demotic (giản thể của chữ tượng hình Ai Cập) và dưới cùng là tiếng Hy Lạp cổ đại. Do phiến đá trình bày cùng một văn bản với cả ba hệ chữ viết, nó đã cung cấp cho khoa học hiện đại chiếc chìa khóa vô giá trong việc giải mã chữ tượng hình Ai Cập. NVK

[5] Jean-François Champollion (1790-1832), còn gọi là Champollion Trẻ, là nhà ngữ văn học và Đông phương học Pháp. Ông được xem là người đầu tiên đã giải mã được chữ tượng hình Ai Cập, và là người đã khai sinh ra ngành Ai Cập học. NVK 

[6] Khẳng định này xác nhận là ngay cả trong thập niên 1950, giới khoa học nhân văn và xã hội ở Pháp vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa thực chứng kiểu Auguste Comte, và vẫn chưa tiếp cận đúng mức cuộc cách mạng về phương pháp đã nổ ra ở Đức (với Dilthey, Weber,…). NVK

[7] Xem: Cyril Daryll Forde, «Khả Năng Hợp Nhất Của Nghiên Cứu Nhân Học = The Integration Of Anthropological Studies», trg : Chuyên san của Viện Nhân Học Hoàng Gia (Anh) = Journal of the Royal Anthropological Institute, t. LXXIII, phần 1-2, 1948 [1951]). LS. Cyril Daryll Forde (1902-1973) là nhà nhân học và Phi châu học người Anh. Tác phẩm tiêu biểu: Habitat, economy and society (1934); African Worlds: Studies in the Cosmological Ideas aAfrican Peoples (1954); Yako Studies (1964). NVK

[8] Georges Dumézil, Di Sản của Nền Văn Minh Ấn-Âu tại Rô-ma = L’Héritage indo-européen à Rome, Paris, 1949. Georges Dumézil (1898-1986) : nhà ngôn ngữ, dân tộc học, huyền thoại và tôn giáo sử học người Pháp. Tác phẩm tiêu biểu : Mythes et dieux des Germains (1939); Jupiter Mars Quirinus (4 q., 1941-1948); Les Mythes romains (1942-1947); Les Dieux indo-européens (1952); Mythe et Épopée (3 q. 1968-1973); Les Dieux souverains des Indo-Européens (1977); Mariages indo-européens (1979); L’Oubli de l’homme et l’honneur des dieux (1985); Le Roman des jumeaux (1994). NVK

[9] Xem: Pierre Auger, Con Người Vi Mô = L’homme microscopique, Paris, 1952. LS. Pierre Victor Auger (1899-1993) : nhà vật lý học Pháp làm việc trong các lĩnh vực vật lý nguyên tử, hạt nhân và tia vũ trụ. NVK

[10] Về điểm này, chỉ cần kể ra ở đây: bản dịch tiếng Pháp quyển Những Nguyên Lý Âm Vị Học (Gründzuge der Phonologie) của Nikolaï Sergueïevitch Troubetskoï, (1949, với những bổ sung quan trọng của Roman Jakobson) ; Tên Tác Nhân và Tên Hành Động trong Ngôn Ngữ Ấn-Âu (Noms d’Agent et Noms d’Action en Indo-Européen, 1948) của Émile Benveniste; Phương Pháp Ngôn Ngữ Học Cấu Trúc (Methods in Structural Linguistics, University of Chicago Press, 1951) của Zellig Sabbettai Harris.

[11] John von Neumann và Oskar Morgenstern, Lý Thuyết Trò Chơi và Hành Vi Kinh Tế (Theory of Games and Economic Behavior, Princeton, 1944); Norbert  Wiener, Điều Khiển Học (Cybernetics, Paris, New York, 1948); Claude Elwood Shannon và Warren Weaver, Lý Thuyết Toán Học của Truyền Thông (The Mathematical Theory of Communication, University of Illinois, 1949); và cuối cùng, Hội Nghị Chuyên Đề về Điều Khiển Học (Colloque sur la Cybernétique, Paris, 1951) do Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học tổ chức, dưới sự chủ trì của ông Louis de Broglie.  

[12] Xem: Roman Jakobson, Nghiên Cứu Sơ Bộ về Phân Tích Lời Nói (Preliminaries to Speech Analysis, Massachusetts Institute of Technology, 1952, Technical Report 13). LS. Roman Osipovich Jakobson (1896-1982) nhà ngôn ngữ học Nga, người đã đặt các viên đá đầu tiên cho sự phát triển của phân tích cấu trúc trong ngôn ngữ, thơ văn và nghệ thuật. Tác phẩm tiêu biểu: Remarques sur l’evolution phonologique du russe comparée à celle des autres langues slaves (1929); Child Language, Aphasia and Phonological Universals (1941); On Linguistic Aspects of Translation (1959); Selected Writings (6 q., 1971–1985); Questions de poétique (1973); Six Lectures of Sound and Meaning (1978); The Framework of Language (1980); Fundamentals of Language (1956);  Verbal Art, Verbal Sign, Verbal Time (1985); Language in Literature (1987). NVK

Một Lần Đến Với Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam

Cặp vợ chồng cùng người thân đưa nhau ra phố đi bộ Nguyễn Huệ (Q.1, chúng tôi xem bắn pháo hoa nhưng cả gia đình được đêm giao thừa “nhớ đời” vì đông đúc, chen lấn đã để tuột mất tay con gái 5 tuổi.

3 giờ sáng Tết dương lịch 2021, phố đi bộ Bùi Viện vẫn chưa ngưng tiếng nhạc, tiếng nói cười sôi nổi của những vị khách Tây, người nước ngoài còn ở lại VN trong năm Covid 2020 vừa rồi.

Tối chủ nhật (27.12) tổng thống Trump ký thành luật gói cứu trợ thứ 2 (trị giá 900 tỉ USD) giúp cho người Mỹ vơi bớt gánh nặng của cơn đại dịch COVID 19.

Ngày đầu năm 2021, dân mạng chia sẻ câu chuyện một nữ y tá ngất xỉu ngay thời khắc chuyển giao năm cũ – năm mới vì kiệt sức, làm việc liên tục trong khu cách ly phòng chống Covid-19.

Đón chào năm mới 2021, người Sài Gòn đổ ra đường thưởng thức các màn trình diễn pháo hoa tuyệt đẹp, cùng nguyện cầu một năm mới rực rỡ, xua tan bóng đen Covid-19

Một sản phụ chuyển dạ khi tàu đang đi từ biển vào đất liền đã may mắn được 2 bác sĩ pháp y thuộc Công an tỉnh Kiên Giang đở đẻ thành công.

Xem xổ số hôm nay, (KQXS) xổ số miền Bắc (XSMB), xổ số miền Nam (XSMN), xổ số miền Trung (XSMT), xổ số điện toán trực tiếp nhanh hôm nay thứ Bảy 2.1.2021. KQXS chúng tôi KQXS Long An, KQXS Bình Phước, KQXS Hậu Giang…

Ra huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), khách có thể say sóng nếu không quen sông nước bềnh bồng. Nhưng cái say này sẽ nhanh chóng “hóa giải” nếu được thưởng thức món gỏi tỏi ngon từ “lõi” ngon ra.

Nhân viên phát cơm tại khu cách ly tranh thủ ngồi đu đưa thư giãn trên xích đu trong ngày đầu năm 2021 được nhiều cư dân mạng thả tim…

Dải đất miền Trung ngày mưa bão triền miên, đối với PV Thanh Niên chi viện tác nghiệp tại các điểm nóng là những kỷ niệm nghề khó quên. Ở đó có sự dấn thân, nỗi sợ hãi và tình cảm khó nói hết bằng lời…

Chỉ vì ăn miếng pate chay nhỏ, mà chị Nguyễn Thị Thùy (20 tuổi, ngụ TT.Hiệp Phước, H.Nhơn Trạch, Đồng Nai) phải trải qua một trận thập tử nhất sinh, kinh tế kiệt quệ vì phải trả viện phí.

Mỗi hộ 30 triệu đồng, nguồn kinh phí của bạn đọc Báo Thanh Niên hỗ trợ đã tạo động lực giúp nhiều hộ vươn lên làm được ngôi nhà trước đây chỉ có trong giấc mơ!

Học Bổng Csc Hệ Cử Nhân Trường Đh Dân Tộc Trung Ương Bắc Kinh

Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa được công nhận là hai trường đại học nổi tiếng nhất ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Nhưng đối với các bạn học sinh Việt Nam muốn đến Bắc Kinh du học, sự lựa chọn không chỉ có hai trường đại học này. Bắc Kinh là Thủ đô của Trung Quốc, tập trung rất nhiều trường đại học nổi tiếng Trung Quốc. Hiện tại có hơn 1000 lưu học sinh Việt Nam đang theo học tại các trường đại học ở Bắc Kinh, trong đó có 36 lưu học sinh Việt Nam đang theo học tại Đại học Dân tộc Trung ương ở Bắc Kinh. Cựu học sinh của Tổ chức giáo dục Vinahure Nguyễn Quỳnh Anh có những chia sẻ sau khi tốt nghiệp đại học.

1. Trường có ký túc xá lưu học sinh “xa hoa”

Thật không ngoa khi nói rằng ký túc xá lưu học sinh trường Dân tộc Trung ương thuộc hàng “xịn” nhất Bắc Kinh khiến nhiều bạn trường khác phải ngưỡng mộ và có chút ghen tị, thậm chí có nhiều bạn còn không ngần ngại cho biết đăng ký học ở trường này vì “ký túc xá quá tuyệt”. Khu ký túc xá dành cho lưu học sinh nằm đối diện cổng Tây của trường, nơi có con phố ăn uống nổi tiếng nhộn nhịp ngày đêm với đủ các loại đồ ăn Tây Tàu.

Các phòng trong khu ký túc xá lưu học sinh có kết cấu giống như một căn hộ chung cư đích thực với thiết kế thông thoáng bao gồm phòng ngủ, phòng khách, phòng bếp và nhà tắm, vệ sinh, cùng với đó là máy điều hòa, tivi, máy giặt, tủ lạnh, hệ thống sưởi đều được trang bị đầy đủ. Lưu học sinh trường chúng tớ được sắp xếp ở theo tiêu chuẩn tiến sĩ ở 2 người 1 căn hộ một phòng khách một phòng ngủ, thạc sĩ ở 3 người trong căn hộ hai phòng ngủ một phòng khách. Có thể nói nhà trường đã tạo điều kiện quá tốt cho lưu học sinh chúng tớ về mặt đời sống sinh hoạt.

2. Trường có nhà ăn sinh viên thuộc hàng top ở Bắc Kinh

Nhà ăn sinh viên trường tớ được mệnh danh là một trong 10 nhà ăn sinh viên ngon nhất ở Bắc Kinh đấy. Trong giới sinh viên Bắc Kinh có câu truyền miệng là “học ở Thanh Hoa, chơi ở Bắc Đại, yêu ở Nhân Dân, ăn ở Dân tộc”. Mặc dù chỉ có 4 nhà ăn sinh viên nhưng với đặc điểm sinh viên đa dạng về dân tộc và văn hóa nên cũng vì thế mà các món ăn cực kì phong phú và đặc sắc. Đặc biệt là nhà ăn “Phong Vị”, có thể nói là chỉ cần đến đây bạn có thể thưởng thức hầu như tất cả văn hoá ẩm thực của Trung Quốc với các món ăn đến từ 14 địa phương: Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Ôn Châu, Quảng Tây, Bắc Kinh, Trùng Khánh, Tây Bắc, Quảng Châu, Quế Lâm, Thượng Hải, Vân Nam, Triều Tiên, Dương Châu, Nhật Bản tha hồ cho bạn lựa chọn. Ngoài ra còn có nhà ăn “Thanh Chân” (nhà ăn không có thịt heo) dành riêng cho các bạn theo đạo Hồi.

Nếu như không có đủ thời gian để đi khắp Trung Quốc và thưởng thức hết ẩm thực phong phú của đất nước xinh đẹp này, thì bạn cũng có thể đến và khám phá “những nhà ăn mang đậm nét văn hoá vùng miền” của trường chúng tớ.

Nhà ăn Đại học Dân tộc Trung ương và các món ăn đặc sắc3. Trường ở gần Thư viện Quốc gia nhất

Nếu tìm đường tới trường chúng tớ có lẽ cách dễ dàng nhất là định vị Thư viện Quốc gia Trung Quốc, vì trường chúng tớ chính là “hàng xóm” của Thư viện Quốc gia Trung Quốc nổi tiếng quy mô hoành tráng và hiện đại này. Ở sát bên kho kiến thức và tài liệu lớn nhất Trung Quốc, chỉ cách vài bước là chúng tớ đã có thể kiếm được cho mình một chỗ ngồi yên tĩnh và lý tưởng để đọc sách và học tập, trong khi những bạn ở trường khác lại phải mất khá nhiều thời gian cho công việc di chuyển. Không gian học tập ở đây thì khỏi chê. Cứ tưởng tượng mỗi khi mùa đông đến, được ngồi giữa không gian yên tĩnh của thư viện, ngắm nhìn khung cảnh ngoài cửa sổ và đọc một cuốn sách mà mình yêu thích thì còn gì bằng.

Thư viện Quốc gia Trung Quốc 4. 1001 câu chuyện ít ai biết về trường

Không chỉ là ngôi trường có cảnh quan “đẹp lung linh” như trong phim Hàn Quốc, hay có nhiều món ăn ngon nổi tiếng, Dân tộc Trung ương còn là ngôi trường có nhiều câu chuyện thú vị ít người biết.

Trường Dân tộc Trung ương chỉ dạy về dân tộc và múa?

Đương nhiên là không phải như thế. Mặc dù khoa múa trường chúng tớ rất nổi tiếng và các ngành về dân tộc là thế mạnh, nhưng ngoài ra, ngành học của trường cũng rất đa dạng và phong phú từ ngôn ngữ đến kinh tế, từ nhân loại học đến lịch sử, báo chí truyền thông…

Phong cảnh trong Trường Đại học Dân tộc Trung ương

Trường của chúng tớ tuy nhỏ bé nhưng không hề “lép vế” trước bất cứ trường nào, dù nhỏ nhưng vẫn đẹp đến “ngẩn ngơ”, nhỏ nhưng vẫn “độc đáo” và “dễ thương” đến lạ. Chúng tớ từ khi bước chân vào ngôi trường này vẫn luôn tự hào khi mình là một trong những thành viên được học tập ở đây. Và nếu như có một cơ hội thứ hai được lựa chọn, tớ vẫn mong muốn mình sẽ là một phần của mái trường kính yêu này.

Ưu đãi

Miễn 100% học phí,

Miễn 100% kí túc xá

Hỗ trợ sinh hoạt phí mỗi tháng 2500 tệ

Điều kiện đăng kí

Ứng viên 18 tuổi trở lên

Sức khỏe tốt ( không mắc các bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV)

Tốt nghiệp THPT trở lên

Hồ sơ cần chuẩn bị

Bằng và bảng điểm cao nhất

Hộ chiếu

Ảnh 4×6 nền trắng

HN: 024.328.28888 / 08.4488.0000

Địa chỉ văn phòng Hà Nội: 176 đường Láng, p.Thịnh Quang, quận Đống Đa, Hà Nội

Địa chỉ văn phòng Hồ Chí Minh: Phòng 301, số 344 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 2, Quận Tân Bình

Địa chỉ văn phòng Đà Nẵng: Tầng 10 Vĩnh Trung Plaza, số 255-257 Ông Ích Khiêm, Quận Thanh Khê, Đà Nẵng

Học Viện An Ninh Nhân Dân

Học viện An ninh nhân dân (tiền thân là Trường Huấn luyện Công an) được thành lập ngày 25 tháng 6 năm 1946 theo Nghị định số 215/NĐ-P2 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Trải qua các giai đoạn cách mạng khác nhau, Trường lần lượt mang các tên gọi: Trường Huấn luyện Công an (1946-1949), Trường Công an trung cấp (1949-1953), Trường Công an Trung ương(1953-1974), Trường Sỹ quan an ninh (1974-1981), Trường Đại học An ninh nhân dân (1981-2001) và từ năm 2001 đến nay là Học viện An ninh nhân dân. Mang nhiều tên gọi khác nhau, song một cái tên đã trở thành danh tiếng, khắc sâu trong tâm trí của các thế hệ cán bộ, giảng viên và học viên – Trường C500.

Trải qua 70 năm xây dựng và phát triển, từ một trường huấn luyện công an, đào tạo nghề, đến nay Học viện An ninh nhân dân trở thành một trong những trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học lớn của cả nước, là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an và đang phấn đấu phát triển thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của Quốc gia.

Từ khi thành lập đến nay, Nhà trường đã đào tạo hàng ngàn cán bộ công an tham gia kháng chiến thời kỳ chống Pháp; đào tạo hàng vạn cán bộ công an chi viện cho chiến trường B, C, K; là đơn vị chủ lực đào tạo cán bộ công an tham gia chiến đấu bảo vệ miền Bắc XHCN trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ an ninh quốc gia trong thời kỳ đất nước thống nhất, đổi mới và hội nhập quốc tế. Ngoài đào tạo cho ngành Công an, Học viện cũng đã đào tạo hàng ngàn cán bộ có trình độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sĩ cho lực lượng an ninh quân đội, bộ đội biên phòng, lưu học sinh, cán bộ cao cấp Lào, Campuchia…

Hiện nay, Học viện An ninh nhân dân đang đào tạo các trình độ: đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và bồi dưỡng nâng cao. Trong đó, đ ào tạo đại học theo các ngành : Điều tra trinh sát, Điều tra hình sự, Công nghệ t h ông tin, Truyền thông và mạng máy tính, Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Trung Q uốc, Luật (chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự ); Văn bằng 2 XDĐ&CQNN, ngoài ra, Học viện còn đào tạo hệ dân sự các ngành : Luật, Công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu của xã hội; tổng quy mô đào tạo hiện tại của Học viện là trên 1 2.000 học viên.

Đ ào tạo sau đại học, hiện tại Học viện đang đào tạo trình độ thạc sĩ ở 03 chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm; Điều tra trinh sát; Quản lý nhà nước về an ninh trật tự; đào tạo trình độ tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm. Học viện là trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu có uy tín của ngành Công an với 0 7 nhà giáo Nhân dân, 36 nhà giáo Ưu tú, 11 Giáo sư, 51 Phó Giáo sư, 101 Tiến sĩ và 302 Thạc sĩ . Đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện đã nghiên cứu hàng ngàn công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Cơ sở và hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu dạy học ở các trình độ. Với đội ngũ hiện có, Học viện ANND là một trong nh ữ ng đ ơ n vị dẫn đầu về nguồn nhân lực chất lưọng cao trong hệ thống giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học của ngành Công an.

Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Học viện là cơ sở đào tạo trọng điểm về an toàn, an ninh thông tin theo Đề án được phê duyệt tại Quyết định số 99/QĐ-TTg. Học viện cũng là thành viên thứ 53 của Hiệp hội các trường đào tạo cảnh sát quốc tế (INTERPA).

Ngày 2 9 /6/2015, nhân kỷ niệm 69 năm ngày truyền thống của Nhà trường, Bộ trưởng Bộ Công an đã trao Quyết định số 3969/QĐ-BCA-X11 c ô ng nhận Học viện ANND là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an và Học viện đang phấn đấu đến năm 2020 trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của Quốc gia theo Đề án thành phần số 2 thuộc Đề án 1229.

Các phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước tặng

Học viện An ninh nhân dân

Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Trường đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương, danh hiệu cao quý:

– Năm 1985, Huân chương Quân công hạng Nhì;

– Năm 1989, Huân chương Độc lập hạng Nhì;

– Năm 1998, Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHDCND Lào;

– Năm 2001, Danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời ; Huân chương Chiến công hạngBa; Huân chương Lao động kỳ đổi mới” hạng Ba;

– Năm 2005, Huân chương Hữu nghị c ủ a nước CHDCND Lào;

– Năm 2010, Huân chương Lao động hạng Ba;

– Năm 2016, nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống của Học viện ( 25/6/1946 – 25/6/2016), Trường vinh dự được tặng thư ở ng Huân chương Quân công hạng Nhất .

Hợp tác đào tạo

Trong 70 năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng, Học viện An ninh nhân dân đã khẳng định chất lượng đào tạo và thương hiệu của mình. Trường đã tổ chức đào tạo liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước:

– Hợp tác đào tạo với các trường Đại học trong nước: Học viện Quân y 103, Cục bảo vệ An ninh Quân đội, Đoàn 871 – Bộ Quốc Phòng, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Học viện Kỹ thuật Mật mã, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Biên phòng, Trường Hải quan Việt Nam.

– Hợp tác đào tạo với các trường Đại học nước ngoài, các tổ chức Quốc tế: Liên Bang Nga, Học viện Bộ Nội vụ Bungari, Lào, Vương quốc Campuchia, hiệp hội InterPa, Trung Quốc.

Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất hiện tại (cơ sở 1 thuộc Phường Văn Quán, Quận Hà Đông, Hà Nội): Tổng diện tích mặt là gần 14ha với hệ thống các giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, khu giáo dục thể chất, ký túc xá…; các trang thiết bị nghiên cứu và giảng dạy hiện đại, đồng bộ phù hợp với chương trình đào tạo Học viện đang áp dụng, cụ thể: hơn 50 giảng đường, phòng đào tạo từ xa, sân vận động, bể bơi… Thư viện hiện đại với hơn 17.000 đầu sách, cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng thông tin trang bị đồng bộ, có hệ thống phòng đọc, phòng tra cứu Internet. Hệ thống thư viện điện tử với hơn 3.000 đầu sách tài liệu điện tử, nhiều cơ sở dữ liệu giáo trình,tài liệu, máy chủ và máy trạm khai thác dữ liệu trực tuyến trên Internet.

Định hướng phát triển

Trên cơ sở đã được công nhận là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an, Học viện ANND đang tiếp tục phấn đấu để xây dựng Học viện thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia vào năm 2020 với các định hướng phát triển cơ bản sau: Học viện ANND là cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với các ngành đào tạo mũi nhọn là Điều tra trinh sát, Điều tra hình sự, Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, Luật hình sự, Tham mưu, chỉ huy bảo vệ an ninh trật tự; đào tạo cán bộ tham mưu, nghiên cứu phát triển các ngành Điều tra trinh sát, Điều tra hình sự, Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, Chiến lược, Nghệ thuật bảo vệ an ninh trật tự; quy mô đào tạo 11.500 sinh viên, dự trữ phát triển đến năm 2030 là 14.000 sinh viên ; đào tạo hệ dân sự phục vụ công tác bảo vệ an ninh trật tự và đáp ứng nhu cầu xã hội các ngành Luật, Công nghệ thông tin, Giáo dục Quốc phòng – An ninh, ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Trung Quốc…

Học viện là trung tâm nghiên cứu khoa học có chất lượng cao, có uy tín trong ngành Công an và trong phạm vi quốc gia; có đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học đủ tiềm lực để giải quyết có hiệu quả và tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Công an các vấn đề về bảo vệ ANQG, giữ gìn trật tự an toàn xã hội ở tầm chiến lược và sách lược.

Cơ cấu tổ chức bộ máy đồng bộ, hiệu quả theo mô hình trường trọng điểm quốc gia; phấn đấu đội ngũ giảng viên đủ về số lượng theo theo tỷ lệ trung bình 1 giảng viên/ 15 sinh viên; đạt chuẩn về chất lượng theo tỷ lệ 40% giảng viên có trình độ tiến sĩ và 55% có trình độ thạc sĩ; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có 35% đạt trình độ ti ế n sĩ và 60% thạc sĩ.

Thực hiện các mục tiêu trên, Học viện An ninh nhân dân đang tích cực đổi mới nội dung chương trình đào tạo, phát triển ngành nghề, tích cực đầu tư cơ sở vật chất tiên tiến, hiện đại để sớm xây dựng Học viện trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của Ngành, tiến tới trở thành trường trọng điểm quốc gia vào năm 2020; xứng đáng là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu của ngành Công an, có uy tín và danh tiếng trong xã hội, ngang tầm với các trường tiên tiến trong khu vực.

Học viện An ninh nhân dân được tổ chức từ 4 bộ môn, 10 khoa và 3 trung tâm:

Bộ môn Lí luận Chính trị, Khoa học Xã hội và Nhân văn

Bộ môn Tâm lý

Bộ môn Nghiệp vụ cơ sở

Bộ môn Quân sự võ thuật, Thể dục thể thao

Khoa Nghiệp vụ 2

Khoa Nghiệp vụ 3

Khoa Nghiệp vụ 4

Khoa Nghiệp vụ 5

Khoa Nghiệp vụ 6

Khoa Nghiệp vụ 7

Khoa Luật

Khoa Xây dựng Đảng & Chính quyền nhà nước

Khoa Ngoại ngữ

Khoa Công nghệ & An ninh thông tin

Trung tâm Ngoại ngữ – Tin học

Trung tâm Dạy nghề & Đào tạo lái xe

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dân Tộc Học Như Một Chủ Nghĩa Nhân Bản Mới (C. Lévi trên website Maytinhlongthanh.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!